Trăng Sáng Ngàn Vạn Dặm – Tung Hổ Khứu Hoa

Chương 2


Chiếc xe đạp của Minh Nguyệt cứ bị tuột xích mãi.


Cô bé vừa đạp đến dưới gốc cây du thì xích lại tuột. Chú Bát Đẩu đi ngang qua, đến giúp cô bé sửa xe. 


Chú Bát Đẩu đã ba mươi tuổi, chưa lấy vợ, cũng không đi làm công nhân, điều này rất hiếm ở làng Tử Hư. Chú ấy không giống những người khác, chú làm thơ, nghiên cứu thư pháp, toàn làm những chuyện kỳ quặc. 


Người cùng tuổi với chú, ai mà chẳng đi làm công nhân? Chỉ có chú ấy quanh năm cứ lảng vảng chỗ này chỗ kia, quen biết hết mọi người, nhà ai cần giúp đỡ chú đều tới. Mọi người nói trước mặt chú rất hay, nhưng sau lưng thì bảo chú là đồ ngốc.


Làng nào mà chẳng có một người ngốc?


Chú Bát Đẩu còn thích đi giảng hòa, nhà nào cãi nhau vì chuyện vặt vãnh, chú ấy lúc nào cũng ngậm điếu thuốc, mở miệng là: “Cho tôi chút thể diện…” Liệu có ai cho chú cái thể diện đó không? Khó mà nói được.


Hồi Minh Nguyệt học tiểu học, chú Bát Đẩu từng chặn cô bé lại, nhất quyết không cho đi, bắt mấy đứa nhỏ nghe chú đọc thơ. Chú hỏi mấy đứa nhỏ có hay không, chúng nó bịt miệng cười, sợ quá rồi chạy mất.


Kìa, sáng sớm tinh mơ, chú Bát Đẩu lại kẹp sách dưới nách, tay hút thuốc, không biết lượn lờ đâu qua đây.


“Cô nhóc, ăn cơm chưa? Đi đâu đấy?”


Minh Nguyệt nói: “Ăn rồi ạ, cháu định đi Lễ Đường.”


Chú Bát Đẩu dụi đầu thuốc lá xuống đất hai cái, đưa cuốn sách cho Minh Nguyệt, rồi ngồi xổm xuống loay hoay với cái xích xe. Cuốn sách được bọc bằng giấy báo cũ, trông bẩn thỉu. Minh Nguyệt đứng dưới gốc cây du nhìn chú sửa xe.


Cái đầu chú Bát Đẩu trông giống hệt con gà mái già, tóc bù xù. Chú còn để râu, trông rất buồn cười, cổ áo sơ mi trắng bóng loáng dầu mỡ, cũng chẳng biết có giặt giũ gì không… Nhà chú chỉ còn mỗi mẹ già. Lẽ ra chú còn có một người anh trai, nghe nói là một người hiền lành, chăm chỉ. Nhưng vào một buổi chiều hè năm nọ, không hiểu vì chuyện gì, bố chú đã đánh mẹ chú một trận rất dữ dội. Đánh xong thì thôi, ai làm việc nấy. Bố chú nằm trên chiếu ngủ trưa. Người anh cả vốn đã ra ngoài, nhưng lại quay về, dùng rìu chém chết bố mình.


Chuyện cũ mười mấy năm này, một đứa bé tuổi Minh Nguyệt không thể biết, nhưng cũng từng nghe phong thanh. Anh trai chú Bát Đẩu đi tù, chú ấy ở lại sống với mẹ già. Lúc đó chú mới mười mấy tuổi.


Người dân làng Tử Hư vẫn thường nói, cậu thanh niên đó rất tốt, thật kinh khủng, không ngờ lại làm ra chuyện như vậy.


Ban đầu, mọi người sợ hãi không dám qua lại với nhà chú Bát Đẩu. Dần dần họ quên đi chuyện đó, lại giao tiếp bình thường.


Thực ra Minh Nguyệt cũng hơi sợ chú Bát Đẩu, chú ấy khác biệt với mọi người. Mà con người ta, một khi khác biệt với những người xung quanh sẽ vô cớ khiến người khác sợ hãi. Nhưng chú Bát Đẩu là người rất nhiệt tình. Hồi ông nội còn sống, chú ấy thỉnh thoảng lại đến nhà uống rượu với ông. Chú còn tặng Minh Nguyệt một cuốn từ điển, không biết kiếm ở đâu ra.


“Xong rồi!” Tay chú Bát Đẩu dính đầy dầu, chú chỉ quẹt chúng lên thân cây du lớn.


Minh Nguyệt đưa lại cuốn sách: “Chú Bát Đẩu, chú chăm học thật đấy.”


Chú Bát Đẩu nói với giọng trịnh trọng, còn nhắc đến chuyện chú từng đỗ đại học nhưng bị người khác mạo danh học thay. Chuyện này người làng Tử Hư ai cũng nghe qua. Minh Nguyệt hỏi bà, Dương Kim Phượng bảo chú ấy nói phét đấy, là do chú ấy bị hoang tưởng mà ra. 


Minh Nguyệt cũng thích tưởng tượng, cô bé cứ cô đơn là lại thích tưởng tượng, tự đưa mình vào một thế giới khác để tìm kiếm vui vẻ. Lời của Dương Kim Phượng khiến cô bé giật mình không ít, may mắn là những chuyện cô bé tưởng tượng chưa bao giờ kể cho người khác nghe.


“Cô nhóc, cháu có biết Vương Tiểu Ba không?” Chú Bát Đẩu hỏi cô bé.


Minh Nguyệt suy nghĩ một chút: “Người thôn Vương Trại ạ?”


Ở đây chỉ có thôn Vương Trại là có nhiều người họ Vương nhất.


Chú Bát Đẩu cười ha hả, Minh Nguyệt nói: “Hay là người Hậu Khê?”


Hậu Khê cũng có vài nhà họ Vương.


Chú Bát Đẩu cười càng giống gà mái già hơn, tóc tai dựng ngược, đen nhẻm.


Minh Nguyệt không đoán ra được là ở đâu nữa.


“Vương Tiểu Ba là một nhà văn lớn!” Chú Bát Đẩu lại rút ra một điếu thuốc. Chú châm lửa hút thuốc, vẻ mặt ngây ngất, cứ như thể chú chính là Vương Tiểu Ba vậy.


Nhà văn đầu tiên Minh Nguyệt tiếp xúc là trên tivi, tivi chiếu phim kiếm hiệp, phụ đề có ghi: “Nguyên tác Kim Dung”. Hồi bé cô bé cứ nghĩ Kim Dung nhất định là một nhà văn vĩ đại thời xưa, sau này mới biết Kim Dung vẫn còn sống.


“Vương Tiểu Ba còn sống không ạ?” Minh Nguyệt thấy thật kỳ lạ, nhà văn lớn tên là Vương Tiểu Ba giống như người thôn Vương Trại.


Chú Bát Đẩu nói: “Mất rồi, nhưng tinh thần của ông ấy sẽ sống mãi, con người sống là phải có tinh thần của riêng mình.”


Minh Nguyệt cười. Chú Bát Đẩu là thế đấy, chú luôn nói những điều mà người khác không nói, cũng không hiểu. Minh Nguyệt không biết phải đáp lại thế nào, cô bé không quen Vương Tiểu Ba, tinh thần của ông ấy thì không thể lĩnh hội được. Thế nhưng, chú Bát Đẩu vừa sửa xe cho cô bé, cô bé cảm thấy nếu không khen chú một câu thì thật có lỗi.


“Chú Bát Đẩu, chú đúng là có văn hóa thật. Câu đối chú viết cho nhà chú Phùng lúc nãy cháu đi ngang qua vẫn còn thấy đó!”


Nói xong, cô bé vội vàng lên xe đạp đi. Cô bé sợ chú Bát Đẩu lại nói thêm những điều mình không hiểu nữa, như thế thì tệ lắm. Cô bé không thể đáp lời, giống như chính bản thân cô bé cũng thường xuyên rơi vào tình huống khó khăn này, không có ai lắng nghe mình nói, linh hồn sẽ dần dần ngủ quên đi. 


Cô bé chợt thấy tội nghiệp chú Bát Đẩu, không ai muốn nghe chú nói về Vương Tiểu Ba. Cô bé và chú Bát Đẩu giống nhau mà, tại sao cô bé lại không muốn nghe chú nói đây?


Cô bé không quen Vương Tiểu Ba, nếu nói không đúng, có lẽ chú Bát Đẩu sẽ còn cô độc hơn.


Trời nắng đẹp thế này, những người không đi làm công nhân thì bận rộn với việc đồng áng. Người trẻ thì ít. Trên cánh đồng, chim chóc bay lên rồi lại đáp xuống, màu xanh được gió đẩy lại gần lại rồi lại kéo ra xa. Minh Nguyệt đạp xe nhanh như bay.


Lễ Đường rất nhộn nhịp, cứ đến mùa xuân là ngày nào cũng như đi chợ vậy, nơi đó chỉ cách thôn Tử Hư khoảng tám chín dặm nhưng đã hoàn toàn khác biệt. Bên đường, mấy bà chủ farmstay đứng ở cửa chặn xe, hỏi những người lái ô tô có muốn ăn gà, ăn ngỗng không.


Người Lễ Đường giỏi làm ăn. Nước suối lão trong thung lũng được đóng chai bán cho người thành phố ăn uống với giá một đồng một chai. Công việc này chỉ dành riêng cho người Lễ Đường, suối là của họ, bán đồ lặt vặt cũng chỉ người Lễ Đường mới được bán. Minh Nguyệt là trẻ con, cũng bị người ta xua đuổi. Cô bé mặt dày, người ta mà quát lớn, cô bé giả vờ không nghe thấy, chầm chậm đi sang một bên, lát sau lại lén lút quay lại.


Cuối tuần người rất đông, đông đến nỗi cô bé cảm thấy thế giới này như bị nhét đầy thêm một người là mình. Những người bán hàng cũng ngày càng nhiều, ai cũng muốn kiếm tiền.


Hoa dại nở rộ trong thung lũng, không ai ngó ngàng, không ai chăm sóc, nở rộ đến quên trời đất. Minh Nguyệt không bán được cái chuông gió nào, người ta bảo hơi quê mùa. Cái tháp nhỏ cô bé chạm khắc bán mười đồng thì bị chê đắt quá. Chẳng làm ăn được gì cả, thật là chán nản!


Minh Nguyệt ôm chiếc túi vải hoa đi sâu hơn vào trong.


Mặt trời chiếu một vệt sáng xuống thung lũng, nửa sáng nửa tối. Gió xuân trở nên se lạnh, lùa qua những thảm cỏ dày và những đoá hoa rực rỡ. 


Mắt người ta nhìn thấy ngọn núi xanh, dòng nước biếc như thế, lòng cũng khoan khoái hơn. Minh Nguyệt hái rất nhiều hoa, khoanh chân ngồi xuống bện vòng hoa. Cô bé rất khéo tay, hẳn là thừa hưởng từ Lý Vạn Niên. Lý Vạn Niên có thể tự làm mọi thứ đồ dùng, lại càng không cần nói đến việc ông có thể biến hóa ra đủ loại đồ chơi nhỏ cho đám trẻ con như làm ảo thuật.


Chỉ có hoa thì không đủ, phải có cả cành liễu nữa. Ánh nắng chiếu lên người thật ấm áp, mùa xuân là như thế đấy, ngày càng thú vị hơn. Minh Nguyệt vừa ngân nga hát vừa ngồi dưới bức tường lở dang bện được ba cái vòng hoa.


Phía sau có người đi tới, tiếng cỏ bị giẫm lên sột soạt.


Lý Thu Tự không để ý thấy có người ở đây, anh nghe thấy tiếng nước chảy nên muốn đến rửa mặt.


Suối lão chảy ra một khe nước nhỏ, trong vắt thấy đáy. Khi Lý Thu Tự rửa mặt xong quay người lại thì nhìn thấy Minh Nguyệt.


Trông anh còn trẻ, dáng người cao ráo, chân dài, nhờ chiếc áo khoác ngắn nên trông càng dài hơn. Minh Nguyệt vừa nhìn đã biết anh là người thành phố, gió xuân tuy mạnh nhưng khuôn mặt anh trắng trẻo, không có chút dấu vết nào của nắng gió.


Lý Thu Tự cảm thấy đôi mắt cô bé rất có hồn, anh mỉm cười với cô bé. Minh Nguyệt hơi rụt rè: “Chào chú.”


Anh vốn không định nói chuyện, chỉ cười: “Chào cháu.”


Minh Nguyệt ôm vòng hoa đứng dậy: “Chú đến đây để giải quyết nỗi buồn à?”


Lý Thu Tự không hiểu: “Gì cơ?”


Minh Nguyệt giải thích: “Có phải chú không tìm thấy nhà vệ sinh nên đến đây để đi vệ sinh không?” Cô bé nghĩ rằng anh thấy mình nên ngại c** q**n.


Lý Thu Ngữ cười nói: “Tất nhiên là không phải, trông chú giống người như thế sao?”


Minh Nguyệt mím môi, lắc đầu. Anh không giống, anh trắng trẻo sạch sẽ, đôi mắt đen láy, là một người lớn trông khá đẹp. Gió thổi tóc anh trông thật nhẹ nhàng, khoan khoái.


“Xin hỏi chú có chụp ảnh không ạ?” Minh Nguyệt hỏi anh.


Lý Thu Tự nói: “Không, có chuyện gì sao?”


Minh Nguyệt thất vọng nhìn anh. Cô bé nghĩ, anh sẽ đưa cả nhà đến chơi và cần một cái vòng hoa.


“Không có gì ạ, cháu hỏi vậy thôi.”


Cô bé lại lấy chuông gió ra khỏi túi vải, gió thổi qua kêu leng keng.


“Chú xem chuông gió cháu tự làm này, chú có muốn mua một cái không?”


Lý Thu Tự lái xe đến đây do định vị sai đường, nơi này không hề có phong tục chất phác. Khi đi qua ngã tư, anh đã bị người Lễ Đường thu phí qua đường. Vừa mới vào đã có người vây quanh bán đồ, anh chẳng cần thứ gì cả, lũ trẻ con lớn tướng cứ chặn anh lại. Anh mua một chai nước.


“Bao nhiêu tiền?”



Minh Nguyệt nói: “Một đồng một xâu, nếu cháu lấy ba xâu thì hai đồng ạ.”


Lý Thu Tự không nói gì, mỉm cười nhìn cô bé. Mặt Minh Nguyệt thấy hơi nóng: “Cháu không bán đồ người khác làm, cái này là cháu tự xâu đấy, không hề đắt đâu ạ.”


Lý Thu Ngữ nói: “Chú không nói đắt, cháu không đi học sao? Trẻ con ở đây đều ra đây buôn bán à?”


Minh Nguyệt nói: “Cháu không phải người Lễ Đường, cháu là người thôn Tử Hư. Năm nay cháu học lớp bảy.”


Lý Thu Ngữ trầm ngâm: “Bố mẹ cháu đâu? Họ cho phép cháu cuối tuần đến đây bán hàng sao?”


Minh Nguyệt nói: “Cháu ở nhà với bà, bố mẹ đi làm công nhân ở xa rồi.”


Lý Thu Tự lấy ví ra, đưa cho cô bé tờ năm đồng. Minh Nguyệt thấy bối rối: “Cháu chỉ xâu được ba cái thôi ạ.”


Lý Thu Ngữ nói: “Ba cái thì ba cái thôi.”


Minh Nguyệt chưa mở hàng, chưa có một xu nào. Cô bé phải vào quán người ta đổi tiền lẻ. Lý Thu Ngữ định ngăn lại, nhưng cô bé đã đạp xe chạy đi nhanh như gió.


Lý Thu Tự nghĩ tờ năm đồng này coi như mất rồi, thật đáng tiếc cho đôi mắt như thế của cô bé.


Anh đi ra khỏi thung lũng, Minh Nguyệt chạy hổn hển quay lại, trả lại anh ba đồng.


Lý Thu Tự cầm tờ tiền, hỏi: “Cháu còn bán gì nữa không?”


Minh Nguyệt rất vui mừng, lấy cái tháp gỗ ra: “Cái này, mười đồng, cháu tự khắc đấy ạ.”


Lý Thu Tự cầm lên xem xét, là một món thủ công khá tinh xảo. Anh có chút nghi ngờ: “Cháu khắc à?”


“Ông cháu biết nghề mộc, cháu học từ ông ạ.”


Lý Thu Tự cười: “Không phải ông cháu khắc sao?”


Minh Nguyệt cúi đầu, bứt lá liễu trên vòng hoa: “Ông cháu mất rồi, cái này là cháu tự khắc.”


Giọng Lý Thu Tự cũng dịu xuống: “Xin lỗi cháu, tay nghề của cháu rất giỏi.”


Anh nói chuyện nho nhã, giống như khe nước nhỏ chảy ra từ suối lão, không nhanh cũng không chập. Minh Nguyệt ngẩng mặt lên, cười bẽn lẽn, cảm thấy lạ khi một người lớn lại nói lời xin lỗi với mình.


“Nếu chú mua thì cháu lấy tám đồng.”


Ban đầu là mười đồng không mặc cả, Minh Nguyệt nghĩ rằng cái tháp gỗ của mình đáng giá đó. Cô bé đã mất một tuần để làm, ngón tay bị bào mòn, nhưng cửa sổ trên tháp gỗ trông rõ ràng từng chi tiết.


Điều này khiến Lý Thu Tự cảm thấy không mua thì có lỗi với sự ưu đãi của cô bé.


Anh đưa cho cô bé mười đồng. Minh Nguyệt khăng khăng trả lại hai đồng ban đầu cho anh, anh không chịu lấy. Minh Nguyệt rất cố chấp, Lý Thu Tự thấy mình cứ giằng co với một cô bé cũng không hay lắm, nên đành thôi, sau đó hỏi đường cô bé.


Minh Nguyệt nhận được mười đồng, trong lòng ngọt ngào vô cùng. Cô bé định tặng hết số vòng hoa cho Lý Thu Tự. Lý Thu Tự nói: “Cháu đã vất vả bện, chú có thể mua mà.”


Mọi chuyện diễn ra rất tự nhiên, anh vốn không có ý định mua đồ, nhưng lại mua cả một đống.


Minh Nguyệt vốn định cho những người mang máy ảnh tới thuê với giá năm xu một lần, nhưng cô bé đổi ý rồi.


“Cái này không lấy tiền, tặng chú đó.”


Lý Thu Tự nói: “Sao lại thế được? Chú lấy cái này cũng chẳng có ích gì.”


Minh Nguyệt cười: “Sao lại vô ích? Đeo lên đầu chụp ảnh đẹp lắm đấy ạ.”


Lý Thu Tự nói: “Chú không thích chụp ảnh.”


“Thế thì chú có thể tặng người khác, tặng cho chị em của chú.”


“Chị em của chú không thích mấy thứ này.”


Minh Nguyệt có chút buồn bã: “Vậy thì cháu không có gì tốt để tặng chú rồi.”


Lý Thu Tự cười: “Cháu làm ăn kiểu gì thế này.” Anh dường như suy nghĩ một lát rồi lấy một con gấu trúc bông trong xe đưa cho Minh Nguyệt.


Một con gấu trúc rất dễ thương và hiền lành.


Lý Thu Tự nói: “Cầm lấy mà chơi.”


Minh Nguyệt nâng niu không rời, nhìn đi nhìn lại. Cô bé sợ làm bẩn con gấu bông, bèn cho nó vào túi, thầm nghĩ Đường Đường nhất định sẽ vui mừng khôn xiết.


Nhưng món đồ chơi lớn và đẹp thế này, chắc chắn rất đắt tiền.


Cô bé giằng co đến đỏ cả mặt, cuối cùng vẫn trả lại mười đồng cho Lý Thu Tự: “Cháu đổi cái tháp gỗ lấy nó nhé.”


Lý Thu Tự nói: “Có qua có lại, đây là quà tặng cháu, còn cái tháp gỗ là thành quả lao động của cháu, chú không thể lấy không được. Cháu mất nhiều công sức lắm phải không?”


Minh Nguyệt cảm thấy giọng nói của anh thật hay, thật dịu dàng, nghe đến mức khiến người ta bất chợt sinh ra chút hiu quạnh, không hiểu vì sao, cô bé cảm thấy mình rất được tôn trọng. Nhưng một người như thế, một giọng nói như thế, hôm qua còn chưa từng có, ngày mai rồi cũng sẽ chẳng còn. Trong lòng cô bé như mặt trời đã lặn, rơi vào buổi hoàng hôn chạng vạng.


“Vậy mùa xuân sang năm chú có đến nữa không?” Minh Nguyệt hỏi.


Lý Thu Tự là người đi đốt vàng mã, trên đường về đi nhầm vào đây. Mùa xuân năm sau, anh có chút thất thần, anh còn chẳng biết đây là nơi nào.


Minh Nguyệt nói rất thiết tha: “Chú đến đi, cháu sẽ tặng chú một cái tượng gỗ khắc rất đẹp, cháu không lấy tiền, chú đến thì cháu không lấy tiền đâu ạ.”


Cô bé nhấn mạnh rất trang trọng: “Thật đấy, chú đến thì sẽ không mất tiền đâu.”


Lý Thu Tự không biết nói gì, một đứa trẻ nghiêm túc như vậy, anh rất giỏi thể hiện sự thương cảm để khiến người khác cảm thấy tốt hơn. Nhưng anh không thể hứa với một đứa trẻ, anh sẽ không quay lại.


“Thực ra chú lái xe nhầm đường, mùa xuân năm sau… có lẽ chú không thể quay lại được.”


Trong lòng Minh Nguyệt tràn ngập nỗi buồn bị gió thổi đầy, cô bé cười gượng gạo, không nói gì nữa.


Lý Thu Tự nhìn chiếc chuông gió trên tay, nói: “Chuông gió đã rất đẹp rồi.”


Minh Nguyệt không tin lắm: “Lúc nãy có một cô nọ bảo chuông gió của cháu quê mùa quá nên không lấy.”


Lý Thu Tự cười: “Sao lại thế được? Làm được cái chuông gió đẹp thế này là giỏi lắm rồi, hàng vừa tốt vừa rẻ.”


“Vậy chú có thích tháp gỗ của cháu không?” Minh Nguyệt ngượng ngùng hỏi.


“Tất nhiên rồi, chú chưa thấy học sinh cấp hai nào thông minh như cháu.” Khen ngợi một đứa trẻ là điều rất dễ dàng, Lý Thu Tự hoàn toàn không cần tốn công sức. Vẻ ngoài của anh dường như không bao giờ nói ra bất kỳ lời nói nào khiến người khác khó chịu.


Anh nói chuyện nghiêm túc với cô bé, Minh Nguyệt rất muốn khóc. Trái tim cô bé giống như dòng suối lão ở Lễ Đường, cuồn cuộn trào ra, không ngừng tuôn chảy, tạo thành một dòng suối không bao giờ cạn. Thế nhưng cô bé sẽ không còn cơ hội tặng anh tượng gỗ nữa, anh sắp đi rồi, đến từ đâu không biết, sẽ đi về đâu cũng chẳng hay.


“Đợi Tết đi hội chùa, cháu sẽ cầu xin Bồ Tát phù hộ cho chú.” Minh Nguyệt không nghĩ ra được gì khác, chỉ có thể nói điều này.


Lý Thu Ngữ rất ngạc nhiên, anh cười: “Bồ Tát phù hộ chú điều gì?”


Minh Nguyệt nói: “Phù hộ chú phát tài, sống lâu trăm tuổi.”


Đây là ước vọng tốt đẹp nhất mà một đứa trẻ có thể nghĩ ra. Lý Thu Tự bật cười: “Có tiền có mệnh, rất tốt.”


“Chỗ cháu vào tháng giêng còn có hội kể chuyện nữa, vui lắm.” Minh Nguyệt cố gắng nói thêm vài câu với anh, cô bé hy vọng biết bao được gặp lại anh.


Lý Thu Tự đương nhiên không hứng thú, nhưng anh rất hiểu cách chăm sóc cảm xúc của một đứa trẻ. Cô bé trông rất hiền lành, nhưng thực ra rất thích nói chuyện, cũng không quá sợ người lạ.


“Hội bán sách à?”


Minh Nguyệt cười: “Không phải, là hội kể chuyện trống ca, ở cánh đồng lúa mì cạnh Hoa Kiều Tử ấy ạ.”


Lý Thu Tự suy nghĩ một lát: “Tháng giêng lạnh như thế, sao không tổ chức vào bây giờ?”


Minh Nguyệt nói: “Không được đâu, cây mạ đã bắt đầu mọc rồi không được giẫm lên, nếu không sẽ không có lúa, cháu chưa nghe nói hội kể chuyện tổ chức vào tháng ba bao giờ.”


Lý Thu Tự không hiểu, cười: “Cháu biết nhiều thật đấy.”



Minh Nguyệt cúi đầu đá những viên đá nhỏ: “Cháu biết chuyện đồng áng, còn chuyện thành phố thì cháu không biết. Cháu là ếch ngồi đáy giếng, chỉ ngồi ở đây, chỉ thấy được chuyện ở đây thôi.”


Cô bé cảm thấy khá xấu hổ vì mình không biết chuyện thành phố.


Đứa trẻ này nói chuyện nghe có vẻ cô đơn, khuôn mặt thì non nớt, nhưng lời nói lại già dặn. Lý Thu Tự nói: “Người thành phố cũng không biết chuyện đồng áng đâu. Mọi người chỉ sống trong môi trường khác nhau thôi.”


Minh Nguyệt ngẩng đầu lên: “Người thành phố chỉ muốn đến đây ăn thịt gà thả rông, không muốn biết chuyện đồng áng, nhưng người ở đây lại muốn lên thành phố, làm những việc trong thành phố.”


Lý Thu Tự không còn gì để nói.


Anh chỉ có thể hỏi cô bé: “Cháu có muốn tới đó không? Học hành tử tế, học tốt sẽ có cơ hội lên thành phố học tập và làm việc.”


Minh Nguyệt quay đầu đi, khẽ thở dài: “Cháu có thể không? Một đứa như cháu lên thành phố thì làm được gì ạ?”


Trên mặt cô bé không có chút hy vọng nào, nhưng vẫn mỉm cười.


Lý Thu Tự nhận ra cô bé rất thanh tú, đôi mắt rất đẹp, thỉ thoảng lại lộ ra vẻ bối rối.


“Có thể chứ, chỉ cần cháu muốn. Bạn học đại học của chú cũng có người đến từ những thôn làng nhỏ mà.”


Minh Nguyệt luôn mỉm cười, cô bé cũng không biết mình có muốn hay không, cô bé mơ hồ, như thể trời đất còn chưa được Bàn Cổ* khai mở.


*Bàn Cổ được coi là vị thần khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoại Trung Quốc.


“Chú là sinh viên đại học ạ?”


Lý Thu Tự nói: “Chú đã tốt nghiệp nhiều năm rồi.”


“Học đại học có tốt không ạ?”


“Rất tốt, có thể gặp gỡ những người hợp ý, còn có thể thử rất nhiều điều.”


Minh Nguyệt nói: “Vậy cháu tin chú.”


Những điều anh nói cô bé không hiểu lắm, nhưng Lý Thu Tự trông chẳng giống một người lừa dối chút nào.


Lý Thu Tự cười: “Tuy nhiên, đôi khi lời người khác nói cũng cần phải suy nghĩ kỹ rồi mới quyết định tin hay không.”


Minh Nguyệt quả quyết: “Là chú nói thì cháu sẽ tin.”


Hôm nay Lý Thu Tự đã nói quá nhiều, anh cần phải rời đi thôi.


Chiếc xe quay đầu lại, đàn ngỗng lớn ở khu farmstay vươn cổ kêu vang, muốn đuổi theo người, nhưng bị Minh Nguyệt nắm cổ lôi sang một bên.


Cửa sổ xe mở, Lý Thu Tự chào tạm biệt cô bé. Minh Nguyệt vẫy tay. Khi xe của anh bắt đầu lăn bánh, Minh Nguyệt chợt chạy theo chiếc xe, giống như hồi nhỏ đuổi theo chiếc ô tô chở bố mẹ sau Tết. Đã nhiều năm rồi cô bé không đuổi theo ô tô như vậy. Cô bé đã lớn, ngay cả khi vợ chồng Lý Xương Thịnh có rời đi nữa, cô bé cũng sẽ không đuổi theo nữa.


Nhưng lần cuối cùng cô bé đuổi theo ô tô, cô bé mới chỉ mười tuổi. Cô bé cứ thế chạy, bím tóc tung tăng lên xuống, cứ như thể phía trước là bố mẹ mình. Cô bé nhanh chóng lẫn lộn những tưởng tượng và thực tại suốt ba năm qua. Đây là cơ hội duy nhất của cô bé, những người khác đều có ô tô để đuổi theo.


Lý Thu Tự nhìn thấy cô bé qua gương chiếu hậu. Minh Nguyệt cứ chạy, cô bé cảm thấy mình như trở lại thành đứa bé tí hon hồi xưa, chỉ cần chạy nhanh là có thể đuổi kịp ô tô. Cô bé th* d*c không nổi, cũng chẳng quan tâm.


Lý Thu Tự liên tục nhìn cô bé qua gương chiếu hậu. Cô bé mặc chiếc áo đỏ giống như một đốm lửa cháy rực suốt quãng đường. Anh không hiểu cô bé đuổi theo xe anh làm gì, anh đành dừng xe lại.


Khóe mắt Minh Nguyệt đã ướt lệ, cô bé thở hồng hộc. Lý Thu Tự ngạc nhiên, anh đưa cho cô bé một chiếc khăn giấy, an ủi: “Nếu năm sau chú còn đến, nhất định sẽ tìm cháu mua đồ. Về đi.”


Minh Nguyệt không nói gì, cô bé chỉ muốn đuổi theo ô tô. Cô bé đờ đẫn nhìn Lý Thu Tự như một chú chim di trú lạc đàn. Lý Thu Tự mỉm cười: “Cháu tên là gì? Nếu chú tới, chắc chắn sẽ tìm cháu.”


“Tên cháu là Lý Minh Nguyệt.” Cô bé nuốt một ngụm bụi.


Lý Thu Tự nói: “Trùng hợp thật, chú cũng họ Lý. Năm sau chúng ta gặp lại nhé? Cháu về đi thôi, nếu cháu thi được hạng nhất, chú sẽ tặng cháu một món quà nữa.”


Năm đó vợ chồng Lý Xương Thịnh rời đi cũng nói năm sau sẽ quay lại. Minh Nguyệt không phân biệt được lời hứa và lời nói dối, giống như không phân biệt được trời lớn hay đất lớn. Điều đó không quan trọng, Minh Nguyệt lắc đầu, nói với anh: “Cảm ơn chú đã nói chuyện với cháu, hôm nay cháu rất vui, tạm biệt!”


Cô bé lùi lại vài bước, ôm chặt con gấu trúc.


Lý Thu Tự quay đầu nhìn cô bé hai lần. Cô bé dần thu nhỏ lại, cuối cùng hóa thành một chấm đỏ, đứng bất động giữa mùa xuân.


Chiếc xe đạp của Minh Nguyệt cứ bị tuột xích mãi.


Cô bé vừa đạp đến dưới gốc cây du thì xích lại tuột. Chú Bát Đẩu đi ngang qua, đến giúp cô bé sửa xe. 


Chú Bát Đẩu đã ba mươi tuổi, chưa lấy vợ, cũng không đi làm công nhân, điều này rất hiếm ở làng Tử Hư. Chú ấy không giống những người khác, chú làm thơ, nghiên cứu thư pháp, toàn làm những chuyện kỳ quặc. 


Người cùng tuổi với chú, ai mà chẳng đi làm công nhân? Chỉ có chú ấy quanh năm cứ lảng vảng chỗ này chỗ kia, quen biết hết mọi người, nhà ai cần giúp đỡ chú đều tới. Mọi người nói trước mặt chú rất hay, nhưng sau lưng thì bảo chú là đồ ngốc.


Làng nào mà chẳng có một người ngốc?


Chú Bát Đẩu còn thích đi giảng hòa, nhà nào cãi nhau vì chuyện vặt vãnh, chú ấy lúc nào cũng ngậm điếu thuốc, mở miệng là: “Cho tôi chút thể diện…” Liệu có ai cho chú cái thể diện đó không? Khó mà nói được.


Hồi Minh Nguyệt học tiểu học, chú Bát Đẩu từng chặn cô bé lại, nhất quyết không cho đi, bắt mấy đứa nhỏ nghe chú đọc thơ. Chú hỏi mấy đứa nhỏ có hay không, chúng nó bịt miệng cười, sợ quá rồi chạy mất.


Kìa, sáng sớm tinh mơ, chú Bát Đẩu lại kẹp sách dưới nách, tay hút thuốc, không biết lượn lờ đâu qua đây.


“Cô nhóc, ăn cơm chưa? Đi đâu đấy?”


Minh Nguyệt nói: “Ăn rồi ạ, cháu định đi Lễ Đường.”


Chú Bát Đẩu dụi đầu thuốc lá xuống đất hai cái, đưa cuốn sách cho Minh Nguyệt, rồi ngồi xổm xuống loay hoay với cái xích xe. Cuốn sách được bọc bằng giấy báo cũ, trông bẩn thỉu. Minh Nguyệt đứng dưới gốc cây du nhìn chú sửa xe.


Cái đầu chú Bát Đẩu trông giống hệt con gà mái già, tóc bù xù. Chú còn để râu, trông rất buồn cười, cổ áo sơ mi trắng bóng loáng dầu mỡ, cũng chẳng biết có giặt giũ gì không… Nhà chú chỉ còn mỗi mẹ già. Lẽ ra chú còn có một người anh trai, nghe nói là một người hiền lành, chăm chỉ. Nhưng vào một buổi chiều hè năm nọ, không hiểu vì chuyện gì, bố chú đã đánh mẹ chú một trận rất dữ dội. Đánh xong thì thôi, ai làm việc nấy. Bố chú nằm trên chiếu ngủ trưa. Người anh cả vốn đã ra ngoài, nhưng lại quay về, dùng rìu chém chết bố mình.


Chuyện cũ mười mấy năm này, một đứa bé tuổi Minh Nguyệt không thể biết, nhưng cũng từng nghe phong thanh. Anh trai chú Bát Đẩu đi tù, chú ấy ở lại sống với mẹ già. Lúc đó chú mới mười mấy tuổi.


Người dân làng Tử Hư vẫn thường nói, cậu thanh niên đó rất tốt, thật kinh khủng, không ngờ lại làm ra chuyện như vậy.


Ban đầu, mọi người sợ hãi không dám qua lại với nhà chú Bát Đẩu. Dần dần họ quên đi chuyện đó, lại giao tiếp bình thường.


Thực ra Minh Nguyệt cũng hơi sợ chú Bát Đẩu, chú ấy khác biệt với mọi người. Mà con người ta, một khi khác biệt với những người xung quanh sẽ vô cớ khiến người khác sợ hãi. Nhưng chú Bát Đẩu là người rất nhiệt tình. Hồi ông nội còn sống, chú ấy thỉnh thoảng lại đến nhà uống rượu với ông. Chú còn tặng Minh Nguyệt một cuốn từ điển, không biết kiếm ở đâu ra.


“Xong rồi!” Tay chú Bát Đẩu dính đầy dầu, chú chỉ quẹt chúng lên thân cây du lớn.


Minh Nguyệt đưa lại cuốn sách: “Chú Bát Đẩu, chú chăm học thật đấy.”


Chú Bát Đẩu nói với giọng trịnh trọng, còn nhắc đến chuyện chú từng đỗ đại học nhưng bị người khác mạo danh học thay. Chuyện này người làng Tử Hư ai cũng nghe qua. Minh Nguyệt hỏi bà, Dương Kim Phượng bảo chú ấy nói phét đấy, là do chú ấy bị hoang tưởng mà ra. 


Minh Nguyệt cũng thích tưởng tượng, cô bé cứ cô đơn là lại thích tưởng tượng, tự đưa mình vào một thế giới khác để tìm kiếm vui vẻ. Lời của Dương Kim Phượng khiến cô bé giật mình không ít, may mắn là những chuyện cô bé tưởng tượng chưa bao giờ kể cho người khác nghe.


“Cô nhóc, cháu có biết Vương Tiểu Ba không?” Chú Bát Đẩu hỏi cô bé.


Minh Nguyệt suy nghĩ một chút: “Người thôn Vương Trại ạ?”


Ở đây chỉ có thôn Vương Trại là có nhiều người họ Vương nhất.


Chú Bát Đẩu cười ha hả, Minh Nguyệt nói: “Hay là người Hậu Khê?”


Hậu Khê cũng có vài nhà họ Vương.


Chú Bát Đẩu cười càng giống gà mái già hơn, tóc tai dựng ngược, đen nhẻm.


Minh Nguyệt không đoán ra được là ở đâu nữa.


“Vương Tiểu Ba là một nhà văn lớn!” Chú Bát Đẩu lại rút ra một điếu thuốc. Chú châm lửa hút thuốc, vẻ mặt ngây ngất, cứ như thể chú chính là Vương Tiểu Ba vậy.


Nhà văn đầu tiên Minh Nguyệt tiếp xúc là trên tivi, tivi chiếu phim kiếm hiệp, phụ đề có ghi: “Nguyên tác Kim Dung”. Hồi bé cô bé cứ nghĩ Kim Dung nhất định là một nhà văn vĩ đại thời xưa, sau này mới biết Kim Dung vẫn còn sống.


“Vương Tiểu Ba còn sống không ạ?” Minh Nguyệt thấy thật kỳ lạ, nhà văn lớn tên là Vương Tiểu Ba giống như người thôn Vương Trại.


Chú Bát Đẩu nói: “Mất rồi, nhưng tinh thần của ông ấy sẽ sống mãi, con người sống là phải có tinh thần của riêng mình.”


Minh Nguyệt cười. Chú Bát Đẩu là thế đấy, chú luôn nói những điều mà người khác không nói, cũng không hiểu. Minh Nguyệt không biết phải đáp lại thế nào, cô bé không quen Vương Tiểu Ba, tinh thần của ông ấy thì không thể lĩnh hội được. Thế nhưng, chú Bát Đẩu vừa sửa xe cho cô bé, cô bé cảm thấy nếu không khen chú một câu thì thật có lỗi.



“Chú Bát Đẩu, chú đúng là có văn hóa thật. Câu đối chú viết cho nhà chú Phùng lúc nãy cháu đi ngang qua vẫn còn thấy đó!”


Nói xong, cô bé vội vàng lên xe đạp đi. Cô bé sợ chú Bát Đẩu lại nói thêm những điều mình không hiểu nữa, như thế thì tệ lắm. Cô bé không thể đáp lời, giống như chính bản thân cô bé cũng thường xuyên rơi vào tình huống khó khăn này, không có ai lắng nghe mình nói, linh hồn sẽ dần dần ngủ quên đi. 


Cô bé chợt thấy tội nghiệp chú Bát Đẩu, không ai muốn nghe chú nói về Vương Tiểu Ba. Cô bé và chú Bát Đẩu giống nhau mà, tại sao cô bé lại không muốn nghe chú nói đây?


Cô bé không quen Vương Tiểu Ba, nếu nói không đúng, có lẽ chú Bát Đẩu sẽ còn cô độc hơn.


Trời nắng đẹp thế này, những người không đi làm công nhân thì bận rộn với việc đồng áng. Người trẻ thì ít. Trên cánh đồng, chim chóc bay lên rồi lại đáp xuống, màu xanh được gió đẩy lại gần lại rồi lại kéo ra xa. Minh Nguyệt đạp xe nhanh như bay.


Lễ Đường rất nhộn nhịp, cứ đến mùa xuân là ngày nào cũng như đi chợ vậy, nơi đó chỉ cách thôn Tử Hư khoảng tám chín dặm nhưng đã hoàn toàn khác biệt. Bên đường, mấy bà chủ farmstay đứng ở cửa chặn xe, hỏi những người lái ô tô có muốn ăn gà, ăn ngỗng không.


Người Lễ Đường giỏi làm ăn. Nước suối lão trong thung lũng được đóng chai bán cho người thành phố ăn uống với giá một đồng một chai. Công việc này chỉ dành riêng cho người Lễ Đường, suối là của họ, bán đồ lặt vặt cũng chỉ người Lễ Đường mới được bán. Minh Nguyệt là trẻ con, cũng bị người ta xua đuổi. Cô bé mặt dày, người ta mà quát lớn, cô bé giả vờ không nghe thấy, chầm chậm đi sang một bên, lát sau lại lén lút quay lại.


Cuối tuần người rất đông, đông đến nỗi cô bé cảm thấy thế giới này như bị nhét đầy thêm một người là mình. Những người bán hàng cũng ngày càng nhiều, ai cũng muốn kiếm tiền.


Hoa dại nở rộ trong thung lũng, không ai ngó ngàng, không ai chăm sóc, nở rộ đến quên trời đất. Minh Nguyệt không bán được cái chuông gió nào, người ta bảo hơi quê mùa. Cái tháp nhỏ cô bé chạm khắc bán mười đồng thì bị chê đắt quá. Chẳng làm ăn được gì cả, thật là chán nản!


Minh Nguyệt ôm chiếc túi vải hoa đi sâu hơn vào trong.


Mặt trời chiếu một vệt sáng xuống thung lũng, nửa sáng nửa tối. Gió xuân trở nên se lạnh, lùa qua những thảm cỏ dày và những đoá hoa rực rỡ. 


Mắt người ta nhìn thấy ngọn núi xanh, dòng nước biếc như thế, lòng cũng khoan khoái hơn. Minh Nguyệt hái rất nhiều hoa, khoanh chân ngồi xuống bện vòng hoa. Cô bé rất khéo tay, hẳn là thừa hưởng từ Lý Vạn Niên. Lý Vạn Niên có thể tự làm mọi thứ đồ dùng, lại càng không cần nói đến việc ông có thể biến hóa ra đủ loại đồ chơi nhỏ cho đám trẻ con như làm ảo thuật.


Chỉ có hoa thì không đủ, phải có cả cành liễu nữa. Ánh nắng chiếu lên người thật ấm áp, mùa xuân là như thế đấy, ngày càng thú vị hơn. Minh Nguyệt vừa ngân nga hát vừa ngồi dưới bức tường lở dang bện được ba cái vòng hoa.


Phía sau có người đi tới, tiếng cỏ bị giẫm lên sột soạt.


Lý Thu Tự không để ý thấy có người ở đây, anh nghe thấy tiếng nước chảy nên muốn đến rửa mặt.


Suối lão chảy ra một khe nước nhỏ, trong vắt thấy đáy. Khi Lý Thu Tự rửa mặt xong quay người lại thì nhìn thấy Minh Nguyệt.


Trông anh còn trẻ, dáng người cao ráo, chân dài, nhờ chiếc áo khoác ngắn nên trông càng dài hơn. Minh Nguyệt vừa nhìn đã biết anh là người thành phố, gió xuân tuy mạnh nhưng khuôn mặt anh trắng trẻo, không có chút dấu vết nào của nắng gió.


Lý Thu Tự cảm thấy đôi mắt cô bé rất có hồn, anh mỉm cười với cô bé. Minh Nguyệt hơi rụt rè: “Chào chú.”


Anh vốn không định nói chuyện, chỉ cười: “Chào cháu.”


Minh Nguyệt ôm vòng hoa đứng dậy: “Chú đến đây để giải quyết nỗi buồn à?”


Lý Thu Tự không hiểu: “Gì cơ?”


Minh Nguyệt giải thích: “Có phải chú không tìm thấy nhà vệ sinh nên đến đây để đi vệ sinh không?” Cô bé nghĩ rằng anh thấy mình nên ngại c** q**n.


Lý Thu Ngữ cười nói: “Tất nhiên là không phải, trông chú giống người như thế sao?”


Minh Nguyệt mím môi, lắc đầu. Anh không giống, anh trắng trẻo sạch sẽ, đôi mắt đen láy, là một người lớn trông khá đẹp. Gió thổi tóc anh trông thật nhẹ nhàng, khoan khoái.


“Xin hỏi chú có chụp ảnh không ạ?” Minh Nguyệt hỏi anh.


Lý Thu Tự nói: “Không, có chuyện gì sao?”


Minh Nguyệt thất vọng nhìn anh. Cô bé nghĩ, anh sẽ đưa cả nhà đến chơi và cần một cái vòng hoa.


“Không có gì ạ, cháu hỏi vậy thôi.”


Cô bé lại lấy chuông gió ra khỏi túi vải, gió thổi qua kêu leng keng.


“Chú xem chuông gió cháu tự làm này, chú có muốn mua một cái không?”


Lý Thu Tự lái xe đến đây do định vị sai đường, nơi này không hề có phong tục chất phác. Khi đi qua ngã tư, anh đã bị người Lễ Đường thu phí qua đường. Vừa mới vào đã có người vây quanh bán đồ, anh chẳng cần thứ gì cả, lũ trẻ con lớn tướng cứ chặn anh lại. Anh mua một chai nước.


“Bao nhiêu tiền?”


Minh Nguyệt nói: “Một đồng một xâu, nếu cháu lấy ba xâu thì hai đồng ạ.”


Lý Thu Tự không nói gì, mỉm cười nhìn cô bé. Mặt Minh Nguyệt thấy hơi nóng: “Cháu không bán đồ người khác làm, cái này là cháu tự xâu đấy, không hề đắt đâu ạ.”


Lý Thu Ngữ nói: “Chú không nói đắt, cháu không đi học sao? Trẻ con ở đây đều ra đây buôn bán à?”


Minh Nguyệt nói: “Cháu không phải người Lễ Đường, cháu là người thôn Tử Hư. Năm nay cháu học lớp bảy.”


Lý Thu Ngữ trầm ngâm: “Bố mẹ cháu đâu? Họ cho phép cháu cuối tuần đến đây bán hàng sao?”


Minh Nguyệt nói: “Cháu ở nhà với bà, bố mẹ đi làm công nhân ở xa rồi.”


Lý Thu Tự lấy ví ra, đưa cho cô bé tờ năm đồng. Minh Nguyệt thấy bối rối: “Cháu chỉ xâu được ba cái thôi ạ.”


Lý Thu Ngữ nói: “Ba cái thì ba cái thôi.”


Minh Nguyệt chưa mở hàng, chưa có một xu nào. Cô bé phải vào quán người ta đổi tiền lẻ. Lý Thu Ngữ định ngăn lại, nhưng cô bé đã đạp xe chạy đi nhanh như gió.


Lý Thu Tự nghĩ tờ năm đồng này coi như mất rồi, thật đáng tiếc cho đôi mắt như thế của cô bé.


Anh đi ra khỏi thung lũng, Minh Nguyệt chạy hổn hển quay lại, trả lại anh ba đồng.


Lý Thu Tự cầm tờ tiền, hỏi: “Cháu còn bán gì nữa không?”


Minh Nguyệt rất vui mừng, lấy cái tháp gỗ ra: “Cái này, mười đồng, cháu tự khắc đấy ạ.”


Lý Thu Tự cầm lên xem xét, là một món thủ công khá tinh xảo. Anh có chút nghi ngờ: “Cháu khắc à?”


“Ông cháu biết nghề mộc, cháu học từ ông ạ.”


Lý Thu Tự cười: “Không phải ông cháu khắc sao?”


Minh Nguyệt cúi đầu, bứt lá liễu trên vòng hoa: “Ông cháu mất rồi, cái này là cháu tự khắc.”


Giọng Lý Thu Tự cũng dịu xuống: “Xin lỗi cháu, tay nghề của cháu rất giỏi.”


Anh nói chuyện nho nhã, giống như khe nước nhỏ chảy ra từ suối lão, không nhanh cũng không chập. Minh Nguyệt ngẩng mặt lên, cười bẽn lẽn, cảm thấy lạ khi một người lớn lại nói lời xin lỗi với mình.


“Nếu chú mua thì cháu lấy tám đồng.”


Ban đầu là mười đồng không mặc cả, Minh Nguyệt nghĩ rằng cái tháp gỗ của mình đáng giá đó. Cô bé đã mất một tuần để làm, ngón tay bị bào mòn, nhưng cửa sổ trên tháp gỗ trông rõ ràng từng chi tiết.


Điều này khiến Lý Thu Tự cảm thấy không mua thì có lỗi với sự ưu đãi của cô bé.


Anh đưa cho cô bé mười đồng. Minh Nguyệt khăng khăng trả lại hai đồng ban đầu cho anh, anh không chịu lấy. Minh Nguyệt rất cố chấp, Lý Thu Tự thấy mình cứ giằng co với một cô bé cũng không hay lắm, nên đành thôi, sau đó hỏi đường cô bé.


Minh Nguyệt nhận được mười đồng, trong lòng ngọt ngào vô cùng. Cô bé định tặng hết số vòng hoa cho Lý Thu Tự. Lý Thu Tự nói: “Cháu đã vất vả bện, chú có thể mua mà.”


Mọi chuyện diễn ra rất tự nhiên, anh vốn không có ý định mua đồ, nhưng lại mua cả một đống.


Minh Nguyệt vốn định cho những người mang máy ảnh tới thuê với giá năm xu một lần, nhưng cô bé đổi ý rồi.


“Cái này không lấy tiền, tặng chú đó.”


Lý Thu Tự nói: “Sao lại thế được? Chú lấy cái này cũng chẳng có ích gì.”


Minh Nguyệt cười: “Sao lại vô ích? Đeo lên đầu chụp ảnh đẹp lắm đấy ạ.”


Lý Thu Tự nói: “Chú không thích chụp ảnh.”


“Thế thì chú có thể tặng người khác, tặng cho chị em của chú.”


“Chị em của chú không thích mấy thứ này.”


Minh Nguyệt có chút buồn bã: “Vậy thì cháu không có gì tốt để tặng chú rồi.”



Lý Thu Tự cười: “Cháu làm ăn kiểu gì thế này.” Anh dường như suy nghĩ một lát rồi lấy một con gấu trúc bông trong xe đưa cho Minh Nguyệt.


Một con gấu trúc rất dễ thương và hiền lành.


Lý Thu Tự nói: “Cầm lấy mà chơi.”


Minh Nguyệt nâng niu không rời, nhìn đi nhìn lại. Cô bé sợ làm bẩn con gấu bông, bèn cho nó vào túi, thầm nghĩ Đường Đường nhất định sẽ vui mừng khôn xiết.


Nhưng món đồ chơi lớn và đẹp thế này, chắc chắn rất đắt tiền.


Cô bé giằng co đến đỏ cả mặt, cuối cùng vẫn trả lại mười đồng cho Lý Thu Tự: “Cháu đổi cái tháp gỗ lấy nó nhé.”


Lý Thu Tự nói: “Có qua có lại, đây là quà tặng cháu, còn cái tháp gỗ là thành quả lao động của cháu, chú không thể lấy không được. Cháu mất nhiều công sức lắm phải không?”


Minh Nguyệt cảm thấy giọng nói của anh thật hay, thật dịu dàng, nghe đến mức khiến người ta bất chợt sinh ra chút hiu quạnh, không hiểu vì sao, cô bé cảm thấy mình rất được tôn trọng. Nhưng một người như thế, một giọng nói như thế, hôm qua còn chưa từng có, ngày mai rồi cũng sẽ chẳng còn. Trong lòng cô bé như mặt trời đã lặn, rơi vào buổi hoàng hôn chạng vạng.


“Vậy mùa xuân sang năm chú có đến nữa không?” Minh Nguyệt hỏi.


Lý Thu Tự là người đi đốt vàng mã, trên đường về đi nhầm vào đây. Mùa xuân năm sau, anh có chút thất thần, anh còn chẳng biết đây là nơi nào.


Minh Nguyệt nói rất thiết tha: “Chú đến đi, cháu sẽ tặng chú một cái tượng gỗ khắc rất đẹp, cháu không lấy tiền, chú đến thì cháu không lấy tiền đâu ạ.”


Cô bé nhấn mạnh rất trang trọng: “Thật đấy, chú đến thì sẽ không mất tiền đâu.”


Lý Thu Tự không biết nói gì, một đứa trẻ nghiêm túc như vậy, anh rất giỏi thể hiện sự thương cảm để khiến người khác cảm thấy tốt hơn. Nhưng anh không thể hứa với một đứa trẻ, anh sẽ không quay lại.


“Thực ra chú lái xe nhầm đường, mùa xuân năm sau… có lẽ chú không thể quay lại được.”


Trong lòng Minh Nguyệt tràn ngập nỗi buồn bị gió thổi đầy, cô bé cười gượng gạo, không nói gì nữa.


Lý Thu Tự nhìn chiếc chuông gió trên tay, nói: “Chuông gió đã rất đẹp rồi.”


Minh Nguyệt không tin lắm: “Lúc nãy có một cô nọ bảo chuông gió của cháu quê mùa quá nên không lấy.”


Lý Thu Tự cười: “Sao lại thế được? Làm được cái chuông gió đẹp thế này là giỏi lắm rồi, hàng vừa tốt vừa rẻ.”


“Vậy chú có thích tháp gỗ của cháu không?” Minh Nguyệt ngượng ngùng hỏi.


“Tất nhiên rồi, chú chưa thấy học sinh cấp hai nào thông minh như cháu.” Khen ngợi một đứa trẻ là điều rất dễ dàng, Lý Thu Tự hoàn toàn không cần tốn công sức. Vẻ ngoài của anh dường như không bao giờ nói ra bất kỳ lời nói nào khiến người khác khó chịu.


Anh nói chuyện nghiêm túc với cô bé, Minh Nguyệt rất muốn khóc. Trái tim cô bé giống như dòng suối lão ở Lễ Đường, cuồn cuộn trào ra, không ngừng tuôn chảy, tạo thành một dòng suối không bao giờ cạn. Thế nhưng cô bé sẽ không còn cơ hội tặng anh tượng gỗ nữa, anh sắp đi rồi, đến từ đâu không biết, sẽ đi về đâu cũng chẳng hay.


“Đợi Tết đi hội chùa, cháu sẽ cầu xin Bồ Tát phù hộ cho chú.” Minh Nguyệt không nghĩ ra được gì khác, chỉ có thể nói điều này.


Lý Thu Ngữ rất ngạc nhiên, anh cười: “Bồ Tát phù hộ chú điều gì?”


Minh Nguyệt nói: “Phù hộ chú phát tài, sống lâu trăm tuổi.”


Đây là ước vọng tốt đẹp nhất mà một đứa trẻ có thể nghĩ ra. Lý Thu Tự bật cười: “Có tiền có mệnh, rất tốt.”


“Chỗ cháu vào tháng giêng còn có hội kể chuyện nữa, vui lắm.” Minh Nguyệt cố gắng nói thêm vài câu với anh, cô bé hy vọng biết bao được gặp lại anh.


Lý Thu Tự đương nhiên không hứng thú, nhưng anh rất hiểu cách chăm sóc cảm xúc của một đứa trẻ. Cô bé trông rất hiền lành, nhưng thực ra rất thích nói chuyện, cũng không quá sợ người lạ.


“Hội bán sách à?”


Minh Nguyệt cười: “Không phải, là hội kể chuyện trống ca, ở cánh đồng lúa mì cạnh Hoa Kiều Tử ấy ạ.”


Lý Thu Tự suy nghĩ một lát: “Tháng giêng lạnh như thế, sao không tổ chức vào bây giờ?”


Minh Nguyệt nói: “Không được đâu, cây mạ đã bắt đầu mọc rồi không được giẫm lên, nếu không sẽ không có lúa, cháu chưa nghe nói hội kể chuyện tổ chức vào tháng ba bao giờ.”


Lý Thu Tự không hiểu, cười: “Cháu biết nhiều thật đấy.”


Minh Nguyệt cúi đầu đá những viên đá nhỏ: “Cháu biết chuyện đồng áng, còn chuyện thành phố thì cháu không biết. Cháu là ếch ngồi đáy giếng, chỉ ngồi ở đây, chỉ thấy được chuyện ở đây thôi.”


Cô bé cảm thấy khá xấu hổ vì mình không biết chuyện thành phố.


Đứa trẻ này nói chuyện nghe có vẻ cô đơn, khuôn mặt thì non nớt, nhưng lời nói lại già dặn. Lý Thu Tự nói: “Người thành phố cũng không biết chuyện đồng áng đâu. Mọi người chỉ sống trong môi trường khác nhau thôi.”


Minh Nguyệt ngẩng đầu lên: “Người thành phố chỉ muốn đến đây ăn thịt gà thả rông, không muốn biết chuyện đồng áng, nhưng người ở đây lại muốn lên thành phố, làm những việc trong thành phố.”


Lý Thu Tự không còn gì để nói.


Anh chỉ có thể hỏi cô bé: “Cháu có muốn tới đó không? Học hành tử tế, học tốt sẽ có cơ hội lên thành phố học tập và làm việc.”


Minh Nguyệt quay đầu đi, khẽ thở dài: “Cháu có thể không? Một đứa như cháu lên thành phố thì làm được gì ạ?”


Trên mặt cô bé không có chút hy vọng nào, nhưng vẫn mỉm cười.


Lý Thu Tự nhận ra cô bé rất thanh tú, đôi mắt rất đẹp, thỉ thoảng lại lộ ra vẻ bối rối.


“Có thể chứ, chỉ cần cháu muốn. Bạn học đại học của chú cũng có người đến từ những thôn làng nhỏ mà.”


Minh Nguyệt luôn mỉm cười, cô bé cũng không biết mình có muốn hay không, cô bé mơ hồ, như thể trời đất còn chưa được Bàn Cổ* khai mở.


*Bàn Cổ được coi là vị thần khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoại Trung Quốc.


“Chú là sinh viên đại học ạ?”


Lý Thu Tự nói: “Chú đã tốt nghiệp nhiều năm rồi.”


“Học đại học có tốt không ạ?”


“Rất tốt, có thể gặp gỡ những người hợp ý, còn có thể thử rất nhiều điều.”


Minh Nguyệt nói: “Vậy cháu tin chú.”


Những điều anh nói cô bé không hiểu lắm, nhưng Lý Thu Tự trông chẳng giống một người lừa dối chút nào.


Lý Thu Tự cười: “Tuy nhiên, đôi khi lời người khác nói cũng cần phải suy nghĩ kỹ rồi mới quyết định tin hay không.”


Minh Nguyệt quả quyết: “Là chú nói thì cháu sẽ tin.”


Hôm nay Lý Thu Tự đã nói quá nhiều, anh cần phải rời đi thôi.


Chiếc xe quay đầu lại, đàn ngỗng lớn ở khu farmstay vươn cổ kêu vang, muốn đuổi theo người, nhưng bị Minh Nguyệt nắm cổ lôi sang một bên.


Cửa sổ xe mở, Lý Thu Tự chào tạm biệt cô bé. Minh Nguyệt vẫy tay. Khi xe của anh bắt đầu lăn bánh, Minh Nguyệt chợt chạy theo chiếc xe, giống như hồi nhỏ đuổi theo chiếc ô tô chở bố mẹ sau Tết. Đã nhiều năm rồi cô bé không đuổi theo ô tô như vậy. Cô bé đã lớn, ngay cả khi vợ chồng Lý Xương Thịnh có rời đi nữa, cô bé cũng sẽ không đuổi theo nữa.


Nhưng lần cuối cùng cô bé đuổi theo ô tô, cô bé mới chỉ mười tuổi. Cô bé cứ thế chạy, bím tóc tung tăng lên xuống, cứ như thể phía trước là bố mẹ mình. Cô bé nhanh chóng lẫn lộn những tưởng tượng và thực tại suốt ba năm qua. Đây là cơ hội duy nhất của cô bé, những người khác đều có ô tô để đuổi theo.


Lý Thu Tự nhìn thấy cô bé qua gương chiếu hậu. Minh Nguyệt cứ chạy, cô bé cảm thấy mình như trở lại thành đứa bé tí hon hồi xưa, chỉ cần chạy nhanh là có thể đuổi kịp ô tô. Cô bé th* d*c không nổi, cũng chẳng quan tâm.


Lý Thu Tự liên tục nhìn cô bé qua gương chiếu hậu. Cô bé mặc chiếc áo đỏ giống như một đốm lửa cháy rực suốt quãng đường. Anh không hiểu cô bé đuổi theo xe anh làm gì, anh đành dừng xe lại.


Khóe mắt Minh Nguyệt đã ướt lệ, cô bé thở hồng hộc. Lý Thu Tự ngạc nhiên, anh đưa cho cô bé một chiếc khăn giấy, an ủi: “Nếu năm sau chú còn đến, nhất định sẽ tìm cháu mua đồ. Về đi.”


Minh Nguyệt không nói gì, cô bé chỉ muốn đuổi theo ô tô. Cô bé đờ đẫn nhìn Lý Thu Tự như một chú chim di trú lạc đàn. Lý Thu Tự mỉm cười: “Cháu tên là gì? Nếu chú tới, chắc chắn sẽ tìm cháu.”


“Tên cháu là Lý Minh Nguyệt.” Cô bé nuốt một ngụm bụi.


Lý Thu Tự nói: “Trùng hợp thật, chú cũng họ Lý. Năm sau chúng ta gặp lại nhé? Cháu về đi thôi, nếu cháu thi được hạng nhất, chú sẽ tặng cháu một món quà nữa.”


Năm đó vợ chồng Lý Xương Thịnh rời đi cũng nói năm sau sẽ quay lại. Minh Nguyệt không phân biệt được lời hứa và lời nói dối, giống như không phân biệt được trời lớn hay đất lớn. Điều đó không quan trọng, Minh Nguyệt lắc đầu, nói với anh: “Cảm ơn chú đã nói chuyện với cháu, hôm nay cháu rất vui, tạm biệt!”


Cô bé lùi lại vài bước, ôm chặt con gấu trúc.


Lý Thu Tự quay đầu nhìn cô bé hai lần. Cô bé dần thu nhỏ lại, cuối cùng hóa thành một chấm đỏ, đứng bất động giữa mùa xuân.


Trăng Sáng Ngàn Vạn Dặm – Tung Hổ Khứu Hoa
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Trăng Sáng Ngàn Vạn Dặm – Tung Hổ Khứu Hoa Truyện Trăng Sáng Ngàn Vạn Dặm – Tung Hổ Khứu Hoa Story Chương 2
10.0/10 từ 31 lượt.
loading...