Trẫm Há Có Thể Làm Pháo Hôi Công Sao?

Chương 81: Có nguyện vọng gì cứ thẳng thắn nói với trẫm, hà tất vòng vèo xa xôi.


Hoàng đế đã khen, lẽ nào người khác lại dám không nể mặt sao?


Mấy vị văn quan lần lượt cất lời tán thưởng. Dẫu bài thơ không phải là kiệt tác hiếm có gì, nhưng cũng không phải đến nỗi không khen được.


Thế nhưng Cao Hoài Du nghe những lời tâng bốc ấy, lại càng thêm khó chịu.


Y vốn dĩ chẳng mặn mà gì với chuyện ngâm thơ vịnh nguyệt, văn tài cũng chỉ thường thường bậc trung. Năm xưa, thiếu nữ cả thành Kiến Bình truyền tụng thơ từ của y, không phải vì thơ hay ý tốt, mà hoàn toàn chỉ vì y dung mạo tuấn tú, lại thêm phong lưu nho nhã, biết điều hay lẽ phải.


Mời vài lần hoa khôi đến phủ, các nàng về rồi đem chuyện phong lưu ấy kể lại, càng truyền càng khiến người ta đỏ mặt tim đập. Thế là một chốc, thanh danh phong lưu của Thanh Hà Vương lan khắp Kiến Bình.


Dung mạo y đẹp, lại từng lập chiến công trên chiến trường, lại sở hữu thêm thân phận vương gia hoàng tộc, càng thêm phần uy nghiêm. Y viết gì thì các tiểu cô nương Kiến Bình cũng đều mê mẩn. Đến nay Thanh Hà Vương tập vẫn bán chạy như tôm tươi, danh tiếng thi nhân lừng lẫy nhất cũng chỉ đến thế, khiến bao người ghen tị.


Thế nhưng trên thực tế, chính Cao Hoài Du còn hận không thể thu hồi hết những tập thơ ấy mà đốt sạch. Y thật sự chỉ viết bừa, cố ý dẫn dắt theo hướng tục tằng hạ lưu. Nhưng ai bảo dung mạo và khí chất y lại quá xuất chúng. Sự 'hạ lưu' của Thanh Hà Vương sao có thể gọi là tục tằng? Đó là phong lưu!


Y tự biết mình tài năng thiếu sót, vì thế nên càng được khen thì càng thêm khó chịu.


Hoàng đế nghe lời nịnh nọt của quần thần thì càng thêm đắc ý, khoe khoang rằng: "Thanh Hà Vương xuất thân võ tướng, trẫm cứ ngỡ thi văn ắt phải hào sảng phóng khoáng, nào ngờ phong cách lại dịu dàng tinh tế đến vậy."


Cao Hoài Du liếc Nguyên Hồng một cái, khẽ nói: "Bệ hạ!"


Người khác thì thôi, nhưng Nguyên Hồng còn đứng đó kia mà, sao lại dạy hư trẻ nhỏ!


Dù cho y không viết gì quá lộ liễu, nhưng ví hoa với thiếu nữ chờ đợi tình lang đã lâu, vẫn mang chút hương vị diễm tình. Người lớn "đứng đắn" còn chưa chắc tiếp nhận nổi, huống chi Nguyên Hồng vẫn chỉ là đứa trẻ.


Nguyên Hi cười tủm tỉm cất trang thơ ấy đi, rốt cuộc cũng buông tha cho y.


Mưa ngoài kia đã không còn nặng hạt như ban đầu, chỉ còn những hạt nước tí tách mịn màng, tiếng mưa dịu nhẹ. Lại qua nửa canh giờ, mưa mới tạnh hẳn. Mọi người rời tiểu lâu, tiếp tục lên núi.


Trên núi Yên Hà có một ngôi chùa cổ, ngày thường vắng vẻ, chỉ đến dịp lễ Tết, dân chúng Ngọc Kinh mới rời thành lên dâng hương, lúc ấy hương khói mới nồng nàn nhất.


Lúc này trong chùa ít người, cơn mưa vừa tạnh khiến chốn này càng thêm phần thanh tịnh.



Đoàn người tiến vào chính điện dâng hương. Nơi này ngoài tượng Phật còn treo chân dung của hoàng đế Đại Ngụy. Trên bức họa, Nguyên Hi vận triều phục thiên tử mà đứng. Bút pháp của họa sư quả thực xuất thần nhập hóa, lại còn điểm thêm một vòng hào quang rực rỡ sau lưng hắn.


Người đến dâng hương nơi này, muốn lạy Phật thì phải lạy luôn cả hoàng đế.


Nguyên Hi đương nhiên chỉ thắp hương, không quỳ lạy. Hiện giờ hắn đã ngang hàng thần Phật, chỉ có phần thụ lễ, chứ không có phần hành lễ.


Việc này chính là công dụng của Lý Tông Viện do hắn lập ra: lạy thần Phật phải lạy hoàng đế trước. Tăng nhân trong thiên hạ nay muốn xuất gia đều phải qua Lý Tông Viện khảo hạch, kẻ nào qua được mới được tiếp tục tu hành. Ai nấy đều phải có học thức, kinh thư gì cũng phải giảng giải ra một đạo lý có lợi cho hoàng quyền.


Nào là hoàng đế chính là thiên thần, ngang hàng chư thiên thần Phật, là tri kỷ của thần này Phật nọ, xuống nhân gian vốn là để thử thách con người. Ở nhân gian phải tin hoàng đế trước, rồi mới tin thần Phật. Hoàng đế hài lòng rồi, các vị tri kỷ thần Phật kia mới cho tu đạo thành tiên.


Muốn tu hành không nhất thiết phải xuất gia. Chỉ cần cày cấy chăm chỉ, sống tốt cuộc đời mình thì cũng là tu hành. Còn muốn xuất gia để trốn sưu cao thuế nặng thì là hành động đáng xấu hổ, thần Phật sẽ không dung!


Dù người ta có tin hay không, toàn bộ chùa chiền thiên hạ nay đều thuộc triều đình quản lý. Bất kể môn phái nào, cũng phải theo quy củ của hoàng đế.


Cao Hoài Du bước lên khom mình hành lễ, trong lòng thầm cầu nguyện, sau đó đứng dậy cắm hương vào lư.


Bái Phật xong thì trời đã muộn. Mọi người về hậu viện dùng cơm chay.


Nguyên Hi vừa bước qua ngưỡng cửa, liền khẽ hỏi y: "Ngươi cầu nguyện điều gì thế?"


Cao Hoài Du mỉm cười lắc đầu: "Nói ra thì không linh nữa."


Nguyên Hi chẳng để tâm: "Chính điện kia vẫn còn treo chân dung của trẫm kia mà. Có nguyện vọng gì cứ thẳng thắn nói với trẫm, hà tất vòng vèo xa xôi."


Cao Hoài Du ngẩn ra, đáp: "Thần... chỉ nguyện bốn bể thanh bình, được cùng bệ hạ bên nhau trọn đời."


Tâm nguyện này dường như chỉ có Nguyên Hi mới giúp y thực hiện được.


Thần Phật gì chứ, làm sao giúp y thực hiện được ước nguyện ấy? Chỉ riêng "bốn bể thanh bình" đã chẳng phải lạy Phật là xong.


Nếu thần Phật có thể giúp y được toại nguyện, y kiếp trước hà tất phải khổ suốt tám năm trời.


Bệ hạ của y tốt đẹp như thế, thế mà lại bị hãm hại mà băng hà sớm. Nếu thần Phật có mắt, sao không để bệ hạ thống nhất thiên hạ, chấm dứt loạn thế?



Thần Phật từ bi, vậy tại sao lại chẳng đoái hoài đến trăm năm khổ đau của dân chúng trên mảnh đất này?


Thần Phật không đáng tin. Chỉ có bệ hạ mới đáng tin.


"Tâm nguyện của thần, chỉ có thể trông cậy vào bệ hạ..." Cao Hoài Du ánh mắt gần như thành kính, "Thần không tin thần Phật, chỉ tin bệ hạ."


Nguyên Hi dường như bị ánh mắt ấy lay động, không khỏi trở nên nghiêm nghị hơn: "Trẫm tất sẽ ban cho khanh một đời thịnh thế."


Dẫu vậy, trước mắt vẫn phải no bụng đã.


Trụ trì dẫn năm sáu tăng nhân mang cơm chay đến, gần bằng nửa số người còn lại trong ngôi chùa lớn này.


Nguyên Hi lập Lý Tông Viện, buộc tăng nhân trẻ tuổi hoàn tục về quê. Ai muốn ở lại phải qua khảo hạch mới được tiếp tục xuất gia. Tăng nhân toàn thiên hạ, tám chín phần đều không qua được, đành phải hoàn tục. Ngôi chùa ở núi Yên Hà này xưa kia có gần trăm tăng nhân, nay chỉ còn hơn chục người.


Nguyên Hi dẫn quan viên ra ngoại ô du xuân, cũng nhân tiện xem xét kết quả của Lý Tông Viện do mình lập.


Nay xem ra vài tháng trôi qua, quả thực đã có hiệu quả rõ rệt.


Hơn chục tăng nhân còn lại đều hành xử rất cung kính với Nguyên Hi. Phật cũng không lớn bằng hoàng đế.


Sau một phen chỉnh đốn, tăng nhân thiên hạ phần lớn đều như vậy. Nguyên Hi bảo họ thuyết phục người ta thì họ thuyết phục. Người ta tin hay không cũng chẳng sao, dù không tin cũng không còn cảnh chùa chiền chiếm đoạt ruộng đất, gom góp của dân như xưa.


Có kẻ chọn xuất gia chẳng phải vì chùa có tín đồ liên tục dâng tiền, chẳng cần làm gì cũng có người nuôi sao?


Đã vậy còn cho vay nặng lãi, người ta không trả được thì lấy ruộng đất thế nợ. Việc thôn tính ruộng đất như vậy, chẳng khác gì đám quan lại, hào tộc lớn.


Làm quan còn phải nhờ tổ đức hoặc tự mình thi cử công danh. Làm tăng nhân thì dễ hơn nhiều.


Nhưng ở đâu cũng vậy, chẳng ai muốn chia phần của mình cho kẻ mới đến. Trước kia, muốn xuất gia cũng phải đáp ứng điều kiện, chỉ là những điều kiện ấy không do Lý Tông Viện đặt ra, càng không cần thi cử gì cả. Toàn do những người có tiếng nói trong chùa tự bày ra: ai muốn xuống tóc thì phải thỏa mãn họ. Thường là bị bắt làm việc vặt nhiều năm, lại phải cúng một khoản tiền lớn, lấy cớ để "xem lòng thành". Kết quả là chùa vừa có thêm một đám người làm không công, vừa thu về một khoản tài sản khổng lồ.


Nhưng như thế vẫn dễ hơn đọc sách thi cử nhiều. Làm vài năm, cúng chút tiền là gia nhập hàng ngũ xuất gia, không lo ăn lo mặc, lại làm được những việc chỉ quan lại, địa chủ mới làm. Ai mà chẳng động lòng.


Vốn dĩ tầng lớp quý tộc đã cho vay nặng lãi, kiêm chiếm ruộng đất của dân, đủ khiến hoàng đế đau đầu. Nay đến lượt dân thường cũng đổ xô vào chùa mà làm như thế, thử hỏi một quốc gia sao không suy sụp cho được?



Đây đều là tệ nạn mà tiền triều để lại. Nguyên Hi không muốn Đại Ngụy mới dựng đã biến thành Đại Lương, đương nhiên không thể để mặc được.


Nhưng dọn dẹp chùa chiền vẫn dễ hơn nhiều so với động đến những đại địa chủ thực sự. Giới quý tộc thượng tầng, Nguyên Hi chưa thể ra tay ngay, đành tạm thời để Cao Chương ở đất Yên từng bước xử lý mấy hào tộc cũ không mấy liên quan đến Đại Ngụy. Còn chùa chiền vốn không quyền thế, thì lúc nào cũng có thể đụng tới.


Nay đến cả tiền hương hỏa của tín đồ cũng bị Nguyên Hi thu vào quốc khố. Số tăng nhân còn lại nếu thi đỗ thì phải trông vào Lý Tông Viện mà lĩnh bổng lộc sinh sống. Khoản ấy chỉ đủ ăn đủ mặc, ngoài ra không được mưu cầu gì thêm. Đã chọn xuất gia, có ăn có mặc chẳng phải đã đủ rồi sao? Còn nuôi dưỡng h*m m**n khác, thì là tu hành chưa tới nơi tới chốn, lấy gì xứng với thần Phật mà họ tôn thờ?


Lợi ích đã chẳng còn bao nhiêu, lại thêm điều kiện xuất gia nghiêm ngặt, nên lòng người muốn vào chùa cũng dần nguội lạnh. Lý Tông Viện được lập chưa đầy vài tháng, ruộng đất tịch thu đã được chia lại cho dân, người hoàn tục về quê cày cấy ngày một đông. Sang năm nếu được mùa, sản lượng lương thực e rằng sẽ tăng gấp đôi so với trước.


Nguyên Hi giảm thuế lương thực ba năm để dân thở. Nhưng xét kỹ, người cày cấy nhiều hơn, nên dù thuế giảm, tổng lượng thuế thực thu vẫn còn cao hơn trước.


Vài năm nữa, binh cường mã tráng, lương thực dư dả, chính là lúc thích hợp để Nam chinh diệt Trần.


Hiện giờ là Nguyên Định năm thứ nhất, hắn phải tiêu diệt Nam Trần trước Nguyên Định năm thứ năm.


Nếu Lâm lão thần tiên cũng bó tay với vu độc Ô Hoàn, thì thọ mệnh của hắn chỉ còn lại ba mươi hai năm. Trong năm năm này, hắn phải hoàn thành mọi việc: diệt Nam Trần, trừ tệ nạn, trấn áp các thế lực ngầm trên dưới Đại Ngụy, để Nguyên Hồng có thể bình yên kế vị.


Xưa kia, hắn không ngờ mình lại ra đi sớm đến vậy. Nay đã biết, đương nhiên phải có chuẩn bị.


Đến ngày thiên hạ thống nhất, cùng Cao Hoài Du bên nhau... dù chỉ năm năm, cũng không còn gì tiếc nuối.


Cơm dù chỉ là đồ ăn chay, nhưng đều tươi ngon hợp khẩu vị. Trong cung Nguyên Hi ngày nào cũng dùng đồ thanh đạm, thỉnh thoảng ra phủ Thanh Hà Vương ăn ké mới được thưởng thức vị nặng, nên hắn cũng quen rồi.


Dùng bữa xong lại theo trụ trì đi dạo quanh chùa một vòng. Nguyên Hi muốn nghỉ ngơi rồi về thành. Nguyên Hồng thì ngồi không yên, vẫn muốn chạy ra hậu sơn chơi. Nguyên Hi cũng chiều cậu. Trẻ con cả ngày ở trong cung, khó khăn lắm mới ra ngoài, chơi thêm chút nữa cũng chẳng sao.


Dặn dò thị vệ chăm sóc kỹ Tấn Vương, Nguyên Hi liền cùng Cao Hoài Du ngồi trong đình hóng gió.


Mưa vừa tạnh, trời se lạnh. Cao Hoài Du khoác áo choàng cho Nguyên Hi, ngồi bên cạnh hắn.


Chỉ ngồi chờ Nguyên Hồng về cũng chán, Nguyên Hi bèn rủ y đánh bài lá. Kết quả thua thảm hại. Nguyên Hi lại đổi trò khác chơi tiếp. Vốn dĩ hắn chẳng rành mấy trò này, chỉ biết sơ sơ luật chơi, kỹ năng kém đến mức khó tin, vậy mà hắn vẫn không phục, cứ muốn thắng.


Còn Cao Hoài Du năm xưa ở Kiến Bình lêu lổng với hoa khôi, mấy trò này đã thuộc nằm lòng, muốn thua còn khó. Cuối cùng đành cố ý nhường đối phương vài ván, mới dỗ được Nguyên Hi vui vẻ.


Nguyên Hi thắng liền ba ván, rốt cuộc cũng mãn nguyện, sai người dọn bài, đứng dậy đi tản bộ.



Yên Hà tự này cũng là chùa cổ, năm xưa do hoàng gia xây dựng, trong chùa còn dựng bia do tiên đế tự tay đề chữ. Phía hậu sơn còn có hành cung hoàng gia, song nay đã đổ nát gần hết, chỉ còn lại vài tiểu lâu, chủ yếu dùng để ngắm cảnh.


Chùa do hoàng gia xây, quy cách đương nhiên không tầm thường. Nay chỉ còn hơn chục tăng nhân, muốn quản một ngôi chùa lớn như vậy, chắc chắn không kham nổi. Nguyên Hi còn phải phái người Lý Tông Viện thuê thêm để đến quét dọn.


Cả ngôi Phật tự sở hữu những lối nhỏ quanh co, trông khá thú vị, khiến đây cũng được xem là danh viên nổi tiếng. Lúc hắn và Cao Hoài Du ngồi trong đình đánh bài, mấy vị văn quan kia đã đi thưởng cảnh làm thơ từ lâu. Chỉ có hai người họ chẳng biết thưởng thức, bỏ mặc mỹ cảnh, cứ ngồi đánh bài.


Lúc này thong thả bước đi, tình cờ gặp Nguyên Hồng từ hậu sơn trở về, đang dẫn thị vệ định về hậu viện. Đúng lúc đối diện một tiểu tăng trẻ tuổi đang bước vội, thấy Nguyên Hồng cũng không né, cứ thế xông thẳng mà đi.


Nguyên Hi lập tức sa sầm mặt. Đó là con trai hắn, Tấn Vương điện hạ! Tiểu tăng gặp mà không hành lễ đã đành, lại còn lao thẳng vào người? Có hiểu quy củ không! Dám vô lễ với nhi tử của trẫm như vậy!


Nhưng ngay sau đó, tăng nhân trẻ tuổi đột nhiên quỳ sụp xuống trước Nguyên Hồng.


Nguyên Hồng giật mình, vội nói: "Tiểu sư phụ làm gì vậy?"


Tăng nhân trẻ tuổi thưa: "Tấn Vương điện hạ, xin điện hạ làm chủ cho chúng tăng! Tiểu tăng muốn cáo trạng Vương Đạt ở Lý Tông Viện tham ô tiền bạc ở Yên Hà tự, dối trên lừa dưới!"


Cao Hoài Du lập tức dừng bước, quay đầu nhìn Nguyên Hi.


Thì ra là muốn cáo ngự trạng... Xem ra hôm nay không thể về sớm được rồi. 


Nguyên Hi tiếc nuối khôn nguôi. Ban đầu còn định nhân lúc mưa phùn, ôm mỹ nhân ngủ một giấc trưa thật đã...


Thầm thở dài trong lòng xong, Nguyên Hi lên tiếng: "Gọi hết tăng nhân Yên Hà tự đến Minh Nguyệt Đình."


. . . 


 


Tác giả có lời muốn nói:


Nguyên Hi: Tiểu Ngư tiểu Ngư, ngươi muốn thực hiện nguyện gì nào~ Ta linh nghiệm hơn bất kỳ ai~


Tiểu Ngư: Sống cho tốt đi đã. = ="


Trẫm Há Có Thể Làm Pháo Hôi Công Sao?
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Trẫm Há Có Thể Làm Pháo Hôi Công Sao? Truyện Trẫm Há Có Thể Làm Pháo Hôi Công Sao? Story Chương 81: Có nguyện vọng gì cứ thẳng thắn nói với trẫm, hà tất vòng vèo xa xôi.
10.0/10 từ 33 lượt.
loading...