Long Hương Bát - Tú Miêu

Chương 67: Phần 4: Son Phấn Điểm Phai (67)


Lý Linh Quân đẩy tấm vách xe sang một bên, xoay người ngồi xuống. Kẻ truyền tin cũng chen vào theo sau. Tiếng trống canh dồn dập vọng từ xa đến, như từng hồi âm đánh vỡ giấc mộng đang còn đọng lại.


Lý Linh Quân hỏi: “Ngươi nói đi.”


Sứ giả lấy lại bình tĩnh, đáp: “Lang quân còn nhớ vị tăng nhân phiên bang tên Tô Ni, năm xưa do phủ Thục vương tiến cử lên tiên đế chăng?”


Lý Linh Quân lập tức sinh lòng bất ổn: “Là hắn sao?”


Sứ giả gật đầu: “Vị tăng ấy được lệnh lưu trú tại Nam Nội, thường tụng kinh trong ngự uyển trước mặt hổ báo. Những dã thú ấy lại ngoan ngoãn phủ phục dưới chân hắn, thậm chí còn đong đưa đầu như thể hiểu ý. Cung nhân đều cho đó là dị tướng. Tiên đế nghe nói hắn tinh thông Phật lý, giỏi điều phục mãnh thú, từng triệu hắn vào giảng kinh vài phen. Hôm ấy, tiên đế đang nghe đoạn ‘Bồ Tát xả thân nuôi hổ’ trong kinh Hiền Ngu…”


Lý Linh Quân vốn cũng từng nghiên cứu kinh Phật, liền phản ứng ngay:
“Là đoạn ‘Ma-ha Tát-đỏa dĩ thân thí hổ’?”


“Chính là đoạn ấy. Tô Ni sau đó thỉnh tiên đế đến ngự uyển xem hắn hàng phục hổ dữ. Tể tướng Hoàng Phủ lúc ấy ngăn cản, nói loài hổ xứ Điền rất hung hãn, năm xưa từng gây họa ở núi Bích Kê, xin tiên đế đừng mạo hiểm…”


Lý Linh Quân nhớ lại, ánh mắt dần lạnh đi: “Đó là con hổ do người Ô Toản dâng tiến. Quả nhiên… Sau đó thì sao?”


Sứ giả đáp: “Hoàng Phủ khuyên ngăn, nhưng Tô Ni nói: hổ là vật chí dương, có thể trừ tà diệt quỷ. Tiên đế liền trách cứ tể tướng, dẫn bá quan cùng ngự giá đến ngự uyển. Sau khi Tô Ni giảng xong kinh Hiền Ngu, hắn còn tụng thêm đoạn kệ Phật sát tử. Tiên đế nghe xong không vui, định khép tội hắn thì bất ngờ con hổ ‘thuần phục’ kia lại nổi cơn điên.”


Lý Linh Quân siết chặt tay trong tay áo, thấp giọng hỏi: “Tiên đế là bị…”


“Chỉ bị thương nhẹ ở chân thôi,” sứ giả đáp nhanh, “nhưng đêm ấy, người không thể an giấc, tâm phiền ý loạn, đến nửa đêm thì đột ngột phát chứng đau đầu cũ, thái y và các quan kịp đến thì đã… băng hà rồi.”


Lý Linh Quân trầm giọng hỏi tiếp: “Lúc tiên đế phát bệnh, là ai hầu cận?”


“Là tiệp dư họ Thôi. Nhưng người này thần trí không tỉnh, lời nói lộn xộn, hiện đã bị giam trong Dịch đình.”


Lý Linh Quân xưa nay vốn không ưa Thôi thị, bèn nói: “Truyền tin về kinh đô, người này không cần giữ lại nữa.”



“Tuân mệnh.”


“Còn tên tăng nhân Tô Ni kia…” Lý Linh Quân cau mày. Tô Ni là người do phủ Thục vương tiến cử, nếu tra xét thật, thì e rằng phe Tề vương, Tiết Hầu sẽ mượn cớ làm lớn chuyện. Nay đại quân của các trấn vẫn đang rình rập, chẳng thể để sơ suất. Hắn lập tức hạ lệnh: “Đổi một con ngựa tốt, cấp tốc hồi kinh. Còn về Tô Ni, tạm chưa định tội. Truy xét xem hắn có phải là chịu sự sai khiến của người Ô Toản hay không.”


Sứ giả khẽ ngắt lời: “Tô Ni đã chết rồi. Hổ nổi điên làm loạn, chính hắn là người đầu tiên lao ra chắn trước.”


Lý Linh Quân thoáng kinh ngạc. Một người tinh thông việc điều phục mãnh thú, cuối cùng lại chết dưới nanh vuốt chính con hổ mình nuôi?


Sứ giả nói tiếp: “Thế nên lời đồn trong cung ngày càng huyền hoặc. Có kẻ bảo hắn bắt chước Phật tổ, xả thân thí hổ. Còn nữa…”


Sứ giả liếc nhìn Lý Linh Quân, gương mặt thoáng nghi hoặc: “Sau khi tiên đế băng hà, hoàng thượng cho người lục soát thiền phòng của Tô Ni. Dưới gối hắn có cất một chiếc trâm cũ của phi tần họ Vi. Lang quân không thấy hắn có vài phần diện mạo giống nữ nhân sao? Vậy nên có cung nhân đồn rằng hắn là hóa thân chuyển kiếp của Vi phi, hy sinh dưới miệng hổ là để báo đáp ơn nghĩa xưa kia của tiên đế.”


Lý Linh Quân trầm mặc hồi lâu, rồi bỗng cười nhạt: “Vi thị và tiên đế… quả là tình sâu nghĩa nặng.”


Sứ giả cẩn thận dò hỏi: “Lang quân cũng tin rằng… hắn là Vi phi chuyển thế?”


“Có lẽ vậy,” Lý Linh Quân mỉm cười, nét mặt vừa châm biếm, vừa cảm khái, “Đã đền đáp ân tình rồi, theo tiên đế mà đi, vậy thì từ nay không ai được nhắc tới cái tên Vi phi nữa.”


Lý Linh Quân đẩy cửa xe, hít một hơi gió mát đêm khuya. Sứ giả đang lui xuống thì được nhắc thêm: “Hổ xứ Điền hung hãn, phải bắt giết hết. Còn hương liệu, trà, thuốc, khí cụ do Ô Toản tiến cống, tạm thời không được dâng vào cung. Tất cả niêm phong, chờ tra xét.”


Bên ngoài, Ông Công Nhụ đang ghé tai lắng nghe. Sứ giả đã phóng ngựa vào bóng đêm đen đặc, còn ông thì ngoái nhìn gương mặt nghiêng của Lý Linh Quân. Nửa canh giờ qua, chính ông lúc thì mừng, lúc lại sợ, lòng đầy rối loạn. Nhưng người kia, vẫn trầm tĩnh như mặt nước.


“Hoàng Phủ Đạt Hi có lệnh triệu Hoàng Phủ Cật hồi kinh chăng?”


“Giờ mà hồi kinh, chẳng khác nào bước vào hang rồng miệng cọp.” Ông Công Nhụ đáp, “Y hiện đang trấn giữ Kiếm Xuyên cùng Vệ Khang Nguyên.”


Dãy Cát Lĩnh vắt ngang dưới ánh trăng lạnh. Nơi đây không có tiếng nhạc tấu ca múa như Trường An, chỉ có bóng núi im lìm, tịch mịch. Phía sau dãy núi ấy, Thổ Phiên và Ô Toản vẫn đang ngấm ngầm rình rập.


Lý Linh Quân nhẹ giọng: “Chuyến hồi kinh lần này, cũng không thể ở lâu”



“Ngươi cho rằng hắn sẽ tự chui đầu vào rọ sao?” Lý Linh Quân phất tay, buông rèm xe xuống.


Trong tâm trí hắn lại hiện lên hình bóng người phụ nữ ấy, người đi bên bạch hổ giữa làn sương trắng.


Hoàng Phủ Nam.


Tại vùng đất Ô Toản, A Xá vừa xuống núi. Nàng trông thấy La Cư Tử vừa khải hoàn trở về, cưỡi ngựa hiên ngang, ngạo nghễ. Dù Trung Nguyên đang quốc tang, Cát La Tố cũng chỉ gửi tấu biểu tế lễ lấy lệ, sáu bộ người Ô Toản chẳng ai coi trọng, vẫn mặc y phục thêu hoa, vẫn uống rượu quay vòng như chẳng có gì xảy ra.


Nước Mi Thần diệt vong, một lũ nô lệ An Nam bị bắt giải về, chuẩn bị đày đi Lệ Thủy đãi kim.


A Phổ Đỗ Mục cưỡi ngựa ,dùng roi xua đuổi một tên nô lệ An Nam đang quỳ lạy cầu xin. Trận chiến vừa rồi đối với hắn chỉ là chuyện nhỏ, không mấy thương tổn, nhưng nét mặt hắn lại vô cùng lãnh đạm.


Thành đá đã dựng xong, bao bọc lấy núi Bích Kê. Dù Đạt Nhã từng chế giễu đề nghị xây thành của hắn, cuối cùng vẫn cho dựng bia dưới chân núi, khắc lên hai chữ Hán: “Thác Đông”.


A Phổ chẳng buồn nhìn kỹ mấy chữ ấy, chỉ xua lũ nô lệ vào trại rồi quay về thành Thái Hòa. Theo sau hắn là đám con trai, cũng vận giáp da, mang theo cung kiếm. Bọn chúng không còn cười cợt như xưa, mà đã bắt đầu mang theo sát khí lạnh người.


Đạt Nhã thỉnh đại Điểu vàng từ núi Ai Lao về, lập miếu thờ. A Xá đứng bên cạnh, lặng lẽ nhìn bà ném từng miếng thịt khô vào cho chim điêu ăn.


Con Điểu đậu trên trụ sắt, kéo xích vang lên loảng xoảng. Đạt Nhã nhếch môi cười: “Giỏi cho A Phổ. Hai tháng không gặp, chẳng gọi một tiếng cô cô, cứ thế phủi mông chạy về nhà Cát La Tố.”


Nàng liếc sang A Xá một cái: “Đừng xụ mặt ra thế. Người ta còn chẳng thèm liếc ngươi lấy một cái.”


Lông mi của A Xá khẽ run, nàng cúi đầu nói khẽ: “A Tô La Tắc chết rồi.”


“Suỵt.” Đạt Nhã đưa ngón tay đặt lên đôi môi mềm của nàng: “Chết là Tô Ni, chứ không phải A Tô La Tắc. Ngay cả nhà Cát La Tố còn không dám thừa nhận, ngươi hét cái gì?”


Đạt Nhã tỏ vẻ thờ ơ: “Trong lòng A Tô La Tắc, vốn chẳng có Ô Toản. Cậu của ngươi không nhắc, ta cũng không nhắc, A Phổ mới từ Mi Thần trở về, thì biết được bao nhiều?”


A Xá lộ vẻ bực bội: “Người đừng mượn danh nghĩa của con để kết giao giả tạo với người Hán nữa.”



Đạt Nhã cười khẩy: “Loài súc sinh, không thấy máu thì chẳng chịu động đậy.” Gương mặt bà chợt nghiêm lại: “Chết mới có một lão hoàng đế, còn Giao Châu vẫn nằm trong tay người Hán, mối thù của chúng ta, chưa trả hết đâu.”


A Xá đi cùng Đạt Nhã quay về trại. Từ trong rừng trúc rậm rạp, con bạch hổ lao ra, quấn quýt chạy vòng quanh. Chơi đùa nửa buổi, lông nó rối tung, mắt long lanh sáng, toàn thân dính đầy trái ké. Đạt Nhã không thích bạch hổ, vì nó cứ thích bất ngờ lao vào trại, nhảy chồm lên ngực đám A mi tử (các cô gái trong trại).


“Lén lút chẳng ra gì, giống hệt đứa con nhà Cát La Tố.”


A Xá liếc nhìn, thấy trên cổ bạch hổ có treo tấm thẻ gỗ Chi Cách A Lỗ. Thừa lúc Đạt Nhã không để ý, nàng tháo thẻ xuống, nắm chặt trong tay.


Đến bờ suối sâu trong rừng trúc, A Xá gỡ khăn trên đầu, nhúng vào nước rồi vắt lên nhánh tre phơi khô. Nàng nằm xuống đất, mùi cỏ cây hăng hắc như đang bốc hơi.


Gương mặt ngược sáng của A Phổ hiện ra trước mắt. Đôi mắt hắn sáng rực, phản chiếu bóng tre xanh, môi đỏ hồng mang sắc xuân của tuổi trẻ. Hắn cúi đầu, bất ngờ đặt một nụ hôn mạnh lên môi nàng.


Chưa kịp để A Xá phản ứng, hắn đã cởi giáp da, ôm nàng lăn một vòng trên cỏ. A Xá kéo cổ áo hắn xuống, thấy từ hõm vai đến ngực đều là cơ bắp rắn chắc, không có vết thương mới. Hắn có vẻ càng thêm khỏe mạnh, vẫn cười cợt, bất cần đời.


A Phổ dang tay nằm ngửa ra, mặc cho A Xá chạm vào mình. Hắn đã biết kiềm chế hơn xưa, không còn nóng nảy chỉ vì một cái chạm nhẹ.


Hắn vuốt tóc đen của A Xá ra sau tai, hỏi: “Trời chưa tối, sao nàng đã đến?”


A Xá chợt nhớ lời Đạt Nhã, trong lòng không vui: “Phải đợi đến tối mới được sao? Không thể để người ta thấy à?”


“Ây, ban ngày không tiện mà…” A Phổ buông nàng ra, nhắm mắt nằm yên trên cỏ, lông mi đen dày che phủ đôi mắt mệt mỏi. Hắn vừa từ Mi Thần trở về, chưa có thời gian nghỉ ngơi, mắt vừa khép đã nghe tiếng thở đều đều.


A Xá ngồi bên cạnh, ngậm một chiếc lá trúc trong miệng, thổi thành tiếng ríu rít như chim sơn ca. Nàng có nhiều bản lĩnh mà ngay cả đám con trai cũng không bì kịp: trèo cây, bắn tên trúc, thuần phục chim ưng… nhưng không bao giờ khoe mẽ trước người ngoài — nàng thừa hưởng sự khôn ngoan và giảo hoạt từ Đạt Nhã.


A Phổ kéo tay nàng đặt lên ngực mình. A Xá ngây ngẩn nhìn khuôn mặt tuấn tú của hắn, rồi lại nghĩ đến đám nô lệ vừa bị dồn vào trại, trong đó cũng có những kẻ trẻ trung, nhu mì, mặt mũi ưa nhìn. Nàng giục hắn: “Nói đi, Mi Thần ra sao?”


A Phổ chẳng khoe khoang chiến công, cũng không kể khổ: “Cũng vậy thôi, chẳng có gì đáng xem cả, không như ở ngoài bãi.”


Nghĩ một lát, hắn nói thêm: “Người Mi Thần như bầy cừu, không hung dữ như đám Thổ Phiên.”



A Phổ mở mắt, tròng đen như mực, nhìn nàng chăm chú: “Lúc đánh Hán nhân mới không nhẹ nhàng đâu. Có thể ta sẽ bị thương… nàng sẽ xót chứ?”


A Xá nhíu đôi lông mày thanh tú lại.


A Phổ nói thì thế, nhưng gương mặt lại rất thản nhiên: “Người Hán thay hoàng đế rồi.”


A Xá lạnh lùng đáp: “Hoàng đế già khọm, chết là phải.”


A Phục lườm nàng: “Nghe nói, mẫu thân nàng toan kết thân với Vệ Khang Nguyên?”


A Xá nhìn sang nơi khác: “Vệ Khang Nguyên và Trương Mãng Tra có thù cũ. Năm xưa cháu trai Trương Mãng Tra phạm quân kỷ, bị chém đầu ngay dưới trướng Vệ Khang Nguyên. Cuộc hôn sự này đâu thể thành cứ để người Hán chúng tự cắn xé nhau, chẳng tốt sao?”


A Phổ kéo mặt nàng lại: “A Xá, ta không thể mang họ Đoàn. Nếu cô cô không cần ta, nàng theo ta về thành Thái Hòa đi.”


A Xá uốn éo người, bướng bỉnh chẳng kém gì Đạt Nhã: “Nhà Thi Lãng rất tốt, không đi đâu cả.”


A Phổ vòng tay ôm nàng, mắt lóe lên tia nghịch ngợm, thì thầm bên tai: “Vậy thì… ta và nàng về trại? Cô cô không có nhà chứ?”


Hắn nghĩ đến chiếc giường trúc phủ màn thêu trong phòng A Xá, bên trên trải chiếu lau trắng tinh, mỗi khi động đậy lại kêu kẽo kẹt nghe đến nao lòng.


“Có mẹ ta ở nhà đấy.” A Xá cười khúc khích: “Bà bảo, ai dám lẻn vào trại lúc trời tối, sẽ bị bạch hổ cắn gãy chân.”


“Tiểu A Xá bây giờ phản bội rồi à?”


A Xá kéo tai hắn, trêu chọc : “Tiểu A Xá giờ đã đổi họ sang Đoàn rồi đấy.”


A Phổ nhìn nàng thật gần, ánh mắt A Xá long lanh như nước xuân, lấp lánh sắc vàng như kim cương vỡ vụn. Nụ cười trên mặt hắn dần tắt đi, chợt thốt lên: “A Tô La Tắc chết rồi, nàng biết không?”


A Xá sững người.


Ngón tay cái của A Phổ vẫn đặt trên môi nàng, vô thức mân mê nhẹ.
Hắn nói khẽ: “Là nàng tiến cử A Tô vào phủ Thục vương phải không Nàng biết rõ, hắn vào kinh là đi chịu chết… đúng không?”


Long Hương Bát - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu Story Chương 67: Phần 4: Son Phấn Điểm Phai (67)
10.0/10 từ 25 lượt.
loading...