Long Hương Bát - Tú Miêu

Chương 4: Phần 1: Ngân Thương Bích Nhĩ (4)


Doãn Tiết bước đi dọc hành lang. Phòng nghị sự kề bên là thư phòng, cửa gỗ chỉ khép hờ. Ngọn bồ đề ngoài cửa sổ treo lủng lẳng một chiếc ná bằng gỗ dương già, lá cây rậm rạp tầng tầng lớp lớp, đến một cọng lông chim cũng không thấy sót lại. Chẳng trách bầy chim chẳng kêu nổi một tiếng. Chắc lại là trò quấy phá của A Phổ Đỗ Mục.


A Phổ lại đang bày trò gì đây? Doãn Tiết rón rén bước tới, đẩy cửa thư phòng, vốn định bất ngờ quát lớn, bắt quả tang A Phổ một trận, nào ngờ vừa mở cửa liền thấy A Xá đang ngoan ngoãn cúi đầu bên án thư.


A Xá hơi hoảng, ngẩng đầu lên, chớp mắt một cái, gọi khẽ: “Doãn sư phụ?”


Tiếng “sư phụ” ấy khiến lòng Doãn Tiết bất giác áy náy. Ông vốn mang danh là thầy dạy của A Phổ Đỗ Mục, được Cát La Tố đích thân thu xếp thư phòng này, giao ông dạy chữ Hán và lễ nghi cho A Phổ. Thế mà suốt hai năm, số lần A Phổ cầm đến bút chỉ đếm trên đầu ngón tay. Doãn Tiết thì mắt nhắm mắt mở, làm ngơ cho qua chuyện.


“A Phổ lại trốn rồi à?” Doãn Tiết cau mày, thấy trên án của A Xá chất một chồng sách lụa và thư tịch, bèn hỏi: “Ngươi đang làm gì đó?”


“Con đang học viết chữ.”


Doãn Tiết cầm lên hai cuốn, một là bản giải nghĩa Kinh Trịnh, một là từ điển chữ Hán. Lại liếc qua nét bút của A Xá, thần sắc ông dịu lại. Nét chữ của A Xá rất ngay ngắn. Những bản kinh Phật chữ Hán mà Sa Sa thu được, đều giao cho A Xá sao chép lại.


Doãn Tiết ôm tâm thế bù đắp phần nào, nhẹ giọng dặn: “Ngươi viết thêm một đoạn cho ta xem.”


A Xá ngoan ngoãn đáp “vâng”, nhưng lại đưa cán bút kê dưới cằm, mặt hiện vẻ chần chừ.


Doãn Tiết dịu dàng bảo: “Không cần gấp, nghĩ kỹ rồi hãy viết.”


Ông mở rộng cửa thư phòng để ánh sáng lọt vào, soi sáng căn phòng. A Phổ không chịu học thì thôi, nhưng nơi này quả là chốn yên tĩnh thích hợp để đọc sách.


Ông bước tới dạo quanh kệ sách một vòng, quay đầu nhìn lại thì thấy A Xá chỉ đang dùng đầu ngón tay mân mê lớp sơn đỏ trên thân bút, tâm trí rõ ràng đã lạc đi đâu mất. Doãn Tiết khẽ cười: cũng chẳng khá hơn A Phổ là bao. Trong lòng ông bắt đầu cảm thấy mất kiên nhẫn.


Bất chợt A Xá liếc ông một cái, con bé này rất giỏi quan sát sắc mặt người khác, rồi mỉm cười nói: “Doãn sư phụ, người có muốn uống trà không? Con có dâu tằm, mời người ăn.”



Trên án còn đặt một chiếc hộp tử đàn và một túi gấm dệt kim tuyến. Trong túi là đầy ắp quả dâu tằm chín mọng, đỏ tím. Doãn Tiết cảm ơn một tiếng, xắn tay áo, nhón lấy một quả bỏ vào miệng. Dâu mới hái, chua ngọt đậm đà, nước đầy trong miệng. Ăn xong một nắm, ông vẫn chưa thấy đã, vừa định đưa tay mở nắp hộp thì A Xá đã nhanh tay hơn một bước, thản nhiên đẩy chiếc hộp qua một bên, đồng thời cũng khẽ dịch mớ thư tín màu hồng nhạt sang phía xa.


Doãn Tiết cúi đầu nhìn hai bàn tay mình đã bị nhuộm đỏ bởi nước dâu, chợt tỉnh ngộ. A Xá sợ ông làm bẩn hộp và giấy viết của nàng. Xấp hoa tiên của nàng là loại mới chế, mỏng nhẹ tinh xảo, sắc xanh lá mơ và vàng nhạt, lại in hoa điểu nhân vật, bên trên còn thoảng hương thơm.


Doãn Tiết xoa tay, ngắm nghía xấp giấy hoa của nàng, rồi khẽ nói :” Loại giấy này quý lắm đó”


A Xá cười tươi như hoa: “Doãn sư phụ cũng thích ạ? Không khó tìm đâu, dì cho con cả chồng lớn.” Nói rồi nàng cẩn thận xếp tập giấy còn lại, đặt bên tay ông.


“Con tặng người để viết thư. Dượng còn có bút lông thỏ của Gia Cát, để con xin về cho người luôn nhé!”


Doãn Tiết luống cuống lau tay, mặt dày nhận tập giấy: “Bút thì không cần đâu, không cần…”


Ông chẳng thể cưỡng nổi sự chu đáo ấy, đành nén lòng ngồi xuống, nhìn A Xá nghiêm túc cầm bút, viết hai chữ “Giang Nam”. Doãn Tiết lấy làm lạ, hỏi: “Ngươi viết thơ hay thư vậy?”


A Xá đáp: “Thưa sư phụ, xưa người Hán có bài thơ, kể rằng hai bằng hữu, một ở phương Bắc, một ở Giang Nam, người ở Giang Nam vì nhớ bạn mà gửi cành mai đến. Có câu thơ: “Giang Nam vô sở hữu, tặng quân nhất chi mai”, người có đọc chưa? “


“Chẳng phải là “tặng quân nhất chi xuân” sao? Trước đó còn có câu ‘Chiết hoa phùng dịch sử, ký dữ Lũng Đầu nhân’. Bài thơ của Lục Khải tặng Phạm Diệp, đúng chứ?”


A Xá vui mừng gật đầu lia lịa: “Đúng rồi, đúng rồi! Doãn sư phụ quả là người học rộng hiểu sâu. ”


Nàng không chút do dự chép cả bài thơ lên tờ hoa tiên, câu cuối thay bằng “tặng quân nhất hạp mai”. Rồi thổi khô nét mực, cẩn thận nhét vào phong bì. Mặt sau phong bì đã ghi sẵn: “Hoàng Phủ Công Cát Quân giám”.


Doãn Tiết nhíu mày: “Ai vậy?”


A Xá nói: “Là cô mẫu của con, sống ở Kinh sư. Con muốn viết thư hỏi thăm. Khi nhỏ người thường dạy con đọc bài thơ ấy, nên con gửi lại để người biết con chưa quên. Chỉ tiếc bây giờ không còn hoa mai, trong hộp này con để vài quả mai xanh ngâm đường, khắc thành hình hoa, tặng cô nếm thử.”


Nữ nô Bạch Toản trong phủ giỏi nhất là chế quả điêu khắc. Dù gửi đường xa đến Kinh đô có phần phiền toái, nhưng tấm lòng của cô nương nhỏ thật đáng quý. Có điều… Còn cái tên Hoàng Phủ Cát thì sao?



Nàng ôm chặt hộp, như thể ôm một món báu vật:” Doãn sư phụ, người thường dùng trạm dịch để gửi công văn, xin người giúp con gửi thư và mai đến Hoàng Phủ có được không?”


Doãn Tiết trầm ngâm:” Phu gia cô ngươi là phủ Hoàng Phủ – Lương Quốc công?”


A Xá thoáng bối rối: “Con chỉ biết dượng tên Hoàng Phủ Đạt Hi thôi “.


Doãn Tiết đặt lại hộp thư, lắc đầu: “Trạm dịch chỉ dùng truyền công văn. Nếu là người thường còn được, nhưng Hoàng Phủ là tể tướng người Hán, còn chúng ta là quốc chủ Ô Toản. Việc này e không tiện đâu. Hộp mai này, ngươi giữ lại mà ăn thôi.”


Mắt A Xá lập tức ánh lên thất vọng: “Thư với hộp con đều để họ kiểm tra thoải mái, cũng không được sao?”


Doãn Tiết đáp: “Muốn gửi, phải được Cát La Tố đồng ý mới được.”


A Xá nài nỉ: “Cậu con bận lắm, chờ người rảnh thì mai của con đã hóa khô mất rồi.”


Doãn Tiết vốn ghét rắc rối, chỉ biết lắc đầu. A Xá mím môi, ánh mắt trong veo như ngọc, nhưng ẩn hiện ý kiên quyết: “Doãn sư phụ, Ô Toản thần phục hoàng đế người Hán, cậu con năm nào cũng dâng trân thú dị bảo, chẳng phải là “Cảnh bỉ Hoài Di, lai hiến kỳ trân” đó sao? Lại nữa, thơ có câu: “Thực ngã tang thậm, hoài ngã hảo âm” , ăn dâu của người thì phải nhớ ân nghĩa. Người chưa đọc Mao Thi à?”


Dõan Tiết bật cười: “Mao Thi ngươi thuộc cũng khá đấy!”


A Xá liền bồi thêm: “Nếu người không giúp con gửi, con sẽ mách cậu rằng A Phổ Đỗ Mục một chữ Hán cũng không biết!”


Doãn Tiết toát mồ hôi lạnh. Tập hoa tiên vẫn còn trong tay áo ông, càng lúc càng thấy bức bối. Ông nghĩ: con bé này đầu óc tinh ranh, còn đáng ghét hơn cả A Phổ. Đành phải nhận thư và hộp mai, nhưng cũng phải dằn trước: “Đi Kinh sư mất cả tháng, tới tay phu nhân Hoàng Phủ thì mai cũng thành khô mất rồi, ngươi đừng trách ta đấy nhé.”


A Xá khẽ hừ: “Khô cũng được, còn có thể ngâm rượu. Nhưng nếu cô không trả lời thư, thì nhất định là người sợ phiền, nuốt luôn mai của con, rồi đốt mất thư. Đến lúc đó, con sẽ lại mách cậu…”


“Được rồi, được rồi” . Doãn Tiết vừa ngẩng đầu nhìn ra ngoài . “A Phổ Đỗ Mục đến kìa!”


Bên ngoài vọng lại tiếng chân rầm rập như gió cuốn, kèm theo tiếng huýt sáo, cành lá cây bồ đề trước cửa sổ bị xô nghiêng như gặp cơn mưa dữ. A Xá thò đầu ra nhìn qua khe cửa, chỉ thấy A Phổ tay cầm ná cao su bằng gỗ hoàng dương già, đang rượt đuổi con bạch hổ, thân ảnh lướt qua cổng sân, thoắt cái đã biến mất.



Nguy thật. A Xá thở phào một hơi nhẹ nhõm.


Ánh mắt Doãn Tiết vẫn dõi theo nét mặt nàng, dường như có điều suy nghĩ. Ông cất lá thư vào ngực, thản nhiên nói: “Ngươi đã có lòng hiếu thảo như vậy, cớ sao chưa từng thấy ngươi đến thăm hỏi Đoàn Đô đốc phu phụ?”


A Xá xưa nay luôn kín miệng, chưa từng nhắc đến Đoàn Bình và Đạt Nhã trước mặt Sa Sa. Trở về án thư, nàng cầm lấy bút, không kìm được mà buông lời: “Cha mẹ đã quên con rồi.”


Doãn Tiết cười, nói: “Thiên hạ sao có cha mẹ nào quên được con cái chứ?”


Ánh mắt A Xá cụp xuống, nét mặt lộ vẻ u uất chẳng giấu được, suốt ba năm qua nàng đã lén gửi vô số thư từ ra khỏi Long Thủ quan nhờ mấy đứa nhỏ như Mộc Ngáp mang giúp, nhưng chưa từng nhận được hồi âm. Đoàn Bình và Đạt Nhã đã đem nàng gả cho người Ô Toản, là không định đoái hoài tới nàng nữa rồi.


Lễ chính của tiết Sang Kan Bi Mại còn chưa tới, nhưng trong trại đã bắt đầu rộn ràng náo nhiệt. Đám nhỏ suốt ngày kéo tai A Phổ thì thầm to nhỏ, rồi sau đó chẳng thấy bóng hắn đâu từ sáng đến tối.


A Xá vốn chẳng quan tâm mấy. Mỗi ngày nàng chỉ chăm chăm đếm ngón tay, đoán xem thư của mình đã đi đến đâu rồi. Thế nhưng những tin tức rộn ràng vẫn len lỏi đến tai nàng. Nghe đâu có người từ trại Tây Xuyên mang đến một con công toàn thân trắng muốt, hét giá đến cả trăm xấp lụa. Lại có thương nhân Ba Tư râu rậm cưỡi lạc đà, trên đầu ngồi chễm chệ một con khỉ. Con khỉ đó tài ba lắm, biết mặc giày đội mũ như người, còn cầm roi thúc ngựa, diễn được cả vở tạp kịch quân hài.


A Phổ nghe nói có khỉ diễn quân hài, trong lòng như có mèo cào. Hôm sau vừa mở mắt đã chạy thẳng ra chuồng ngựa.


Sa Sa chặn hắn ngay trước cửa: “Gần cưới đến nơi rồi, ngươi còn chạy nhảy lông bông với đám nhóc hoài được sao?”


Cưới xin trong mắt A Phổ, chẳng qua là chuyện nam nữ ngủ chung một chỗ. Dạo này hắn với A Xá đã quen nằm chung giường, thành ra cũng không thấy có gì đặc biệt nữa. A Phổ đảo mắt, liền thưa:


“Con muốn đưa A Xá đi gặp A Tô La Tắc. Mấy ngày tới nàng ấy sẽ tụng kinh trong lễ.”


Ngày mốt là chính lễ tiết Sang Kan Bi Mại, Sa Sa cũng tính sẽ đi nghe A Tô La Tắc tụng kinh. Nhắc đến đứa con trai lớn, mặt bà liền rạng rỡ nụ cười. Bà rộng lòng gật đầu: “Nhớ về trước khi trời tối.”


A Xá chỉ kịp vớ lấy chiếc nón lá, đã bị A Phổ kéo xềnh xệch ra khỏi cửa.


A Xá và A Phổ cưỡi ngựa, Mộc Cát dắt theo bạch hổ, còn bọn trẻ đi theo sau, ai nấy đều đeo cung mang đao, oai phong lẫm liệt.



“Suỵt! Đó là loài Xích đuôi Bạch đỉnh.” A Phổ nhổ chiếc lá liễu trong miệng ra, từ thắt lưng rút ná ra định bắn.


Bạch hổ được Mộc Cát lén nới dây cương, bất ngờ nhảy bổ xuống nước, dọa con chim sợ hãi bay mất.


“Đồ ngốc!” A Phổ giơ roi quất vào không trung, làm bộ muốn đánh Mộc Cát.


Nhưng bọn nhỏ bỗng reo hò: “Voi lớn! Voi lớn từ chùa Sùng Thánh!”


A Phổ và A Xá vội quay đầu nhìn, bên kia cánh đồng lúa mênh mông, bốn con voi trắng khoác chăn lông, đội đồ sặc sỡ, được các tăng nhân dắt đi. Mây sớm vẫn chưa tan dưới chân núi, trông như thể đàn voi đang bước trong mây. “Chạy mau đi xem voi múa!” Bọn nhỏ ùa lên chạy như bay.


Tới thành Bạch Nhai, A Phổ lại thất vọng tràn trề. Trước mắt chỉ thấy đầu người chen chúc chật như nêm. Múa voi năm ngoái đã xem rồi, công trắng chẳng có gì lạ, trước cổng chùa Kim Quy còn buộc một con lạc đà già.


“Mộc Cát, con khỉ diễn kịch đâu rồi?” A Phổ hỏi.


Mộc Cát bảo Mộc Ngáp đang ngủ ở trại, bảo khỉ diễn thì xem đủ rồi, tối nay còn phải đi quanh ba ngôi linh miếu.


A Phổ bực mình trút giận lên Mộc Cát: “Tìm không ra gã Ba Tư râu rậm kia, ta sẽ đánh ngươi!”


Mộc Cát dắt theo bọn nhỏ, ngó nghiêng khắp nơi, chen vào giữa biển người. A Xá và A Phổ xuống ngựa, bạch hổ nằm khò khò dưới gốc bồ đề, nàng ôm lấy cổ nó, cọ mặt vào lớp lông dày mềm mại.


Mặt nàng cũng trắng, vừa trắng vừa mịn như hạt trứng cút mới bóc vỏ. A Xá cũng lim dim ngủ, môi mím lại đỏ hồng. A Phổ nhớ tới con chim Xích đuôi vừa sổng khỏi ná mình lúc nãy.


Hắn bất chợt bóp mũi A Xá thật mạnh. Đầu nàng lắc lư hai bên. “Này!” Đôi mắt mơ màng của nàng dần mở to tròn.


“Còn hai ngày nữa ngươi thành người của ta rồi.” A Phổ cố ý chậm rãi nói, biết thừa câu ấy thể nào cũng chọc nàng nổi giận.


Quả nhiên mặt A Xá lại đỏ bừng, nàng trừng mắt nhìn hắn, định nói gì đó, song chỉ giận dỗi quay đầu đi chỗ khác.


A Phổ cười ha hả, vọc tai của Bà La Mật nghịch ngợm. Rất nhiều người đến xem Bà La Mật trắng, thậm chí có người trả giá cao hơn cả công trắng để mua. A Phổ lạnh lùng từ chối, trong lòng thì kiêu ngạo khôn xiết


Long Hương Bát - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu Story Chương 4: Phần 1: Ngân Thương Bích Nhĩ (4)
10.0/10 từ 25 lượt.
loading...