Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Chương 56
Việc ấy vốn dĩ đã khó xử, nay lại thấy vương gia vẫn còn lưu tâm đến nàng, bản thân Tịch Chỉ cũng chẳng cần gì phải đi rước lấy vận xui ấy làm gì. Đang nghĩ ngợi, nha đầu đã tìm được mẫu giày đem tới. Ký Nhu tạ ơn xong, quát khẽ Vọng Nhi đang líu ríu không ngớt, rồi cáo từ đứng dậy.
Tịch Chỉ xỏ giày tiễn nàng ra tận cửa, đợi đến khi Ký Nhu xoay người rời đi, mới bất chợt ghé sát bên tai nàng, thấp giọng nói: “Vương phi đang định chủ hôn, muốn tìm cho Dư Thiệu một người vợ. Ý bà ấy là chọn trong đám nha hoàn trong phủ.”
Lời vừa dứt, đã thấy mắt Ký Nhu khẽ chớp, như chợt hiểu ra điều gì. Tịch Chỉ chỉ mỉm cười, đưa tay khẽ bóp lấy lòng bàn tay nàng một cái, rồi đứng yên tại chỗ, tiễn mắt nhìn theo bóng nàng xa dần.
Ký Nhu trở về phòng, cẩn thận chọn một tấm vải thượng hạng, đặt mẫu giày Tịch Chỉ vừa cho lên vải, cất tiếng gọi: “Lấy kéo lại đây.”
Vọng Nhi “dạ” một tiếng, vội đưa kéo đến. Ký Nhu chẳng ngẩng đầu, đưa tay ra nhận, nào ngờ vừa cầm vào thì “á” một tiếng, rụt tay lại. Nhìn xuống, lòng bàn tay đã bị đầu kéo đâm trúng, rịn ra một giọt máu đỏ tươi.
Vọng Nhi hốt hoảng, vội cầm khăn tay đè lên vết thương, rồi lục tìm hòm thuốc. Ký Nhu liền gọi giật lại, trách nhẹ: “Nhìn em kìa, hồn bay phách lạc cả rồi, nghĩ ngợi chuyện gì thế?”
Vọng Nhi chẳng còn tâm trí tìm thuốc, cầm lấy đoạn vải và mẫu giày đặt sang một bên, miệng đã vội la lên: “Tiểu thư, em lo cho người đó! Ban nãy nàng ta nói gì vậy? Vương phi muốn chọn một nha đầu trong phủ làm vợ cho Dư Thiệu, chuyện ấy thì có liên quan gì đến người?”
Ký Nhu khẽ cười, dịu dàng nói: “Em quên rồi à? Ta cũng là một nha đầu.”
Nghe vậy, mặt Vọng Nhi tái hẳn đi, cau mày bặm môi đứng yên một lúc, rồi thì thào lắc đầu: “Vương phi làm vậy đâu có được. Nếu để vương gia biết thì sẽ trách tội mất.”
Lại nghĩ đến những lời đồn râm ran trong phủ, ai ai cũng bảo thân thế của Dư Thiệu có điều không rõ ràng. Vương phi hành sự thế này, chẳng phải là cố ý gây hiềm khích giữa vương gia và Dư Thiệu hay sao? Lời ấy, thật sự khó nói ra miệng, Vọng Nhi chỉ còn biết nhìn chằm chằm vào Ký Nhu, mong nàng hiểu được ý tứ trong ánh mắt mình.
“Em cũng tin lời Tịch Chỉ sao?” Ký Nhu không thèm quay đầu lại, nhàn nhạt nói. Nàng gỡ khăn, thấy giọt máu đã khô, liền rửa sạch tay, tiếp tục cầm kéo cắt vải. “Xoẹt xoẹt” một hồi, tiếng cắt vải nghe êm tai lạ thường. Đúng là vải quý, kết cấu dày dặn mềm mại, cắt xuống ắt phát ra âm thanh dễ chịu. Ký Nhu chăm chú nghe tiếng ấy, vẻ mặt an hòa. Qua một hồi, nàng mới khẽ nói: “Chuyện này chẳng phải do vương phi làm chủ. Bà ấy không có gan đó.”
“Thế sao Tịch Chỉ lại nói là ý vương phi?”
Ký Nhu thản nhiên đáp: “Thái phi là chủ tử của nàng ta, chẳng lẽ lại nói là ý của thái phi? Em quên rồi sao, Tịch Chỉ giờ chỉ là người ‘trợ giúp vương phi quản lý công việc trong phủ’, vương phi còn ở đó, nàng ta vẫn chưa chính danh.”
“Đây… đây chẳng phải là mượn đao giết người sao?” Vọng Nhi nhíu mày, ra sức suy nghĩ, rồi bỗng chộp lấy tay Ký Nhu kéo dậy: “Tiểu thư, người mau đi cầu xin vương gia đi. Chỉ cần vương gia lên tiếng, cả vương phủ này chẳng ai dám động đến người nữa!”
Ký Nhu rút tay áo về, trách yêu: “Vương gia đang bận bao việc, đâu có rảnh mà để tâm mấy chuyện vặt này?”
Vọng Nhi vừa nghe hai chữ “chuyện vặt”, đôi mắt đã trợn lên, bộ dạng muốn liều mạng tranh cãi với nàng xem “tấm lòng của vương gia đối với tiểu thư” sâu nặng thế nào. Bị Ký Nhu lườm một cái, nàng đành lẩm bẩm không vui, lủi ra một bên.
Ký Nhu gắn đế giày xong, đặt dưới nắng hong khô. Rồi nàng dùng khăn quấn một nhúm than nhỏ, nín thở phác họa một kiểu thêu “ngũ phúc cống thọ”. Ngẩng đầu lên, thấy Vọng Nhi vẫn đứng đó lo lắng nhìn mình, Ký Nhu liền buông than, đẩy nàng một cái, mỉm cười nói: “Đừng đứng ngây ra đó, ta biết rõ trong lòng rồi. Chuyện này chưa cần vội, cứ đợi xem sao đã.”
Trong lòng nàng hiểu rõ, lúc này mà vội đến tìm Lục Tông Viễn, thì liệu chàng có sẵn sàng vì mình mà làm trái ý Thái phi hay không, còn chưa biết. Nếu thật sự làm trái, e rằng hậu quả càng thêm rối rắm , sau này trước mặt Thái phi, nàng sao còn chốn dung thân?
Tịch Chỉ đã mở lời nhắc nhở, hẳn sẽ không buông tay. Cứ chờ xem đã.
Nàng tự trấn an mình, nheo mắt nhìn ra ngoài. Ánh mặt trời phủ lên tàng ngô đồng cao lớn, in bóng loang lổ lên nền đá mài. Con vẹt dưới mái hiên líu lo hót vang , ngày tháng ở vương phủ này, e là còn dài lắm thay!
Chớp mắt đã vào tháng Mười. Trong phủ, từ nha đầu tới gia nhân đều đã đổi sang áo lụa gấm nền trắng viền lam nhạt, váy bông lót lụa. Mỗi nơi đều đốt lò sưởi sớm.
Dù Tịch Chỉ đã sớm căn dặn, trong phủ còn đang chịu tang, nghiêm cấm người hầu tụ tập vui chơi lúc đêm khuya. Nhưng đêm dài dằng dặc, mấy mụ bà có chút thể diện vẫn tụ lại nơi trực ban, sưởi lửa đánh bài, Tịch Chỉ thấy cũng nhắm một mắt, mở một mắt cho qua.
Riêng chỗ Ký Nhu lại được đặc biệt ưu đãi, thường xuyên có người mang đến những món quý vượt mức phân phát, từ hoa quả đến đồ trang trí tinh xảo, chất đầy gian noãn các vốn chẳng lớn là bao.
Hồng Hạnh cũng mấy lần được vương phi sai đến trao thưởng. Có lúc vô tình gặp người Tịch Chỉ phái tới, trong lòng có chút ghen tức, trở về liền bịa thêm bớt mà kể lại từng chữ từng câu với Phương thị.
Phương thị có lệ cố định: hễ gần vào đông là phải cho thái y kê mấy thang bổ khí trợ dương. Nghe Hồng Hạnh kể chuyện Tịch Chỉ, nàng bất giác thu tay về, ôm ngực hít sâu mấy hơi, ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo Hồng Hạnh: “Chỗ ta cũng xong rồi, nhân tiện dẫn thái y sang bên cô nương Phùng bắt mạch một lượt.”
Thế là Hồng Hạnh đưa thái y đến viện Ký Nhu. Khi ấy nàng đang ngồi trên noãn sàng, nói nhỏ với Vọng Nhi.
Vọng Nhi vốn hay quanh quẩn ở hậu điện Diên Nhuận đường, thân quen với đám thị vệ, nên hễ có gì gió thổi cỏ lay đều nghe được trước người khác. Hôm nay vừa nghe được một tin động trời, sợ đến tái mét mặt, bước chân không ngừng chạy về báo tin: “Tiểu thư, to chuyện rồi! Nghe nói Phạm Tổng binh đã dâng tấu lên hoàng thượng, buộc tội vương gia”
Ký Nhu ánh mắt trầm xuống, đặt việc thêu thùa sang một bên: “Tấu điều gì?”
Vọng Nhi cắn môi, ngập ngừng chẳng biết có nên nói hay không. Xét theo lý, lời ấy là tội chém đầu, đám thị vệ kia cũng là nhờ nàng mấy lần đưa bánh hạt dẻ đến mới hé lời. Nói xong còn giơ tay làm động tác “cắt cổ”, dặn tuyệt đối không được để lộ ra ngoài.
Thế nhưng… Từ Kim Lăng tới Yên Kinh, Vọng Nhi cô độc một thân, sớm đã coi Ký Nhu như chủ nhân duy nhất. Giờ có đại sự, há lại không lập tức báo cáo?
Nàng quyết tâm xong, liền leo lên giường sưởi, đóng kín cả hai cửa sổ trước sau, rồi mới quay lại ghé sát tai Ký Nhu, thấp giọng nói: “Phạm Tổng binh tấu rằng, vương gia ỷ vào sủng tín, nuôi dưỡng phe cánh, tư thông nội đình, có… có dã tâm bất thần phục triều đình!”
Quả nhiên không ngoài dự liệu, Ký Nhu nghe xong lời ấy, vô thức nín thở, ngây người một lúc lâu, rồi cũng hạ giọng hỏi: “Vậy… Vương gia nói thế nào?”
“Không rõ lắm,” Vọng Nhi lắc đầu, “chỉ nghe nói gần đây sắc mặt Vương gia không được tốt, đám thị vệ ở Diên Nhuận đường lúc đi lại cũng không dám phát ra tiếng động.”
Vừa dứt lời, bên ngoài liền vang lên tiếng người, Vọng Nhi cả kinh, hấp tấp chạy ra cửa, dán mắt vào khe cửa ngó ra, rồi lại đầy nghi hoặc quay trở lại: “Cô nương, Hồng Hạnh đưa thái y tới rồi.”
Ký Nhu liền giãn mày, phủi nhẹ chỉ thừa trên váy, nói: “Mời họ vào đi.”
Vọng Nhi bèn mở cửa, mời Hồng Hạnh cùng thái y bước vào. Vị thái y ấy đã ra vào vương phủ hơn mười năm, nhưng đây là lần đầu tiên tới gần Diên Nhuận đường. Vừa thấy bày biện trong phòng và dung mạo của Ký Nhu, trong lòng liền biết đây không phải là một nha đầu tầm thường, liền cúi đầu quy củ, không dám nhìn loạn. Hồng Hạnh truyền đạt ý chỉ của Phương thị, nói tiết trời chuyển lạnh, đặc biệt mời thái y đến kê mấy phương thuốc dưỡng thân cho Ký Nhu. Ký Nhu không phản đối, đặt khăn tay lên cổ tay, mời thái y bắt mạch.
Thái y khom lưng, hai ngón tay đặt nhẹ lên mạch, gương mặt chẳng có biểu cảm gì, chẩn mạch hồi lâu, mày hơi động một chút, rồi thu tay về, hỏi Vọng Nhi mấy câu vụn vặt về ăn uống sinh hoạt, sau mới cười nói:
“Tiểu thư còn trẻ, thuở nhỏ lại được nuôi nấng tử tế, căn cơ vốn không kém, chỉ là có phần huyết hư. Dùng nhung hươu tán bột, phối nhân sâm, hoàng kỳ hầm gà già mà dùng, hoặc thái lát pha trà, nhàn rỗi uống vài ngụm cũng có tác dụng.”
Nói đoạn, ông ta lại vê râu, chu môi, lộ ra vài phần lúng túng, khẽ hỏi:
Lời này vừa dứt, cả Vọng Nhi lẫn Hồng Hạnh đều đỏ mặt, đồng loạt quay đầu giả câm giả điếc. Ký Nhu lại không lộ vẻ gì khác lạ, chỉ hơi mỉm cười, giọng có chút trêu ghẹo: “Lần gần nhất… cũng đã hơn một tháng rưỡi rồi.”
“Tốt, rất tốt.” Thái y lẩm bẩm mấy tiếng, cáo lỗi với Ký Nhu rồi định lui, chợt thấy một bóng người hoảng hốt xông vào ,là Bạch Lộ.
Bạch Lộ vừa thấy thái y, đã kéo tay áo ông ta, cuống cuồng nói:
“Mau! Mau! Nương nương ngất rồi!”
Thái y nghe vậy, thất sắc, vội theo Hồng Hạnh và Bạch Lộ chạy về phía phòng Phương thị. Vọng Nhi đứng tựa khung cửa nhìn theo, đến khi bóng người kia khuất hẳn mới mù mờ đi vào, lẩm bẩm: “Thái y tới cũng kỳ, mà Vương phi lại bệnh cũng kỳ… Cô nương, hay để nô tỳ tới chỗ Vương phi dò la thử?”
“Đừng đi. Vương phi mới phát bệnh, trong phủ lòng người xao động, ngươi mà hồ đồ xông vào, kẻ khác chẳng rõ tình hình còn tưởng ngươi là kẻ gian.”
Ký Nhu cười cợt một câu, rồi gọi Vọng Nhi mang kim chỉ lại, chọn một sợi chỉ thêu màu đá xanh, thêu nốt cánh dơi còn dang dở. Bên ngoài tiếng thì thào không dứt, đều nói bệnh tình Vương phi lần này rất nghiêm trọng, Ký Nhu mải mê với mũi kim, thoáng xuất thần.
Nàng gọi một tiếng “Vọng Nhi”, nhưng trong phòng đã trống không. Ra cửa xem thì thấy tiểu thiếu gia Châu ca đang cầm một miếng kẹo quế, vừa m*t một cái cho mình, rồi lại rướn người đưa qua khe lồng chim, nhét vào miệng con vẹt, miệng nói liên tục: “Ăn đi! Ăn kẹo đi!”
“Châu ca,” Ký Nhu dịu dàng gọi, “Con làm gì ở đây?”
Từ sau hội thơ hải đường lần trước, Châu ca đã bị Vương phi cấm không cho đến gần chỗ Ký Nhu, nên hai người đã lâu không gặp. Bấy giờ nghe nàng cất tiếng, cậu bé giật mình, vội đẩy lồng chim sang một bên, quay đầu lại, đôi mắt đen nhánh đã ngấn lệ nhìn nàng đầy uất ức.
“Dì Nhu…” Cậu bé uể oải đi tới, nắm tay nàng lắc lắc, “Mẫu thân bệnh rồi.”
“Châu ca đừng sợ, có thái y lo rồi mà.” Ký Nhu dịu giọng an ủi. Vì hai bàn tay nhỏ kia dính đầy mật, chạm đâu cũng lưu lại vết bẩn, nàng liền dắt cậu vào phòng, pha nước rửa tay, rồi cả hai cùng ngồi lên giường ấm.
Ký Nhu chăm chú nhìn gương mặt non nớt ấy một hồi, rồi hỏi: “Con có biết mẫu thân vì sao bệnh không?”
Châu ca không mấy hứng thú, nghịch nghịch chiếc nghiên mực hình ếch ngồi trên lá sen, đáp: “Lúc đầu mẫu thân còn rất vui, vì có thư của ông ngoại gửi đến. Mẫu thân vừa đọc thư, vừa bảo con ngồi lên ghế kê chân để học thuộc lòng. Con mới đọc được nửa chừng, mẫu thân liền ngất lịm.”
Cậu chu môi, mắt tròn xoe nhìn nàng: “Mẫu thân vừa ngất, các a hoàn đều hoảng hốt chạy loạn, con thì bò lên giường nhìn thư bị vứt bên cạnh ,ông ngoại mắng phụ thân là nghịch thần tặc tử, coi trời bằng vung, lại còn mắng mẫu thân không biết can ngăn, làm nhục gia phong… Dì Như ơi, ‘nghịch thần tặc tử’ là gì vậy?”
Vẻ dịu dàng trên mặt Ký Nhu lập tức khựng lại, hồi lâu chẳng nói gì. Cuối cùng nàng mỉm cười với Mậu ca, nhẹ nhàng đáp: “Châu ca nhìn nhầm rồi, làm sao ông ngoại lại mắng cha mẹ con được?”
Không đợi cậu bé hỏi tiếp, nàng lấy nghiên mực từ tay cậu, đặt bộ văn phòng tứ bảo lên bàn nhỏ cạnh giường: “Châu ca hôm nay đã luyện chữ xong chưa? Chưa xong thì ngồi viết ở đây đi, nếu không lát nữa mẫu thân tỉnh lại, sẽ đánh vào lòng bàn tay đấy.”
Thằng bé vốn rất sợ mẫu thân, nghe thế lập tức rụt cổ, co vai ngồi xuống, mở giấy, chấm mực đầy bút, cắn ngòi bút ngẩn người. Một lúc sau, cậu quay đầu lại, nũng nịu nói: “Dì Nhu, dì hát thêm cho con một bài đi.”
Ký Nhu đẩy rổ đựng chỉ sang một bên, trầm ngâm một lúc rồi nói: “Hôm nay không hát nữa, dì kể cho con nghe một câu chuyện nhé. Chuyện về ‘một người đắc đạo, gà chó thăng thiên’.”
Châu ca thích thú vứt bút sang một bên, hai tay chống cằm, mắt ngẩn ngơ nhìn gương mặt tươi tắn của nàng. Ánh chiều tà xuyên qua màn lụa, rọi lên mái tóc đen nhánh của nàng, tạo thành một vòng sáng mờ mờ bao phủ cả người. Ký Nhu suy nghĩ giây lát, bắt đầu kể: “Chuyện kể rằng, ngày xưa có một vị vương gia tên là Lưu An, được phong làm Hoài Nam Vương.”
“Giống phụ thân con! Phụ thân cũng là vương gia mà!” Châu ca chen vào.
“Con nói đúng.” Ký Nhu mỉm cười khen ngợi, “Nhưng vị Hoài Nam Vương này thì xui xẻo lắm… Người ta truyền rằng, ông ta vì luyện đan mà thành tiên, sau khi bay lên tiên giới, những viên tiên đan để lại bị gà chó trong nhà ăn nhầm, thế là cả gà cả chó cũng theo đó mà thành tiên. Nhưng thật ra ông ta không phải thành tiên gì cả, mà là bị Hoàng đế kết tội mưu phản, phải tự vẫn.
“Bởi vì Hoài Nam Vương có một đứa con đích và một đứa con thứ. Con đích được yêu thương, phong làm thế tử; còn con thứ thì bị ghẻ lạnh, huynh đệ chẳng coi là anh em, cha mẹ cũng không xem là con, chỉ coi như đầy tớ trong nhà… Về sau con thứ mang hận trong lòng, mật báo với hoàng đế rằng Hoài Nam Vương ‘ngầm kết bè đảng, mưu chuyện phản nghịch’, Hoàng đế nổi giận, Hoài Nam Vương vì sợ tội mà tự vẫn. Con thấy người đó, có đáng thương không?”
Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Story
Chương 56
10.0/10 từ 13 lượt.
