Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu

Chương 55


“Thực là ngẫu nhiên, hay là cố ý đứng chờ nơi đây?” Triệu Sắt cười nhạt, nói tiếp: “Cầu kiến bao nhiêu lượt đều chẳng được gặp, e rằng Phạm Khiêm đã sớm nóng ruột lắm rồi?”


Lục Tông Viễn bật cười giễu cợt, thong thả nói: “Nếu đã vậy, chẳng lẽ ta còn phải đích thân mời hắn cùng đi săn ư?”


Triệu Sắt nào dám trả lời, đành lẳng lặng đứng chờ. Chốc lát sau, nghe thấy Lục Tông Viễn cất tiếng: “Bảo hắn tới đây.” Triệu Sắt liền lĩnh mệnh đi gọi Phạm Khiêm.


Lúc này, Lục Tông Viễn bỗng nhớ đến Ký Nhu, thấy nàng vẫn đứng một bên, chưa biết phải làm sao, bèn đưa tay gọi lại gần, cúi đầu nhẹ giọng dặn dò: “Vào trong lều nghỉ một lát đi ,giữ sức đã.”


Nửa câu sau, giọng nói lại trở nên dịu dàng, lấp lửng đầy ẩn ý. Ký Nhu lập tức đỏ mặt, hốt hoảng giậm chân một cái, nghe thấy tiếng cười khe khẽ sau lưng, bèn vội vàng rảo bước bỏ đi.


Chẳng bao lâu, Triệu Sắt đã dẫn Phạm Khiêm tới. Lần này đến, y chuẩn bị hết sức chu đáo, mang theo cả trăm thuộc hạ, người ngựa huyên náo, suýt nữa chen kín cả sườn núi, khiến việc đi săn vốn vui nhộn lại hóa ra ngột ngạt. Mỗi người tùy tiện bắn được vài con gà rừng, con hoẵng, liền thu còi, tạm ngưng săn bắn.


Phạm Khiêm vốn là võ tướng, tiếng nói sang sảng, tính nết thẳng băng. Hắn và Lục Tông Viễn cùng bỏ ngựa, sóng bước về trại, vừa đi vừa ra sức tán tụng lẫn nhau, lời lẽ dày đặc như tấm lưới. Sắp đến con suối nhỏ róc rách trước doanh trại, vậy mà Phạm Khiêm vẫn còn thao thao bất tuyệt. Lục Tông Viễn đã bắt đầu mất kiên nhẫn, cố giữ nụ cười trên môi, nhưng cũng dứt khoát hỏi thẳng: “Phạm đại nhân lần này tới gặp ta, không phải chỉ vì đi săn đấy chứ?”


Phạm Khiêm khựng lại, gãi đầu cười ha hả: “Vương gia quả là mắt sáng như sao!”


Y đưa mắt nhìn thẳng vào Lục Tông Viễn, nói: “Nghe nói dưới núi Thanh là thao trường kỵ binh của phủ Lương vương. Hạ quan nay làm Tổng binh Ký Liêu, không biết ngày nào sẽ phải đối mặt trực diện cùng quân Khương, chẳng hay có thể theo vương gia học hỏi một phen, mở mang kiến thức chăng?”


Sắc mặt Lục Tông Viễn thoáng hiện vẻ kinh ngạc, rồi chuyển thành nụ cười đầy hàm ý. Sau khi trầm ngâm chốc lát, chàng sảng khoái đáp: “Có gì không được? Phạm đại nhân, mời.”


Hai người lập tức lên ngựa, không mang theo nhiều tùy tùng, chỉ dắt theo ba bốn thân tín, cùng tiến đến thao trường dưới chân núi Thanh.


Lúc ấy trời đã về chiều, theo như dự đoán của Phạm Khiêm, thao trường lẽ ra phải sớm thu binh nghỉ ngơi. Nào ngờ còn chưa tới gần, đã nghe tiếng vó ngựa dồn dập vọng lại.


Trong màn bụi mịt mù, hai người vòng ra sau sân tập, bước lên đài điểm tướng, chỉ thấy vô số bóng đen lao vun vút như tên bắn. Mặt người chẳng rõ, chỉ thấy đầu mũi tên bay loang loáng như châu chấu vỡ tổ. Tính ra, ước chừng ba bốn trăm kỵ binh – một chi đội hoàn chỉnh. Tuy quân số không nhiều, nhưng thanh thế lại vang dội.



Tiếng ngựa hý vang, khiến mặt đất cũng rung lên khe khẽ. Bỗng tiếng trống trận ầm vang, đội kỵ binh vốn đang dàn trải lập tức thu gọn như một đám mây đen. Cờ lệnh vừa phất, liền như hổ vồ mồi, đột nhiên đánh úp về bên trái. Cờ vừa đổi hướng, thế trận liền chuyển sang hình rồng uốn lượn, linh hoạt khôn lường.


Trong thời gian chưa đầy một bữa cơm, đã diễn luyện đủ các loại thế trận: tập kích chớp nhoáng, đánh vòng bọc hậu, xuyên phá chia cắt… Lại nghe một hồi trống vang lên, đội quân bốn trăm người lập tức thu về hàng ngũ chỉnh tề.


Khi bụi khói tan dần, Phạm Khiêm mới thấy rõ phần nào tinh túy: đội quân này lấy cung tiễn mạnh mẽ làm che chắn, chọn số ít dũng sĩ đột phá tiền tuyến, sau khi phá vỡ đội hình địch mới đợi đại quân ồ ạt tấn công.


Phạm Khiêm vỗ tay cười lớn, tán dương: “Kỵ binh dưới trướng vương gia, quả thật như gió lướt mây bay, khiến người xem hoa cả mắt. Chỉ e dù là thiết kỵ của người Khương, cũng chưa chắc đã hơn được!”


Triệu Sắt từ sớm đã dâng khăn ướt, Lục Tông Viễn lau lớp bụi cát dính trên mặt, chậm rãi đáp: “Người Khương sinh ra trên lưng ngựa, thiếu niên mười mấy tuổi đã một thân một ngựa chăn giữ hàng trăm đầu gia súc. Trong bóng tối cũng có thể bắn trúng yết hầu lang sói giữa bầy. So với họ, muốn lấy một địch một, chẳng khác nào nằm mơ giữa ban ngày.”


Phạm Khiêm cầm khăn tay, lại không vội lau mặt, chợt cười nói: “So với người Khương thì có thể không bằng, nhưng so với quân phòng vệ Kim Lăng, thì đúng là một trời một vực rồi.”


Lục Tông Viễn khẽ nhíu mày, ánh mắt sắc lẻm chạm phải ánh nhìn của y. Hắn chẳng thèm liếc lại, chỉ nhấc tay ném chiếc khăn về phía Triệu Sắt, mỉm cười nói: “Tại hạ chẳng qua là một tiểu vương nơi biên cương, ánh sáng đom đóm, đâu dám sánh cùng nhật nguyệt?” Dứt lời liền xoay người xuống đài.


Phạm Khiêm lập tức theo sau, vừa đi vừa ngoái đầu ngắm lại thao trường, bật cười: “Những chiến mã này quả thật hiếm thấy. Mỗi năm nơi đây cùng người Khương giao dịch trà ngựa, một vạn con ngựa, e rằng phủ vương gia chiếm đến chín phần.”


Lục Tông Viễn hừ một tiếng: “Thuế má và giao thương nơi phiên trấn Lương vương, triều đình chưa từng nhúng tay.”


Phạm Khiêm nhận thấy hắn không vui, vội vàng cười xòa: “Vương gia nói chí phải, là hạ quan nhiều lời rồi!”


Ra khỏi thao trường, trời đã tối mịt. Lục Tông Viễn vốn định nghỉ lại trên núi, liền quay về núi Thanh. Nào ngờ Phạm Khiêm không chút biết ý, vẫn bám theo không rời. May mà Lục Tông Viễn tính tình nhẫn nại, không muốn mất thể diện trước người ngoài, đành sánh bước cùng y trở lại doanh trại.


Người trong trại đã sớm ra nghênh đón, mời hai người rửa mặt tẩy bụi. Trời vào đêm, gió rừng rì rào, bọn họ nhóm lửa bên suối, nướng thú rừng, dâng rượu ngon. Phạm Khiêm không vừa lòng với chén nhỏ, bỏ sang một bên, gọi người rót đầy bát lớn, ngửa cổ uống cạn, liên tục hô “đã quá”, rồi lại “ủa” một tiếng, đặt bát xuống: “Vương gia sao không uống? Hay là chê hạ quan thô lỗ? Ha ha!”


Lục Tông Viễn mỉm cười, đáp: “Phạm đại nhân quên rồi sao? Bổn vương vẫn còn đang chịu tang, không đụng đến thịt rượu.”


Phạm Khiêm chặc lưỡi: “Vương gia cũng quá câu nệ rồi. Nơi đây chỉ có hai ta, nào sợ ai truyền ra ngoài?”



Y khuyên hết lời, Lục Tông Viễn vẫn cương quyết từ chối. Cuối cùng, hắn bất đắc dĩ đành cho người rót một chén rượu, đưa lên môi chấm nhẹ gọi là.


Phạm Khiêm thấy chẳng thú vị, bèn tự mình cầm lấy miếng thịt nai nướng còn đang nhỏ mỡ, vừa xé vừa nhai ngấu nghiến, lại uống thêm vài bát rượu. Được một hồi, cả người nóng bừng, men say lờ mờ.


Vừa chuyện trò vu vơ với Lục Tông Viễn, ánh mắt mơ màng chợt thoáng thấy một bóng dáng thướt tha lướt qua, khuất vào lều trại. Y vốn tuy thô lỗ nhưng mắt lại tinh, liền nhận ra đó chính là mỹ nhân mình từng gặp trong hội Vu Lan.


Cơn ngứa ngáy trong lòng liền trỗi dậy. Lại thêm hôm nay nắm được chỗ yếu của Lục Tông Viễn, Y càng đắc ý, cố tình lấp lửng ngả ngớn, cười lớn nói: “Vương gia không chịu bồi rượu, khiến hạ quan uống mà chẳng có chút hứng thú gì cả!”


Lục Tông Viễn hiểu ý, khẽ nhướng mày hỏi: “Ồ? Phải thế nào thì Phạm đại nhân mới thấy hứng thú đây?”


Phạm Khiêm đưa chén rượu lên miệng, ghé sát tới trước mặt Lục Tông Viễn, hơi rượu nồng nặc, cười cợt nói: “Chi bằng mời vị mỹ nhân trong trướng của vương gia ra rót rượu, vậy mới thú vị.”


Lời còn chưa dứt, đã thấy vẻ tươi cười ôn hòa trên gương mặt Lục Tông Viễn lập tức sa sầm. Phạm Khiêm nấc một tiếng, chậm rãi ngồi thẳng lại, hừ lạnh một tiếng rồi nói: “Là hạ quan l* m*ng sao? Không ngờ vương gia lại thật sự si tình với nàng ấy đến vậy? Hạ quan đã dăm lần thỉnh cầu, mà vẫn chẳng chịu mở miệng, chỉ là một nữ nhân, so với non sông gấm vóc này, lại đáng là gì?”


“Đương nhiên chẳng đáng là gì.” Lục Tông Viễn thản nhiên đáp, rồi tiện tay đặt mạnh chén rượu xuống đất. Chén sứ chạm vào phiến đá, “rắc” một tiếng khẽ, đã nứt vỡ. Triệu Sắt thấy thế, vội bước lên nhặt mảnh sành, ném xuống hồ nước.


Lục Tông Viễn đứng dậy, phủi lớp tro bụi trên áo, liếc nhìn Phạm Khiêm đang sững người, lạnh nhạt cười một tiếng: “Chỉ là ta có một tật xấu , đồ của bản thân đã dùng qua, dù có đập bỏ không cần nữa, cũng không cho kẻ khác chạm tay vào.”


Nói đoạn, vung tay áo bỏ đi.


Phạm Khiêm ngồi một lúc bên bờ suối, bị gió đêm thổi cho tỉnh rượu quá nửa, biết mình lỡ lời xúc phạm Lục Tông Viễn, bèn vội vã tới trước trướng xin lỗi. Nào ngờ bị Triệu Sắt chặn ngay bên ngoài.


Triệu Sắt cũng không khách khí, cao giọng nói: “Vương gia đã dặn, Phạm đại nhân nếu đã uống thỏa thuê rồi thì tự xuống núi, không tiện tiễn đưa!”


Phạm Khiêm bị mất mặt, đành hậm hực để tùy tùng đỡ lên ngựa, trong đêm xuống núi.


Đêm ấy, hiển nhiên Lục Tông Viễn mang đầy một bụng tức giận, đêm dài trằn trọc. Sáng sớm hôm sau, cũng không còn tâm trạng săn bắn, liền dẫn người hồi phủ.



Ký Nhu trở về phòng, như người mới khỏi bệnh, ngồi bên giường hồi lâu không nhúc nhích. Cuối cùng gắng gượng một chút tinh thần, đi ra sau bình phong thay lại nữ phục.


Chỉ thấy Vọng Nhi từ ngoài xông vào, “bịch” một tiếng khép cửa, bước tới bên nàng, hai mắt sáng rỡ, hớn hở nói: “Tiểu thư, em đoán không sai mà! Vương gia thật sự rất để tâm tới người!”


Ký Nhu vừa tháo một bím tóc, dùng lược từ tốn chải suôn, ngơ ngẩn một lúc, rồi mới hỏi qua loa: “Lại nghe được chuyện gì rồi?”


“Không phải lời đồn đâu!” Vọng Nhi hào hứng nói, “Là thị vệ ở Diên Nhuận đường nói đó , bảo vương gia vì người mà đắc tội cả Tổng binh đại nhân!”


Ký Nhu liếc nàng một cái, trách yêu: “Vương gia là ai, Tổng binh là ai? Tổng binh dám đắc tội vương gia thì có, chứ làm gì có chuyện vương gia đi đắc tội Tổng binh?”


Bị nàng nói vậy, Vọng Nhi cũng bối rối, nghĩ ngợi hồi lâu, bỗng đập tay nói: “Vậy là vương gia vì người, giận lây sang Tổng binh đại nhân!”


Ký Nhu chỉ cười nhạt, không đáp lời. Nàng thay y phục xong liền muốn ra ngoài, Vọng Nhi tất tả đi theo sau, hai người thẳng đến viện của Tịch Chỉ ở hậu hoa viên.


Tịch Chỉ vốn thường theo hầu Thái phi, rất ít khi trở về viện. Gặp lúc Thái phi đang ngủ trưa, đám nha hoàn và gia nhân các phòng liền tranh thủ tới bẩm báo.


Ký Nhu vừa bước vào sân, đã thấy một bà mụ đi về phía phòng bên, còn ba bốn người đang đứng dưới hành lang trò chuyện. Nàng không tiện đi thẳng vào, đành dừng lại nơi cửa.


Qua lớp rèm, trông thấy Tịch Chỉ đang ngồi xếp bằng trên giường, tay cầm bản ghi công việc, dặn dò bà quản sự bên dưới: “Giờ đã hết tiết Hè, sắp vào Thu rồi, đám nha hoàn không cần mặc sa mỏng nữa, đổi sang lụa gấm. Năm nay là giỗ đầu của lão Vương gia, y phục cứ theo hai màu xanh lam và trắng, kiểu dáng đơn giản là được.


Lại nữa, dưa muối, cà tím, dán cửa, phơi áo lông mấy việc ấy cũng phải làm sớm, chớ để đến lúc nước tới chân mới nháo nhào.


Mấy chậu cây cảnh trong sân đều mang xuống hầm, đừng để sương đêm làm hỏng.


Còn nữa, món điểm tâm ‘tổ tằm nướng sữa’ mà Thái phi ăn hôm trước, nói là rất ngon, bảo phòng bếp nhỏ chuẩn bị sẵn, lỡ bà lại muốn ăn thì khỏi phải lục tìm mới có…”


Căn dặn một tràng dài, miệng khô khốc, nàng dừng lại uống mấy ngụm trà, nghiêng đầu, một tiểu nha đầu dâng khăn đến, nàng nhổ bã trà ra, lau khóe môi, vừa định nói tiếp, bỗng ngẩng mắt thấy Ký Nhu đang đứng nơi cửa, mỉm cười nhìn mình.



Tịch Chỉ cũng mỉm cười đáp lễ, ngẫm nghĩ chốc lát, liền nói: “Được rồi, ta còn việc khác, mấy người mai hãy tới.”


Đám bà tử quản sự vâng dạ lui ra, Tịch Chỉ gọi Ký Nhu vào, mời ngồi bên giường. Tiểu nha đầu thay hai chén trà thơm mới.


Tịch Chỉ cười nói: “Lỗi ta cả đấy, bận việc đến nỗi không ngó ngàng gì, để muội đứng chờ bên ngoài một hồi lâu.”


“Là ta mới thất lễ, làm phiền tỷ rồi.” Ký Nhu cười áy náy. “Lỡ tay cắt ngang việc bận của tỷ.”


“Việc vụn vặt trong vương phủ, ngày nào chẳng có, nào có hết được? Đúng lúc ta cũng cần nghỉ một hơi. Trong phủ này, vương phi thì trẻ, lại hay ngại giao thiệp; Thái phi thì ưa thanh tĩnh, chẳng thích nói nhiều, vậy nên chuyện lớn nhỏ cứ đẩy hết cho ta gánh tạm vậy.”


Nói đoạn, Tịch Chỉ duỗi chân, xoa xoa cánh tay, như trút được gánh nặng. “Muội chờ nửa ngày như thế, chắc là có việc gì cần?”


“Cũng không có chuyện gì lớn,” Ký Nhu ngập ngừng, “Chỉ là thấy trời sắp trở lạnh, muốn hỏi tỷ xin mấy kiểu giày, để may cho Thái phi vài đôi, coi như chút lòng thành.”


Tịch Chỉ nghe xong, ánh mắt dừng lại nơi mặt nàng một thoáng, cũng không hỏi thêm, chỉ mỉm cười, quay đầu dặn nha đầu vào lấy mẫu giày.


Lại quay sang, thấy Ký Nhu ngồi đoan trang, bưng chén trà mà do dự chưa uống, như đang ôm nhiều tâm sự. Tịch Chỉ cũng không vạch trần, chỉ thong thả uống mấy ngụm trà, trầm ngâm một hồi, rồi cười nói: “Trong phủ mấy năm nay không thêm ai mới, chỉ có một mình muội thôi… Ta còn tưởng vương gia đã thay đổi tính tình rồi, hóa ra vẫn vậy, gặp phải người vừa ý, vẫn cứ phải ra tay đoạt lấy.”


Nói rồi thấy Ký Nhu hơi nhướn mày, lộ vẻ ngạc nhiên, Tịch Chỉ lại cười tiếp: “Muội chớ trách ta mạo muội. Ta tuy chỉ là tỳ nữ, nhưng cũng là người nhìn vương gia lớn lên, tâm ý của người ra sao, ta đoán còn rõ hơn người khác… Vương gia đối với muội, vẫn tốt chứ?”


“Còn không tốt sao? Vương gia đối với tiểu thư nhà chúng tôi là nhất đấy!” Vọng Nhi thấy Ký Nhu cúi đầu không nói, liền tự mình chen lời, bắt đầu thêm mắm dặm muối, kể lại chuyện trên núi mà nghe ngóng được từ Diên Nhuận đường.


Tịch Chỉ nghe thì như không nghe, ánh mắt vẫn liếc về phía Ký Nhu. Thấy nàng tựa hồ có chút lúng túng, vài lần ngăn Vọng Nhi nhưng không kịp, đành đứng dậy bước tới bên cửa sổ, giả vờ ngắm hoa thạch lựu.


Nhưng gương mặt như trăng sáng kia, lại thấp thoáng ửng đỏ.


Tịch Chỉ thầm nghĩ: Lời nàng ấy nói kia, là cố ý để ta nghe, hay chỉ là buột miệng? Nét mặt ấy, thật chẳng đoán nổi ý tứ , song bất kể là cố ý hay vô ý, ít ra nàng đã nghe lọt tai lời cảnh cáo của ta hôm trước, nếu không cũng chẳng tới đây dò la tin tức thế này.


Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Story Chương 55
10.0/10 từ 13 lượt.
loading...