Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu

Chương 52


Lục Tông Viễn trầm mặc suy nghĩ hồi lâu, ánh mắt từ từ đảo qua người nàng, từ đầu đến chân ngắm kỹ một lượt. Người vẫn là người ấy, dường như không có gì đổi khác, chỉ có khuôn mặt kia, đã rũ bỏ nét ngây dại thuở xưa, nơi đôi mắt ánh lên một tầng sầu bi mờ nhạt, ẩn ẩn nhu tình, muốn nói lại thôi, thẹn thùng chẳng dám mở lời.


Hắn khẽ lắc đầu, nói: “Nàng đi theo ta, sống yên ổn là thế, cớ sao lại muốn tìm cái chết?”


Ký Nhu mắt vụt sáng, vội hỏi: “Vương gia không trách tội ta nữa ư?”


Lục Tông Viễn nheo mắt, khóe môi khẽ nhếch, giọng nửa đùa nửa thật:


“Đồ ngốc! Trước kia ta đã nói gì với ngươi? Chỉ cần ngươi khiến ta vui, tự nhiên ta sẽ không trách phạt…”


Nói rồi, chỉ mỉm cười nhìn nàng, không thêm một lời, cũng không động đậy. Ký Nhu bỗng chốc đỏ bừng cả khuôn mặt, bối rối hồi lâu, rồi cầm lấy chiếc quạt gấp, quạt cho chàng hai cái. Lục Tông Viễn nhíu mày: “Quạt chẳng ra hồn.”


Nàng lại vội đặt quạt xuống, rót trà dâng nước, chàng vẫn lắc đầu, nói: “Nóng quá.”


Ký Nhu bị sai vặt xoay vòng vòng, đến mức trán thấm đẫm mồ hôi, chàng mới bật cười: “Ta thấy rõ là nàng không hề muốn làm ta vui. Nếu vậy… thì phải phạt rồi.”


Chưa dứt lời, hắn đã kéo nàng lại gần, tay khẽ mân mê đôi môi đỏ mọng của nàng, trong mắt ẩn hiện một tầng suy nghĩ, đang định mở miệng nói gì, thì bỗng ngoài cửa vang lên tiếng reo mừng của Triệu Sắt: “Vương gia, Tiểu Dư đã trở về rồi!”


Ký Nhu vừa nghe, liền muốn đứng dậy, khổ nỗi vòng eo thon thả đã bị Lục Tông Viễn giữ chặt trong khuỷu tay, nàng giãy nhẹ một cái nhưng không thoát được, đành ngoan ngoãn ngồi yên, đỏ mặt quay đầu sang một bên, để gáy hướng về phía cửa điện.


Chỉ nghe tiếng bước chân dồn dập, ủng nện trên nền gạch “thùm thùm” vang lên, rất nhanh tiến vào trong điện, đến gần vài bước thì đột ngột khựng lại. Tiếp đó là tiếng Dư Thiệu cất lên: “Công tử.”


Từ trước tới nay, mỗi lần nghe Dư Thiệu nói chuyện, dù vui hay buồn, ngữ điệu vẫn luôn nhẹ nhàng cao vút, khoan khoái vô cùng. Nhưng lần này, giọng chàng lại trầm ổn và điềm đạm, đã khác hẳn, rõ ràng đã trở thành một nam tử thành thục.



Y theo Tiêu Trạch vào Tây Nam bình loạn, nay đột ngột trở về, hẳn là vì chiến sự có chuyển biến? Ký Nhu biết rõ những điều kiêng kị của Lục Tông Viễn, liền khẽ giãy thêm lần nữa, rồi ngẩng đầu, dùng ánh mắt van nài nhìn hắn. Lục Tông Viễn chỉ mỉm cười, nhẹ nhàng vê nhẹ tay nàng trong lòng bàn tay mình, dịu giọng nói: “Đi đắp mắt một chút đi, mí mắt sưng cả lên rồi.”


Ký Nhu cúi đầu, khe khẽ gật một cái, buông tay ra, vòng qua đám vụn ngọc vương vãi dưới đất, bước ra ngoài điện. Dư Thiệu đứng ở đó, ánh mắt tuy nhìn thẳng, nhưng khó tránh khỏi khóe mắt vẫn thấp thoáng bóng tà váy lụa màu ngọc lướt qua bên người chàng, nhẹ nhàng lay động như sóng nước.


Ra tới bên ngoài, nàng dịu dàng dặn Triệu Sắt: “Vào trong điện quét sạch đám ngọc vụn kia đi, đừng để Vương gia giẫm phải.”


“Công tử,” Dư Thiệu thu lại tạp niệm trong lòng, nghiêm túc nói:
“Tướng quân Tiêu muốn mượn hai vạn quân phiên của phủ Lương vương để hỗ trợ bình loạn.”


Lục Tông Viễn đá nhẹ đám ngọc vụn dưới chân, phủi áo bào, thần sắc không lộ chút kinh ngạc, chỉ nhàn nhạt nói: “Vậy ngươi nói cho ta nghe, tình hình thương vong hai bên ra sao, Tiêu Trạch có mấy phần nắm chắc phần thắng ,chẳng thể để hai vạn quân của phủ Lương vương đi mà không có về, phải không?”


Dư Thiệu bèn đem tình hình chiến sự mấy tháng qua tường thuật lại rành mạch. Lục Tông Viễn cũng chăm chú lắng nghe, hai người bàn bạc không ngừng suốt mấy canh giờ, mãi đến khi thấy Triệu Sắt bưng giá nến bước vào điện, họ mới sực tỉnh, ngoài trời đã là chớm tối.


Lục Tông Viễn nhẹ nhàng thở ra một hơi, mỉm cười nói:


“Tiêu Trạch phen này, đúng là nuôi chim ưng cả đời, cuối cùng lại bị sẻ nhà mổ mù mắt. Cũng tại ngày trước chưa từng đối đầu với Thạch Khánh Nhượng, hắn đánh trận cẩn trọng quá mức, quân hành hiểm đạo, bỏ thế lấy lợi, cứ theo cái lối an ổn tứ bình ấy, thì phải đánh đến khi nào mới xong? Chỉ cần có thánh chỉ, mượn quân đương nhiên không thành vấn đề. Có điều…”


Hắn dừng lại giây lát, thần sắc phức tạp, nhắc nhở Dư Thiệu: “Tiêu Trạch còn dặn dò gì thêm không?”


“Tiêu tướng quân có để lại thư tay.” Dư Thiệu rút bức thư từ trong lòng ra, dâng lên. Triệu Sắt thấy vậy, lập tức đưa lên con dao găm cán ngọc xanh. Lục Tông Viễn dựa ánh nến cắt phong bì, mở thư, mắt lướt qua từng hàng chữ. Ban đầu nhíu mày, kế đó khẽ cười, rồi gấp thư lại, dùng lòng bàn tay ấn trên mặt án, trầm ngâm nhìn ngọn lửa nến đang nhảy nhót, không nói lời nào.


“Vương gia,” Triệu Sắt quan sát nét mặt chàng, tò mò hỏi, “Tiêu tướng quân nói gì vậy? Chúng ta thật sự sẽ cho mượn binh sao?”


“Hắn hứa cho ta một lợi ích cực lớn. Có thể cho mượn, nhưng phải chờ thánh chỉ đến đã.” Lục Tông Viễn giãn mày, nghiêng người tới, đưa mép thư châm vào ngọn nến, chờ giấy bắt lửa rồi buông tay để nó cháy hết, sau đó đứng dậy đi ra sau án thư. Chợt nhớ ra điều gì, liền quay đầu bảo Dư Thiệu: “Hôm nay đã muộn, ngươi đi nghỉ trước đi, ngày mai nhớ tới thỉnh an Thái phi.”


“Dạ.” Dư Thiệu đáp lời, đứng thêm một lát, thấy Lục Tông Viễn không còn gì dặn thêm, liền quay người bước ra. Dưới hiên hành lang, ánh mắt chàng chợt dừng lại trên chiếc lồng đèn lục giác bằng gỗ tử đàn đang đong đưa trong gió đêm, đưa tay giữ lấy, mắt ngây ngẩn nhìn hình mỹ nhân vẽ trên mặt lồng, đứng tựa bên hoa, lòng trĩu nặng tâm sự.



Chỉ thoáng liếc qua vừa rồi, Dư Thiệu đã trông thấy rõ mấy chữ “hôn nhân chi minh” trong thư của Tiêu Trạch. Chẳng lẽ phủ Lương vương thật sự định kết thân với nhà họ Tiêu? Nàng mà biết được, sẽ làm thế nào đây?


Bao ngày rong ruổi ngựa xe, Dư Thiệu vốn đã mỏi mệt rã rời. Nhưng đêm đầu tiên trở về phủ, trong lòng bị một mớ tâm sự quấy nhiễu, trằn trọc trở mình, mãi chẳng thể chợp mắt.


Sáng hôm sau vừa mở mắt, thấy ánh nắng chói chang xuyên qua cửa sổ, biết là đã trễ, vội vàng rửa mặt qua loa, rồi bước nhanh đến chỗ Thái phi phủ Lương vương.


Thái phi sống quả phụ, ưa sự thanh tĩnh, nên chỗ ở của bà tách biệt hẳn với vương phi cùng các nữ quyến khác, cách cả khu vườn lớn của vương phủ, nằm ở góc tây nam hậu viện, là một toà lầu nhỏ hai tầng mái chồng. Trước lầu trồng mấy gốc cây thất diệp rợp bóng, hoa nở rực rỡ như những chiếc chụp đèn lộng lẫy, che kín cả sáu cánh cửa ghép khung lồng đèn ở tiền sảnh.


Dư Thiệu đi đến dưới tán cây thất diệp thì dừng lại, còn đang do dự thì nghe có người gọi: “Tiểu Dư.”


Hắn quay đầu nhìn, thấy một phụ nhân khoảng ba mươi tuổi mặc áo dài màu hồng quả vải thêu hoa dây nho, từ hành lang vòng qua, tay phe phẩy quạt, hương thơm theo gió phảng phất.


Đến gần, nàng ta quan sát Dư Thiệu từ trên xuống dưới, mỉm cười nói:
“Không bị rám nắng, chỉ là da mặt có phần sần sùi. Hành quân đánh trận, dãi gió dầm sương, đâu được thảnh thơi như ở vương phủ chứ?”


Kỳ thực trong lòng Dư Thiệu thấy vương phủ sao sánh được với quân doanh, nhưng cũng không phản bác, chỉ cười hì hì gọi một tiếng: “Chỉ Tỷ tỷ ”.


Tịch Chỉ hài lòng gật đầu, kéo tay hắn bước vào trong các. Vừa vào đến gian thứ, qua tấm rèm lụa in họa tiết dây nho uốn lượn, đã thấy trên án sơn đen bên giường phía Nam bày một chậu thược dược cao đến nửa người, Thái phi đang cầm kéo, chậm rãi tỉa hoa. Tịch Chỉ mỉm cười, lên tiếng:“Thưa nương nương, Tiểu Dư đến thỉnh an người rồi ạ.”


Thái phi đặt kéo xuống, trên mặt thoáng hiện nụ cười nhàn nhạt, nói: “Bao giờ về đến vậy?”


“Vừa mới hôm qua ạ.” Dư Thiệu hành lễ, lại chắp tay thưa thêm: “Là vì quân vụ.”


“Quân vụ à?” Thái phi cười nói, “Vậy là thắng trận, về báo hỉ rồi?”


Dư Thiệu im lặng trong chốc lát, không biết đáp ra sao, chỉ đành đơn giản thưa: “Không phải.”



“Bổn cung sống trong vương phủ nửa đời người, cũng biết chinh chiến không phải chuyện dễ dàng. Ngươi còn trẻ, e chưa thấu được nỗi gian nan ấy. Vương gia nhà ta từ nhỏ thân thiết với ngươi, cũng vì muốn ngươi lập được công danh, mới gửi gắm cho đại nhân Tiêu dạy dỗ. Ngày sau dẫu có chiến công hiển hách, được phong làm tướng, cũng phải nhớ giữ lời ăn tiếng nói, chớ quên Vương gia, cũng đừng quên bổn phận của mình.”


Dư Thiệu nét mặt không đổi, cung kính đáp: “Vâng.”


“Ngươi năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”


“Mười chín ạ.”


“Còn kém Vương gia bảy tuổi. Khi Vương gia mười chín, đã thành thân rồi. Ngươi cũng nên sớm có gia thất.” Thái phi nói, liếc mắt nhìn Dư Thiệu, mỉm cười, “Xem kìa, đúng là đứa trẻ, nhắc đến việc này liền lúng túng. Nam nhi trưởng thành nên cưới vợ, chuyện này bổn cung nhớ kỹ rồi. Trong phủ cũng có mấy nha đầu tướng mạo không tệ, để ta chọn cho một người, rồi nhờ Vương gia làm chủ, sớm ngày tác thành, để ngươi yên tâm mà đánh giặc.”


Lần này, Dư Thiệu không đáp. Khuôn mặt trẻ tuổi không hề có lấy một nét cười, môi mím chặt, hàng mi dài rũ xuống, che khuất ánh sáng trong đôi mắt. Một lúc sau, chàng mới khẽ thưa: “Thỉnh nương nương bảo trọng thân thể.”


Dứt lời liền xoay người bỏ đi, bước chân nặng nề vang lên “thùng thùng” qua nền gạch, đi thẳng ra khỏi các. Dưới gốc cây thất diệp, ngẩng đầu nhìn lên trời, tay áo khẽ lau ngang mặt, chẳng rõ là mồ hôi hay nước mắt, rồi cúi đầu rảo bước, vội vã rời đi.


Thái phi nặng nề đặt kéo xuống bàn, hừ một tiếng: “Thấy chưa? Ta cũng chỉ vì lo cho nó, mà lại khiến nó tủi thân đến thế.”


Tịch Chỉ dời chậu hoa sang một bên, rót chén trà, đưa đến tay Thái phi, mỉm cười nói: “Nương nương bớt giận, nó còn nhỏ mà.”


Ngưng một chút, nàng lại dịu dàng tiếp lời: “Có điều, hai năm nay tính tình cũng chững chạc hơn nhiều rồi. Hồi bé thì, ôi thôi, vừa vụng về lại vừa ngang bướng. Cứ thích bám lấy Vương gia, người ta không để ý, hắn vẫn cứ lẽo đẽo theo sau suốt ngày, đuổi thế nào cũng không đi, khiến Vương gia phát bực…”


Nhắc đến Lương vương, nét mặt Thái phi mới hiện lên một chút tươi tắn thật lòng, gật đầu nói: “Hồi nhỏ, Viễn nhi đúng là một đứa bé thông minh, lại là thế tử, tuy suốt ngày mặt mày nghiêm nghị, kiêu ngạo như con gà trống, nhưng cả trong phủ trên dưới ai ai cũng thương nó.”


“Đúng thế ạ.” Tịch Chỉ tiếp lời, “Vương gia dẫu nay bề ngoài hòa nhã, tuổi trẻ mà kế thừa vương vị, gánh vác bao nhiêu chuyện, trong lòng nặng nề đến nhường nào, chỉ có thể trò chuyện được đôi chút với Tiểu Dư thôi. Cho nên, nương nương cũng đừng trách nó quá. Người quên rồi sao? Năm ấy nó vì mải chơi với Vương gia mà không học hành, bị phạt, rồi giận dỗi đến mức cắn cả cổ tay người một cái, sau đó bị lão Vương gia quất cho mấy trăm roi. Thằng bé ấy, từ nhỏ đã thật thà cứng đầu, trong lòng chỉ có mỗi Vương gia, người còn lo gì chứ?”


Thái phi vô thức đưa tay xoa cổ tay, chỗ ấy vẫn còn dấu răng năm nào. Càng xoa, lửa giận trong lòng càng bốc lên, lời khuyên nhủ của Tịch Chỉ chẳng lọt vào tai được chữ nào, chỉ thấy cái im lặng bướng bỉnh vừa rồi của Dư Thiệu thật đáng giận. Bà giật mạnh tay áo, che kín vết cắn, lạnh giọng mắng: “Nó đúng là một đứa hoang dã! Đồ tạp chủng!”



Tịch Chỉ nhíu mày, không nói thêm một lời.


Dư Thiệu đi một mạch, từ hậu viên đến thẳng Diên Nhuận đường, chỉ trong thoáng chốc. Đến khi cung điện tráng lệ ấy hiện ra trước mắt, mái ngói lưu ly vàng rực lóa lên trong nắng, ánh sáng chói lòa đến đau cả mắt, chàng mới đột ngột dừng bước, tiếng ong ong trong đầu cũng tản đi. Ngũ tạng cuộn trào, quay nhìn bốn phía đều mù mịt, bỗng nhiên chẳng biết nên đi đâu. Chỉ riêng điện sau của Diên Nhuận đường là tuyệt đối không muốn bước vào. Thế là hắn lùi lại mấy bước, rẽ người, rồi lặng lẽ đi khỏi.


Vừa mới đi được mấy bước dọc theo tường son, đã nghe thấy bên trong có tiếng người thì thầm trò chuyện. Dư Thiệu như bị ma xui quỷ khiến, liền bước chân vào cửa nhỏ nơi góc tường. Trên hành lang dãy nhà ngói xanh ấy, có một chiếc bàn bát tiên, Ký Nhu đang cúi người, vẽ tranh lên mặt quạt sơn điểm kim, Châu ca thì cầm một quả trái cây gặm “rốp rốp”, chợt đưa tay chỉ lên mặt quạt, lớn tiếng nói: “Chỗ này phải có thêm một con vịt con nữa!”


Dư Thiệu rón rén đi tới, rướn cổ nhìn từ phía sau. Trên mặt quạt là một giàn nho xanh rậm rạp, bên dưới một bầy gà con vàng óng đang tranh nhau mổ thóc. Vẽ được một nửa, thì bị Châu ca đẩy một cái, giá bút đổ “loảng xoảng”, tay Châu ca lem đầy mực, vừa định đưa ngón tay vào miệng, liền bị Ký Nhu kịp thời ngăn lại: “Đi rửa tay đi.”


Cậu bé không tình nguyện đáp một tiếng, rồi chạy vào phòng.


Ký Nhu lúc ấy mới dựng lại giá bút, bình thản hỏi: “Ngươi đến đây làm gì? Vương gia không có trong này.”


Dư Thiệu vẫn nhìn chằm chằm nàng, chẳng đáp mà hỏi ngược lại:


“Hôm ở Kim Lăng, ta nói muốn đến Từ phủ cầu hôn nàng, nàng nói ta hại chết cha mẹ nàng, giữa ta và nàng có huyết hải thâm cừu, nên không thể gả cho ta.”


Ký Nhu nghĩ một chút, bình tĩnh gật đầu: “Đúng thế, ta đã nói vậy.”


“Vậy công tử kia với nàng… chẳng phải cũng có huyết hải thâm cừu hay sao?”


“Cũng có.”


“Vậy tại sao…” Hắn cố chấp hỏi tiếp, lời chưa dứt, nước mắt đã ào ào trào ra, vội đưa tay gạt đi, cả gương mặt chan chứa bi thương.


Ký Nhu nhúng bút lông sói vào nghiên rửa sạch, mực trong đó loang ra từng vệt, kéo dài như chẳng dứt. Nàng mắt không rời mặt quạt, mỉm cười đáp: “Bởi vì chàng là Vương gia, còn ngươi thì không.”


Nói xong, liền vẽ thêm mấy nét, phác ra hình dáng một con vịt con. Khi nàng đổi bút, ngẩng đầu nhìn sang bên, thì người đã chẳng thấy đâu nữa. Dư Thiệu không biết rời đi từ lúc nào.


Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Story Chương 52
10.0/10 từ 13 lượt.
loading...