Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu

Chương 50


Dư Thiệu và Quách Cự đã sớm bàn bạc ổn thỏa, liền phân năm trăm bộ binh thành các tiểu đội, thay phiên tuần tra, số còn lại thì lấy trời làm màn, đất làm chiếu, chợp mắt nghỉ ngơi. Đến khi trời mưa như trút, từng hạt to như hạt đậu tạt thẳng vào mặt khiến người người đều bừng tỉnh. Thấy sắc trời đã tối sầm, Dư Thiệu lên tiếng: “Đi thôi.” Rồi giắt đao sau lưng, nhân lúc đêm đen, cùng quân lính len lén men theo sườn núi mà lên.


Lúc lên được nửa đường, gió mưa nổi trận cuồng phong, cây cối ven núi nghiêng ngả, có nơi sắp gãy. Quách Cự đưa tay quệt nước mưa khỏi mặt, bực dọc chửi: “Mẹ nó, chờ đến khi mình leo lên được chiếm cứ điểm cao, thì trời cũng sáng mất rồi!”


Chưa dứt lời, bỗng đâu chân trời lóe một tia chớp, soi sáng đất trời như ban ngày. Quách Cự bị dọa đến rùng mình, ngoảnh đầu lại nhìn, thấy mặt Dư Thiệu trắng bệch không chút huyết sắc, môi mím chặt, hàng mi rậm dài ướt sũng, nặng trĩu run rẩy. Quách Cự thầm nghĩ: “Tên này… mặt mũi quái lạ thật.” Định mở miệng trêu chọc, nào ngờ lại một đạo lôi đình nổ vang, chớp lửa rạch ngang trời. Giữa rừng rậm đột nhiên nổ ra một chấm lửa, rồi bị mưa lớn dập tắt. Quách Cự cười khoái chí, tiếng cười loáng thoáng giữa mưa như trút:


“Bị sét đánh rồi! Tốt nhất là đánh chết hai ba trăm tên cho rồi, bọn còn lại thì cứ thế mà chém loạn lên!” “Câm miệng.” Dư Thiệu quát khẽ, nghiêng tai lắng nghe. Tựa hồ có tiếng người truyền đến, hắn huýt một tiếng còi, ra hiệu cho mọi người bám lấy vách núi như thạch sùng. Quả nhiên chẳng mấy chốc đã thấy mấy chục tên binh sĩ nước Lương ôm đầu tháo chạy xuống núi, vô cùng chật vật.


Quách Cự bật cười, nhảy bật dậy, một đao chém gục một tên chạy lướt qua bên cạnh, lớn tiếng la: “Lũ khốn này bị sét dọa đến nỗi chạy như khỉ dạt rừng! Mẹ nó, giết!”


“Đồ ngu!” Dư Thiệu nghiến răng mắng, thấy binh Lương đã phát hiện, nhanh chóng sắp xếp thành hàng nghênh địch, thì hiểu rõ đánh lén bất thành. Không còn phân biệt chính diện hay sườn cánh gì nữa, đành vung binh khí xông lên, hỗn chiến giữa núi rừng.


Một phe thì muốn lên núi, một phe lại đang xuống, đường hẹp đụng đầu, liền xáp lá cà chém giết, máu bắn tung tóe, mưa tạt ngang trời, chốc chốc lại có chớp sáng rạch ngang, khiến gương mặt người nào người nấy dưới ánh sét đều trở nên dữ tợn khôn cùng. Quách Cự đánh đến phấn khích, ngẫu nhiên liếc mắt nhìn sang, thấy nơi nào Dư Thiệu lướt đến là nơi ấy binh Lương ngã rạp như lúa gặp bão, đao lên đầu rơi, chiêu chiêu sắc bén như cuồng phong vũ bão. Quách Cự tròn mắt tán thán: “Mẹ nó, ngươi là dã nhân đấy à? Mãnh hơn hổ xuống núi nữa!”
Vừa dứt câu thì bị Dư Thiệu đá cho một cú bay vào vũng bùn, miệng ngậm đầy bùn đất.


“Phì phì phì!” Quách Cự nhổ đất ra, lồm cồm bò dậy nhìn quanh, thấy mưa vẫn trút như thác, xác người nằm vắt ngang khắp nơi. Nhẩm tính sơ bộ, số thương vong chủ yếu là binh Lương. Năm trăm người bên mình, trừ số ở lại chờ ứng chiến, đội đột kích chỉ tổn thất mấy chục, xem như thắng lợi. Quách Cự bật cười đắc ý: “Lão Thiên gia đang giúp chúng ta rồi!”


“Thay đồ mau.” Dư Thiệu quăng ra một câu, rồi cúi người lục lọi trong đám xác chết, lột được một bộ xem ra còn sạch sẽ, khoác lên người. Chờ những người khác thay xong, hắn một mình trèo lên tảng đá lớn bằng phẳng trên sườn núi. Giữa tiếng mưa “ào ào” không dứt, lẫn lộn âm thanh cành lá bị gió quật “xào xạc”, có cả tiếng người r*n r*, tiếng Quách Cự cười chửi oang oang đủ kiểu tất cả như ùa vào tai, khiến đầu óc lùng bùng ù đi. Đang còn thất thần, chợt thấy Quách Cự lao tới trước mặt, chỉ tay xuống sườn núi tối om, miệng mấp máy nói gì đó.


Dư Thiệu đưa tay quệt nước trên mặt, giọng lạnh tanh hỏi: “Chuyện gì?”



“Nước, tiếng nước!” Quách Cự hấp tấp đến lắp bắp: “Ngươi nghe xem, có phải tiếng nước dâng ào ào không?”


Dư Thiệu lặng lẽ lắng nghe. Quả nhiên trong chốc lát, mọi âm thanh xung quanh như đều lắng xuống, chỉ còn tiếng nước “ào ào” từ xa cuộn đến, càng lúc càng gần, rồi hóa thành tiếng “rầm rập” ầm vang, tựa vạn mã lao nhanh, nước khí tung trời, đến cả ngọn núi dưới chân cũng bắt đầu rung lên bần bật.


Chân Quách Cự mềm nhũn, ngồi phịch xuống đất: “Sông Trường Giang vỡ đê rồi… xả lũ rồi… quân doanh của ta, lương thảo, ngựa xe, đều ở khu đất thấp kia kìa!”


Nói đến đây, y chưa kịp nghĩ tới hàng trăm thành trấn phương Bắc và hàng triệu dân chúng cũng đang bên đó.


“Giờ phải làm sao?!” Y lắp bắp hỏi, mắt nhìn Dư Thiệu đầy tuyệt vọng.
“Còn vào doanh trại địch do thám nữa không?”


“Vào cái đầu ngươi!” Dư Thiệu thốt lên, như thể cả bầu nhiệt huyết trong lòng vừa bị nước lạnh dội sạch. Hắn vung đao chém phập xuống đất, rồi ngồi phịch xuống, khoanh chân mà th* d*c. Một lúc sau, mới hạ giọng: “Chân người không nhanh hơn lũ. Không thể về báo cho Đại tướng quân được. Giờ ở trên núi là an toàn nhất, thôi cứ chờ trời sáng đã.”


Thế là cả đội mấy trăm người, không ai còn việc gì làm, ngồi tựa vào cây mà ngẩn ngơ lắng nghe tiếng nước gầm rít dưới núi. Một lúc sau, không ai ngủ được, Dư Thiệu chợt nói: “Chặt cây làm bè đi.”


Bọn lính lập tức vung rìu xông vào rừng, “binh binh bàng bàng” chặt cây, dùng quần áo của binh Lương xé ra buộc tạm thành bè. Mỗi người một tay, làm đến mồ hôi nhễ nhại. Dư Thiệu cũng cởi áo ra, ném sang một bên. Bất chợt có người thò tay sờ eo y, Dư Thiệu quay ngoắt lại, thấy Quách Cự cười hề hề, vội nhảy ra sau gốc cây: “Đúng là trơn thật…”


Chưa dứt lời, Dư Thiệu mặt đã đanh lại, tay cầm đao bước tới. Quách Cự biết mình dại miệng, lập tức xin tha, nhưng vẫn bị Dư Thiệu đè đầu nhấn vào vũng bùn, miệng đầy bùn đất. Chờ y buông ra, Quách Cự vừa nhổ bùn vừa cười ha hả: “Ngươi… trách gì người ta muốn sờ? Ngươi cứ nghiêm mặt mãi, lại đẹp như thế, người không biết còn tưởng ngươi là cô nương chưa gả kia kìa… Mà ngươi, lấy vợ chưa?”


Dư Thiệu hạ mi mắt, vung đao bổ liên tiếp mấy nhát vào một khúc gỗ mục, đoạn mới uể oải đáp: “Chưa.”


Quách Cự đang tính đùa tiếp thì bắt gặp ánh mắt lạnh băng của Dư Thiệu, liền nuốt luôn câu đùa vào bụng, bĩu môi, không nói thêm gì nữa.



Khi trời tờ mờ sáng, mưa đã ngớt, gió cũng yên. Dưới chân núi giờ đã biến thành biển nước mênh mang, trắng xóa. Dư Thiệu dẫn theo đội quân, đẩy bè xuống nước, xuôi dòng mà đi. Trên đường, nhìn đâu cũng thấy xác ngựa, thi thể binh sĩ trôi nổi, lều trại, cờ hiệu dập dềnh lẫn trong các bao vải đựng lương thực ,rõ ràng tổn thất nặng nề. Mọi người không ai nói tiếng nào, trong lòng vừa mừng vì sống sót, vừa lo lắng cho một trận đại bại không tránh khỏi, e rằng sẽ phải muối mặt trở về triều.


“Lần này e rằng Tiêu đại nhân khó tránh khỏi bị hỏi tội.” Quách Cự lắc đầu, thở dài nói, “Trận này đánh thật uất ức đến cực điểm. Thiên tai nhân họa, việc gì cũng ập tới.” Lẽ nào thật sự nước Lương vẫn còn một hơi thoi thóp? Y nghĩ đến đó, lại thấy lời lẽ quá đỗi xui xẻo nên không tiện nói ra.


Dư Thiệu nhất thời không biết đáp lại ra sao.


Chiếc bè gỗ cứ thế trôi dọc đến gần doanh địa, dọc đường thấy có binh lính sống sót, kẻ thì ôm khúc gỗ nổi giữa dòng, kẻ thì mắc kẹt nơi gò cao, xa xa vẫy gọi, đều lần lượt được cứu lên.


Lúc này Dư Thiệu mới nói: “Tiêu tướng quân đã được đưa vào một trại nhỏ trên núi gần đây.” Bèn lệnh cho Quách Cự điều hướng, chèo bè thẳng tới trại.


Vào đến sơn trại, thấy nơi ấy chỉ là một ngôi làng nhỏ, nhưng trong trại chen chúc toàn binh lính mặc giáp. Dư Thiệu đi thẳng vào nhà của trại chủ, trong gian nhà tranh, thấy Tiêu Trạch ngồi cúi đầu, hai tay chống trán, thoạt nhìn như già đi mười tuổi chỉ sau một đêm, khuôn mặt vốn đã gầy gò, nay càng thêm tiều tụy.


“Tướng quân.” Dư Thiệu khẽ gọi.


Tiêu Trạch nghe tiếng liền mừng rỡ vô cùng, vội nói: “Ngồi, mau ngồi!” Dư Thiệu từ chối không được, đành ngồi xuống. Tiêu Trạch chau mày, đưa tay gãi đầu, nói: “Lần này Trường Giang vỡ đê, không phải thiên tai, mà là nhân họa. E rằng là Thạch Khánh Nhượng đã sớm cấu kết với quan viên phía bắc sông, đào phá đê điều. Vừa khơi dòng nước, đại quân đối phương liền tràn sang, ép quân ta phải lui về đây. Lũ vừa dâng, hàng trăm thành trì đều bị nhấn chìm, lương thảo của ta cũng sắp cạn rồi.”


Dọc đường đến đây, Dư Thiệu chỉ thấy toàn là thi thể quân Chu, không hề thấy binh sĩ nước Lương, vốn đã lấy làm lạ. Nay nghe Tiêu Trạch giải thích, chàng mới dần hiểu ra. Dư Thiệu vốn không ham mê chuyện mưu kế thâm sâu, tranh đấu chốn quan trường, nhưng lại có trực giác bén nhạy như thú, đoán được Tiêu Trạch nói ra những lời này với một tiểu binh như chàng, hẳn là có dụng ý khác. Bởi vậy hắn không chen lời, chỉ yên lặng lắng nghe.


Đến cuối cùng, quả nhiên Tiêu Trạch nhấn mạnh: “Hiện nay, chỉ còn một cách để vãn hồi thế cục.”


Ánh mắt trong sáng của Dư Thiệu khẽ nhìn về phía ông ta.



Tiêu Trạch cười gượng mấy tiếng, thấy chàng làm ra vẻ ngơ ngác giả ngây, dứt khoát nói thẳng: “Ta muốn nhờ ngươi chạy một chuyến, đến chỗ Lương vương mượn hai vạn binh phiên.”


“Không được.” Dư Thiệu sửng sốt, không khách khí mà từ chối ngay:


“Không có thánh chỉ, phiên vương mà tự ý điều binh sẽ bị buộc tội mưu phản. Tướng quân nên tấu xin triều đình trước thì hơn.”


Tiêu Trạch râu mép khẽ động, suýt nữa buông lời mắng hắn đầu óc cứng nhắc, nhưng lời tới miệng lại nhịn xuống. Trầm ngâm một chốc, ông đổi giọng: “Hay là như vầy, ta lập tức xin triều đình hạ chỉ mượn binh, còn ngươi cũng chớ chậm trễ, hôm nay lên đường hồi Yến Kinh. Lũ vừa rút sẽ phát sinh ôn dịch, nếu kéo dài, e rằng toàn quân đều chôn xác nơi này. Việc cấp thì phải quyền biến, Lương vương gia tất sẽ hiểu rõ lợi hại trong đó.”


Nói rồi, chẳng để Dư Thiệu có cơ từ chối, liền sai người đem bút mực tới, đích thân viết một phong thư, giao cho Dư Thiệu mang về trình Lương vương. Dư Thiệu không còn cách nào, đành nhận lấy. Hôm ấy liền mời một người lái thuyền, đưa chàng đến một trấn nhỏ chưa bị ngập nước, đổi sang tuấn mã, ngày đêm phi ngựa về Yến Kinh.


Chưa đợi Dư Thiệu đến nơi, tin Trường Giang vỡ đê đã truyền tới Diên Nhuận đường của phủ Lương vương. Lục Tông Viễn nghe xong, sắc mặt chẳng đổi, chỉ thản nhiên nói: “Đại quân của Tiêu Trạch bị Thạch Khánh Nhượng kìm chân cũng tốt, để triều đình khỏi ngày ngày soi mói phủ Lương vương.” Dừng một lúc, lại nhớ đến Dư Thiệu, bèn sai Triệu Sắt phái người đi dò hỏi tin tức, xác minh hắn có bình an vô sự hay không.


Triệu Sắt lĩnh mệnh đi ngay, chẳng bao lâu sau đã trở lại, nhưng không nhắc gì đến tin tức thăm dò, chỉ nói: “Bên Vương phi có nha đầu đến nói là dịp lễ Vu Lan, nương nương muốn ra chùa dâng hương lễ Phật.”


Lục Tông Viễn thuận miệng nói: “Muốn đi thì đi, không cần bẩm lại.”


Triệu Sắt ngập ngừng, đầu ngón chân khẽ xoay trên đất, không dám nói thêm gì.


Lục Tông Viễn lại tự mình nhớ ra, bèn ném bút xuống, nói: “Vương phi ra khỏi phủ, Phùng Ký Nhu ở lại một mình. Ngươi định hỏi có nên ra tay không?”


Triệu Sắt đâu dám đáp lời, chỉ ngẩng mắt nhìn Lục Tông Viễn, thấy sắc mặt chàng không vui không giận, sớm đã không còn vẻ lãnh đạm của những ngày trước. Có lẽ cơn giận đã tan, lúc này lại khởi lòng thương tiếc? Bằng không thì sao vừa nhắc tới cái tên “Phùng Ký Nhu”, tay chàng đã vô thức xoa nhẹ lên chậu rửa bút hình hoa sen bằng ngọc bích trước mặt? Có điều thần sắc chàng, vẫn chẳng để lộ chút manh mối nào.



Ngẫm nghĩ một hồi, Lục Tông Viễn chợt hỏi: “Từ lúc nàng bị giam trong tẩm điện của Vương phi đến nay, đã bao lâu rồi?”


Triệu Sắt đáp: “Ước chừng đã nửa tháng.”


Lục Tông Viễn khẽ “ừ” một tiếng: “Vương phi muốn đi lễ Vu Lan thì cứ để nàng đi. Phùng Ký Nhu ấy à, cũng chẳng cần ngươi bận tâm. Vương phi sẽ mang nàng theo.”


Triệu Sắt thoáng kinh ngạc, hỏi lại: “Không ngăn sao? Nhỡ đâu nàng nhân cơ hội mà bỏ trốn thì sao?”


“Cứ mặc nàng.” Lục Tông Viễn điềm nhiên nói.


Triệu Sắt ngơ ngác, chỉ cảm thấy gần đây tâm ý Vương gia như gió thoảng mây trôi, mưa nắng bất chừng, khó bề đoán định, nhưng cũng không dám hỏi nhiều, bèn lĩnh mệnh tới tẩm điện của Lương vương phi.


Vừa đến đã thấy Phương thị mặc áo vải trắng, ăn mặc giản dị, đang đứng nơi hiên nhà trách mắng mấy tên thị vệ. Bảy tám nha đầu vây quanh, lớn tiếng chỉ trỏ, khiến bọn thị vệ trẻ tuổi lúng túng đổ mồ hôi như tắm. Vừa thấy Triệu Sắt, họ lập tức đùn đẩy để chàng ra chịu trận. Triệu Sắt vội nở nụ cười niềm nở, nói với Phương thị: “Nương nương bớt giận. Vương gia nói nương nương muốn đến chùa lễ Phật là việc tốt, ngài rất vui lòng. Còn dặn nương nương hãy thay ngài dâng một nén hương lên Phật tổ.”


Phương thị vừa nghe, liền biết Triệu Sắt lại đang thay mặt Lương vương hòa giải. Nhưng từ sau hôm tranh cãi gay gắt hôm đó, Lương vương chưa từng bước chân vào tẩm điện của nàng lần nào, khiến lòng nàng vô cùng buồn bực. Nay nghe nói được phép xuất phủ, dù là qua miệng người khác, cũng xem như có đôi chút liên hệ, trong lòng không khỏi vui mừng. Bèn nói với bọn nha đầu: “Đi thôi!” Vừa đi được hai bước, thấy Phùng Ký Nhu lẫn trong đám gia nô, sợ bị Triệu Sắt phát hiện, ai ngờ hắn lại cáo lui bỏ đi ngay, Phương thị mừng rỡ, nắm tay Phùng Ký Nhu kéo nàng theo lên xe.


Xe ngựa lăn bánh ra khỏi phủ Lương vương, đến phố chợ, bên ngoài đông người tấp nập, tuy trời oi bức, ai nấy mồ hôi nhễ nhại, nhưng mặt đều lộ vẻ hoan hỉ. Có người tay bưng hộp đồ ăn đầy trái cây và rau luộc, có người ôm trong lòng một bình sen lớn, ngẩng đầu ưỡn ngực, sợ bị người chen lấn, dè dặt bước đi. Tất cả đều đổ dồn về hướng ngôi chùa.


Phùng Ký Nhu thu mắt từ cảnh náo nhiệt ngoài xe về, nhìn sang gương mặt trầm ngâm của Phương thị. Nàng khẽ mỉm cười, hỏi: “Thưa nương nương, hôm nay người nhất định kéo thần ra ngoài, là có việc gì sao?”


Phương thị ngập ngừng một hồi, rồi mới lên tiếng: “Phùng cô nương, lát nữa đến chùa, hãy lẫn vào đám đông mà trốn đi! Đừng chần chừ nữa.”


Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Story Chương 50
10.0/10 từ 13 lượt.
loading...