Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu

Chương 38


Biệt Vân kêu khẽ một tiếng, vội đưa tay bụm lấy môi, hoảng loạn thoái lui, từng giọt máu hồng như châu anh rơi qua kẽ ngón tay, nhỏ xuống nền gạch lạnh lẽo.


Ánh mắt Dư Thiệu vốn rực lửa như sắp thiêu người, trong chớp mắt hóa thành băng tuyết, lãnh đạm cùng cực. Hắn khẽ nhíu mày, như thể sinh ra chán ghét, tiện tay rút khăn, tùy ý lau miệng, rồi vung tay ném thẳng vào mặt nàng, không nói một lời, xoay người bỏ đi dứt khoát.


Hôm sau, Biệt Vân được đưa vào Từ phủ bằng một cỗ kiệu nhỏ, từ cửa ngách mà vào.


Phượng quan do Lương Vương ban thưởng sớm đã được phu nhân Từ thị thu lại cất kỹ trong kho, khóa chặt. Nữ quyến trong phủ tuy đều nghe nói có món lễ quý ấy, song từ trên xuống dưới, kể cả Ký Nhu, cũng chưa ai tận mắt thấy qua.


Vì có được chiếc phượng quan ấy, Từ đại nhân như thể được nở mày nở mặt, liền truyền cho phu nhân họ Phó khẩn trương thúc đẩy việc hôn sự giữa Thừa Ngọc và Ký Nhu, trước là đối chiếu canh giờ sinh tháng đẻ, sau là định ngày lành tháng tốt. Phu nhân họ La thì bận rộn chuẩn bị đồ cưới, hai người lo liệu đến nỗi chân không chạm đất, thành thử việc Lương Vương tặng đến “món quà thứ hai” lại bị đẩy ra tận rìa đầu óc, không ai để tâm tới nữa.


Mãi đến khi Biệt Vân đã ở trong phủ gần nửa tháng, phu nhân họ Phó mới sực nhớ đến sự hiện diện của nàng, trong lòng không khỏi phiền muộn: Lương Vương đã đích thân sai người đưa tới, nói là để làm nha hoàn hầu hạ, nhưng ai dám thật sự coi nàng là kẻ sai vặt? Chẳng phải cũng phải cấp cho nàng một tiểu viện riêng, coi như thiếp thất mà dưỡng đó sao?


Nhưng phủ Từ từ xưa vốn môn phong thanh khiết, chưa từng thu nhận kỹ nữ vào làm thiếp. Huống chi, tân nương còn chưa chính thức bước qua cửa, đã có sẵn một cái gai trong mắt thế kia, lại không tiện đuổi đi, cũng chẳng thể giữ bên mình… Chẳng phải về sau hậu viện của Thừa Ngọc sẽ rối như tơ vò đó ư?


Phó phu nhân liền gọi Ức Dung đến, căn dặn kỹ càng, cấm nàng không được nói năng qua lại với Biệt Vân lấy nửa câu. Sau đó lại đích thân cho gọi Ký Nhu, vừa nhẹ nhàng an ủi, vừa khéo léo dò xét, lại thay con trai mình mà đảm bảo dăm điều ba chuyện: “Thằng bé Thừa Ngọc con cũng biết tính rồi đó. Nó tuy ham vui, nhưng tâm địa rất chính trực. Hạng nữ nhân như vậy, nó nào buồn chạm vào? Cùng lắm coi như nuôi mèo chó, chẳng để nàng ta chết đói là được. Đợi sau này Lương Vương rời khỏi Kim Lăng, ta sẽ tìm cớ đưa nàng ta ra biệt trang, thế là xong. Ý con sao?”


Đây là lần đầu tiên phu nhân họ Phó nói rõ hôn sự của nàng với Thừa Ngọc trước mặt nàng, Ký Nhu không khỏi ngượng ngùng đỏ mặt, chỉ khẽ mỉm cười đáp: “Việc này xin để dì định liệu.”


Thấy nàng thuận lời, Phó phu nhân mới yên tâm, Ký Nhu cũng không lưu lại lâu, cáo từ lui ra, bước sang sân bên, đến chỗ của Thừa Ngọc.


Chỉ thấy hắn đặt một chiếc trường kỷ mềm dưới hành lang, nằm nghiêng tựa lưng, trong tay cầm một quyển sách, đầu trên treo chiếc lồng chim, thân mình đung đưa khe khẽ theo nhịp gió, đầu gật gù như sắp ngủ gật.



Ký Nhu không lên tiếng, chỉ nhẹ nhàng ngồi xuống mép trường kỷ. Một lúc sau, Thừa Ngọc bỗng thấy một luồng mát lạnh lướt qua mặt, lập tức tỉnh giấc. Vội đưa tay lên sờ, may thay chỉ là một giọt nước, không phải chim thả bậy, bấy giờ mới an tâm.


Hắn nghiêng đầu nhìn sang, thấy Ký Nhu ở bên, liền gãi đầu cười gượng: “Chắc là xuân tới rồi, cứ cầm sách lên là díp mắt lại.”


Ký Nhu cười nhè nhẹ, nói: “Buồn ngủ thì vào nhà ngủ cho yên giấc, nằm ngoài này dễ cảm gió lắm.”


Thừa Ngọc ngẩng đầu nhìn nàng chằm chằm: “Sao mắt đỏ hoe thế kia? Lại khóc nữa à?”


Vừa nói vừa đút chân vào đôi giày mềm, hằm hằm đứng dậy: “Được rồi! Ta đi nói với cha, trả cái cô kia về cho Lương Vương!”


“Chớ đi.” Ký Nhu khẽ giữ tay áo hắn lại, giọng nhỏ nhẹ: “Thiếp nào vì chuyện ấy đâu.”


“Nếu không vì chuyện ấy, thì còn vì ai?”


Ký Nhu cúi đầu, nhẹ giọng: “Dạo này chẳng hiểu sao, đêm đêm luôn thấy bồn chồn, ngủ chẳng yên. Không còn nghe huynh thổi tiêu bên phủ Vương gia nữa, cảm giác trống trải vô cùng.”


Thừa Ngọc nhớ lại lần đầu gặp nàng dưới đêm hoa đăng, bất giác mỉm cười, nói: “Giờ đâu còn thì giờ mà ngồi thổi tiêu nữa? Ta cũng phải học hành cho giỏi, đi thi lấy công danh, sau này phong nàng làm cáo mệnh phu nhân.”


Ký Nhu mím môi cười, không đáp. Tay khẽ cầm cây tỉa tóc bằng bạc, gõ gõ nhẹ vào lồng chim khiến con vẹt bên trong ríu rít hót vang, lòng nàng cũng thoáng nhẹ nhàng. Đứng dậy định lui về, Thừa Ngọc liền kéo tay áo nàng lại, ngoảnh vào nhà gọi: “Định Xuân! Mang cây tiêu ta ra đây.”


Một lát sau, Định Xuân bưng cây tiêu tới, Thừa Ngọc đặt vào tay Ký Nhu, cười nói: “Đêm nào không ngủ được, em cứ thổi mấy khúc, coi như ta vẫn ở ngay bên.”


Ký Nhu đỏ mặt, khẽ nguýt chàng một cái: “Ai cần huynh canh giấc nửa đêm làm gì!” Nói đoạn, ôm cây tiêu, không thèm quay đầu lại, vừa cười vừa bước về lầu thêu.



Vừa đến cửa, đã thấy Phương Điền chực sẵn bên ngoài, cạnh đó là Vọng Nhi, cả hai đều lặng thinh không nói, sắc mặt như đang giận dỗi.


Ký Nhu không lộ vẻ gì, chỉ liếc mắt nhìn thoáng qua lớp bỉ giáp bằng đoạn xanh đã sờn trên người Phương Điền, rồi ung dung bước vào phòng, vừa đi vừa gọi: “Vọng Nhi, vào tháo búi tóc giúp ta.”


Vọng Nhi “dạ” khẽ một tiếng, theo sau vào, tay tháo tóc, miệng lí nhí: “Cô nương à, Phương Điền đến đã hơn hai canh giờ, cứ đeo bám mãi chẳng chịu đi. Trong lời trong ý, rõ là lại muốn về hầu trong viện ta đây! Hừ, thiếp thấy rõ, lúc trước bị điều qua bên Tam cô nương, chẳng còn béo bở gì, giờ nghe cô nương sắp làm thiếu phu nhân rồi, mới lại mon men tới!”


Ký Nhu khẽ gật đầu: “Ngươi gọi nàng ta vào, nói chuyện.”


Vọng Nhi bĩu môi, uể oải ra cửa gọi một tiếng “Phương Điền!”, rồi hất tay đóng cửa lại.


Phương Điền cũng nhanh nhẹn, vừa vào phòng, thấy Ký Nhu còn ngồi trước gương chưa thay áo, lập tức cầm lấy trâm tre, nhẹ tay chải tóc, miệng không ngớt khen ngợi: “Tóc cô nương thật tốt, dày lại đen nhánh, không rối chút nào.” Ánh mắt liếc nhanh trong gương, thấy mặt Ký Nhu chẳng biểu lộ gì, trong lòng cũng yên tâm đôi phần, liền thao thao kể hết chuyện phủ trong mấy ngày qua, ai bị tát, ai được thưởng, ai bị trách mắng…


Đang nói nửa chừng, chợt thấy trên bàn trang điểm đặt một cây tiêu ngọc xanh biếc, nàng khẽ “ồ” lên một tiếng, liền im bặt.


Ký Nhu hỏi: “Sao không nói tiếp?”


Phương Điền cẩn trọng đáp: “Sợ cô nương nghe chán rồi.”


“Không đâu, kể tiếp đi. Gần đây cô gái tên Biệt Vân kia thường qua lại với ai, nói những gì?”


Phương Điền thưa: “Nàng ta cũng xem như biết điều, chẳng dám đi lung tung. Vì nhị phu nhân đã cấm các cô nương lui tới chỗ nàng ta, nên nàng ấy cũng buồn, rỗi rãi thì sang ngồi bên viện Đại thiếu phu nhân. Cũng nhờ Đại thiếu phu nhân tính tình hiền lành, chứ nhiều khi nàng ta ngồi tới tận tối đen, nói năng lung tung, người khác chắc đã đuổi rồi.”


Ký Nhu nghe vậy, chỉ gật đầu, không nói gì.



Phương Điền thấy thời cơ tới, bèn “phịch” một tiếng quỳ xuống, vén tay áo, lộ ra những vết bầm tím chằng chịt, nức nở nói: “Cô nương, xin người nói với phu nhân, cho thiếp trở lại đây hầu hạ! Tam cô nương còn nhỏ, không có chủ ý gì, dì nàng thì suốt ngày đánh người, chẳng coi bọn gia nô ra gì cả!”


Phương Điền vội lắc đầu: “Cô nương, nô tỳ không đi đâu, sẽ không đi nữa.”


Ký Nhu hơi nhướng mày, một tay chậm rãi lần tìm cây sáo trúc mát lạnh trơn nhẵn, trong lòng thầm nghĩ: Con bé này lanh lợi quá mức, nàng vốn không thích kiểu nha đầu quá khôn khéo như vậy. Nhưng lúc then chốt thế này, miễn cưỡng dùng cũng được. Bèn gật đầu với Phương Điền, nói: “Ngươi để ta nghĩ thêm hai hôm nữa nhé… Đừng chê cười ta, dạo gần đây vì chuyện của Biệt Vân mà tâm trí ta cũng rối bời, không còn tâm hơi lo được việc gì.”


Ánh mắt Phương Điền thoáng ảm đạm, chậm rãi đứng dậy, như có điều suy nghĩ mà lui ra.


Phương Điền vừa đi khỏi, bà vú Đỗ liền bước vào, đặt một bát thuốc đen sẫm trước mặt Ký Nhu, nói: “Cô nương vốn không ưa gì con bé ấy, cớ sao còn gọi nó vào làm gì? Nhỡ nó mà thật sự đối đầu với Biệt Vân, phu nhân thể nào cũng trách cô nương không biết quản người. Dẫu có ngứa mắt nó, cũng nên chờ ngày thành thân rồi hãy nói. Tam gia còn chưa nhìn thấy mặt mũi nó, mà cô nương đã la hét đòi trừng trị, truyền ra ngoài lại mang tiếng không hay.


Ký Nhu cười nhạt, chẳng để tâm: “Sao có thể truyền ra ngoài được? Nó là nha đầu của Tam cô nương, có làm sai cũng chẳng liên can gì đến ta. Huống chi ta chỉ buột miệng oán trách đôi câu, gặp chuyện bực bội thế này, phát tiết chút cũng là lẽ thường, ai bảo chính nó lại tự suy nghĩ lệch lạc?”


“Vì Tam gia, cô nương ngốc nhà ta cũng bắt đầu biết lo toan rồi sao?” Bà vú Đỗ nửa đùa nửa thật.


“Một nửa là vì Tam gia, một nửa… cũng không hẳn.” Ký Nhu chau mày lo lắng. “Vú à, người không biết đâu… Lương vương xưa nay không bao giờ làm chuyện vô nghĩa, ngài ta đưa người này đến, chẳng lẽ chỉ đơn thuần là để gây khó dễ cho ta? Chỉ e không phải thế. Gần đây lòng ta luôn bất an, tim đập liên hồi, sợ rằng sẽ có chuyện chẳng lành…”


Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà vú cũng thoáng vẻ lo âu. Người đàn bà cứng cỏi cố chấp ấy, sau khi tuổi cao trí não cũng dần chậm lại, giữa làn sương mù mông lung, chỉ thấy vẻ u buồn thấp thoáng trên mặt Ký Nhu khiến bà xót xa. Bà khẽ đưa bàn tay khô gầy vuốt nhẹ lên má nàng, giả bộ trách móc: “Chính vì suốt ngày suy nghĩ vẩn vơ nên mới chẳng ngủ ngon được. Mau uống thuốc đi, đây là toa mới sắc tối nay, giúp an thần đó.”


Ký Nhu lập tức nhăn nhó mặt mày, nũng nịu dỗi hờn chẳng ăn thua, đành bịt mũi uống một hơi cạn sạch. Sau đó ăn hai quả mứt, súc miệng rồi lên giường nghỉ ngơi. Chỉ tiếc toa thuốc an thần này chẳng mấy hiệu nghiệm, mới ngủ được một lát, nàng đã hoảng hốt tỉnh lại. Nàng ngồi trong chăn một hồi, đợi tim bớt đập dồn dập, rồi nhẹ tay nhẹ chân xỏ đôi hài thêu, cầm lấy cây sáo của Thừa Ngọc, sợ kinh động đến Vọng Nhi và mấy người khác, bèn khoác thêm áo, một mình bước xuống lầu.


Do trong phủ có bà vú tuần đêm thường đi qua nơi này, nên trước cổng viện có treo hai chiếc lồng đèn giấy mỏng, bị gió đêm thổi cho lay động khẽ khàng. Ánh sáng mờ mờ từ lồng đèn hắt lên gương mặt Ký Nhu, lúc sáng lúc tối. Nàng đi vài bước, ngồi xuống bên hồ, mới áp cây sáo lên môi thì chợt nghe có tiếng nói bên kia vách tường: “Đó là gì vậy?”


Lại có tiếng xào xạc trong bụi cỏ, một người khác nói: “Là chiếc thang, giấu trong bụi cỏ, e là đồ riêng của Tam công tử họ Từ.”



Hai giọng nói trước sau ấy, chẳng phải là của Lục Tông Viễn và Dư Thiệu hay sao? Đầu óc Ký Nhu bỗng choáng váng, thầm nhủ: Hay là ta nghe lầm? Nhưng sau đó một lúc, bên kia lại im bặt, chỉ còn nghe tiếng bước chân hai người khe khẽ, như đi men theo chân tường. Ký Nhu liền cất cây sáo, bị gió hồ thổi qua khiến tinh thần tỉnh táo hẳn. Nàng khép chặt vạt áo, lặng lẽ bước đến sát chân tường, nghiêng tai lắng nghe, quả nhiên lại nghe Dư Thiệu nói: “Bên cạnh Thanh Táo Đường chính là hoa viên của phủ họ Từ. Biết đâu chiếc thang này vẫn còn dùng được?”


Vẻ mặt Ký Nhu lập tức nghiêm lại, ánh mắt lướt một vòng lên tường, hơi thở cũng trở nên nhẹ bẫng. Chỉ nghe Lục Tông Viễn bật cười khẩy, nói: “Dùng vào việc gì? Chi bằng mang đi vứt luôn cho xong, kẻo chưa ăn được thịt hồ ly đã rước lấy mùi hôi đầy mình. Dù sao ta thấy Tam lang họ Từ cũng chẳng còn cơ hội leo qua bức tường này đâu.”


Sáng hôm ấy, Vọng Nhi vừa mở mắt đã thấy ánh đỏ lấp loáng xuyên qua lớp lụa xanh trên khung vách, còn tưởng mình dậy muộn, ánh nắng đã chiếu vào nhưng nhìn sang đồng hồ nước đặt góc tường thì mới vừa hết giờ Mão. Nàng ngáp một cái, kéo vạt áo ngồi dậy, vịn vào lồng màn bước lại gần, ngó vào bên trong thì thấy rèm chưa buông, cô nương vẫn đang ngồi trên giường ôm chăn, ngọn đèn đã tắt, chỉ còn vũng sáp đông lại thành giọt, tích lại nơi bàn, tựa như nước mắt.


“Cô nương?” Vọng Nhi khẽ gọi một tiếng, thấy dưới mắt Ký Nhu hiện rõ quầng thâm, không khỏi giật mình ,” Cô nương cả đêm không ngủ sao?”


Ký Nhu không đáp, chỉ dặn: “Giờ ngươi ra ngoài, nhờ người báo tin cho Đoan cô nương ở trang ngoài, nói ta có chuyện gấp muốn gặp.”


“Bây giờ đi sao?”


“Bây giờ đi”. Ký Nhu trầm ngâm giây lát, lại dặn thêm : “Lúc về, ghé qua viện của Tam gia, thay ta hỏi một câu với Bá Sơn, hắn tự biết ta hỏi điều gì.”


Vọng Nhi “ồ” một tiếng, định hỏi rõ thêm thì thấy vẻ mặt của nàng như không muốn trò chuyện, bèn vội vàng rửa mặt chải đầu qua loa rồi chạy ra ngoài nhờ người đưa tin.


Ký Nhu cũng không gọi ai đến hầu, một mình khoác từng lớp xiêm y chỉnh tề, ngồi xuống trước trướng kính, soi kỹ gương mặt mình, rồi lấy phấn thoa dày lên hai bên hốc mắt, đến khi che được hết quầng thâm mới thôi. Lặng ngồi thêm một hồi, thấy ngoài trời đã phủ đầy nắng sớm, nàng liền thẳng đến viện của phu nhân họ Hà.


Phu nhân Hà vì vừa phải hầu hạ mẹ chồng, lại bận chăm nom hai đứa trẻ con, sáng sớm đã bươn bả không ngơi. Lúc Ký Nhu tới, bà vừa dâng cơm xong cho phu nhân họ Phó, lại phải trông hai đứa bé ăn. Trên chiếc bàn lò nhỏ bằng gỗ tử đàn, bày la liệt ba bốn món cháo canh, bảy tám món điểm tâm, lại có dưa muối và rau trộn mới làm, phủ kín mặt bàn. Hai vú nuôi đứng dưới đất, tay chắp lại mà bẩm báo: hôm qua c** nh* ăn bao nhiêu cơm, học được mấy chữ, tiểu thư ngủ từ giờ nào… nói không dứt miệng.


Đợi một lúc lâu, thấy lũ trẻ ăn xong, phu nhân Hà mới bảo vú bồng dẫn chúng lui ra. Bà thở phào, sai người mời tiểu thư Như đang uống trà trong phòng bên vào.


“Để cô nương phải đợi lâu rồi. Ta cũng sợ bọn trẻ ầm ĩ khiến cô bực, nên mới bảo cô đợi bên cạnh, bằng không thì đã bị chúng làm phiền đến phát ngán rồi. ” Phu nhân Hà dùng khăn tay chấm mồ hôi thấm ra hai bên tóc mai, áy náy nói, rồi cười hỏi:


“Cô hôm nay đến tìm ta là có chuyện gì thế?”


Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Story Chương 38
10.0/10 từ 13 lượt.
loading...