Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
Chương 82: Làm người phải biết ơn báo đáp!
Phản ứng của Kỷ Vân Hành quá mức bình thản, khiến Hứa Thừa Ninh có hơi bất ngờ.
Ông ta âm thầm quan sát gương mặt nàng, ánh mắt dừng lại trên nét biểu cảm của nàng một lúc, thấy nàng không có ý định đáp lại liền hỏi tiếp: “Kỷ nha đầu, ngươi có biết Bùi Hàn Tùng là ai không?”
Kỷ Vân Hành gật đầu: “Biết, là ông ngoại của ta.”
Hứa Thừa Ninh càng thêm nghi hoặc: “Bùi phủ này chính là phủ đệ của ông ngoại ngươi lúc sinh thời. Tuy đã bị niêm phong nhiều năm, nhưng nhìn qua thì cũng không thay đổi quá nhiều.”
Kỷ Vân Hành nhìn ra ngoài cửa, cảnh sắc hoang tàn bên ngoài đập thẳng vào mắt nàng.
Những hòn núi giả từng bị đập phá giờ đây nằm lởm chởm khắp nơi, nền gạch đã vỡ vụn gần hết, lớp sơn tường cũng bong tróc hoàn toàn. Cũng chính vì đang vào cuối đông đầu xuân nên nơi hoang phế nhiều năm này vẫn chưa kịp mọc đầy cỏ dại, mới trông không quá mục nát.
Nàng nói: “Từ khi sinh ra đến nay, ta chưa từng gặp được ông ngoại, cũng chưa từng đến nơi này, thế nên ta không nhận ra có gì thay đổi hay không.”
Khi nhắn đến người thân đã khuất, vẻ mặt nàng không hề gợn chút cảm xúc, biểu hiện ấy xuất hiện trong mắt người đời sẽ thường bị coi là máu lạnh vô tình. Đây cũng là lý do nhiều người luôn cho rằng nàng là người đần độn.
Trong hầu hết trường hợp thông thường, Kỷ Vân Hành không được xem là người thông minh, phản ứng không đủ nhanh nhạy, cách nghĩ đôi khi lại lệch lạc, nàng luôn khác biệt rất lớn so với người thường.
Hứa Thừa Ninh mỉm cười, nụ cười ẩn chút cay đắng: “Đúng là ta sơ sót, Bùi gia xảy ra chuyện vào năm ngươi chào đời, sau đó Bùi phủ đã bị niêm phong, đương nhiên ngươi không có cơ hội đến đây, cũng không có cơ hội được gặp mặt Bùi đại nhân lấy một lần.”
Kỷ Vân Hành cúi đầu, chỉ lặng lẽ lắng nghe chứ không nói, dường như nếu không ai đặt câu hỏi với nàng, nàng cũng sẽ không tùy tiện nói lên suy nghĩ của mình.
Chỉ là lúc nàng cúi đầu xuống, vệt nốt ruồi nhỏ bên khóe mắt trái trở nên vô cùng nổi bật. Hứa Thừa Ninh nhìn thấy bỗng hoảng hốt, ông ta đột ngột lên tiếng: “Dung mạo của ngươi giống Bùi đại nhân nhất. Năm đó Bùi đại nhân đỗ Trạng Nguyên được Phụ hoàng đặc biệt ưu ái, danh tiếng chấn động Kinh thành. Sau này Hoàng huynh và Bùi đại nhân rất thân thiết, ta cũng nhờ mặt mũi Hoàng huynh mà được Bùi đại nhân chỉ điểm sách lược. Khi ấy ta đã luôn ngưỡng mộ, mong mình trở thành người như Bùi đại nhân, học rộng tài cao, tự tại tiêu dao.”
Ông ta cười khẽ, giọng điệu trầm lắng hơn: “Chỉ là ta không có thiên phú về học vấn, lại thêm thân thể yếu ớt nhiều bệnh, cuối cùng văn không thành, võ cũng chẳng xong, chỉ có thể làm kẻ nhàn rỗi quanh năm suốt tháng ngao du sơn thủy.”
Ông ta thoáng khựng lại, ánh mắt thoáng u ám: “Về sau lúc Bùi gia gặp nạn, chính ta đã chủ động xin Phụ hoàng giao phó nhiệm vụ phụ trách việc khám xét và niêm phong Bùi phủ.”
Nghe đến đây, Kỷ Vân Hành từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt nàng một lần nữa dừng lại trên gương mặt Hứa Thừa Ninh.
“Ngày ấy, ta không cho người mang hết toàn bộ đồ vật trong phủ đi mà cố ý để lại một số thứ giấu kỹ trong phủ. Sau khi Bùi phủ bị niêm phong, những thứ ấy vẫn được bảo quản tại đây, chưa từng bị ai động đến.”
Hứa Thừa Ninh vỗ tay một cái, ra lệnh với người bên ngoài: “Đưa đồ vào đây.”
Không lâu sau, đám thị vệ khiêng hai chiếc rương lớn đi vào.
Những chiếc rương trông rất cũ kỹ, chỉ được lau chùi qua loa nên dù không bám bụi vẫn bẩn đến mức khó nhận ra màu nguyên bản, như thể vừa được đào từ dưới đất lên.
Ổ khóa treo trên rương đã mục nát, chẳng cần dùng đến chìa khóa, thị vệ chỉ cần giật nhẹ đã mở được.
Kỷ Vân Hành đứng dậy, nhìn về phía hai chiếc rương với ánh mắt tò mò rõ rệt, như muốn khám phá những thứ trong rương.
Bên trong rương chứa đầy ắp những món đồ xếp chồng lên nhau một cách lộn xộn, nhìn thoáng qua cũng khó phân biệt cụ thể là gì.
Nàng bước đến gần duỗi tay lấy ra vài món đồ nhỏ. Có một con ngựa làm bằng gỗ, một quả bóng cát gắn những dải lụa màu, còn có vài cuốn sách đã sờn. Những món đồ này thoạt nhìn đều không có giá trị, nhưng Kỷ Vân Hành đã từng nghe mẹ kể về chúng.
Trước khi ông ngoại vào triều làm quan gần như đã làm đủ nghề để mưu sinh. Khi ấy, Bùi gia chưa được giàu có, Bùi Hàn Tùng bản tính mê chơi, tiền bạc trong tay lúc nào cũng thiếu thốn không đủ dùng. Vì thế, ông ấy đã tự học điêu khắc gỗ, làm một vài món đồ chơi nhỏ đem ra đường bán.
Sau này khi Bùi Vận Minh ra đời, ông ấy lại tiếp tục làm những món đồ chơi này cho con gái chơi.
Những món đồ trong rương, chính là đồ chơi do ông ngoại tự tay làm cho mẹ nàng năm xưa.
Kỷ Vân Hành lần lượt nhặt từng món lên xem. Vì đã qua nhiều năm tháng, lại bị đè chặt trong rương lâu ngày nên phần lớn các món đồ đều hư hỏng, nhưng vẫn có thể thấy được dấu vết tỉ mỉ, chăm chút năm nào.
Những món đồ này là những kỷ vật từ mấy chục năm trước, từng được mẹ nàng ôm trong lòng vui đùa thuở còn thơ ấu. Trải qua bảo tồn trong những năm tháng dài đằng đẵng, giờ đây chúng quay lại nằm trong tay Kỷ Vân Hành, với danh nghĩa là những gì ông ngoại để lại.
Kỷ Vân Hành đặt mấy món đồ chơi xuống bên chân rồi lấy ra từ trong rương một quyển sổ. Bìa sổ vô cùng cũ nát, mờ mạt như đã mất đi màu sắc vốn có, ngay cả nét mực cũng phai nhạt, chỉ mơ hồ nhìn thấy hai chữ “Nguyệt Nha” trên bìa, phần còn lại thì không rõ ràng nữa.
Nàng vừa định mở ra xem thì chợt thấy Thiệu Sinh không biết từ lúc nào đã đi tới, tiện tay nhấc một quyển sách dày đặt ở trên cùng lên xem.
Kỷ Vân Hành cũng bị thu hút, nàng tiện tay khép quyển sổ lại, nghiêng đầu nhìn sang.
Quyển sách trong tay Thiệu Sinh trông không quá cũ, ít nhất vẫn mới hơn nhiều so với thứ Kỷ Vân Hành đang cầm. Chữ viết trên đó vẫn rất rõ nét. Mở sách ra xem, bên trong là những dòng chữ được liệt kê gọn gàng, tựa hồ như ghi chép ngắn gọn thông tin của một số người, bao gồm tên họ, giới tính, tuổi tác, đến từ nơi nào, gia cảnh ra sao.
Nhưng Kỷ Vân Hành nhận thấy, phần lớn những người được ghi lại thông tin trong sách này không có cái tên chính thức. Tên của một người thường sẽ kết hợp cả họ và tên, còn những người có học thức thường đặt thêm tên tự cho con của họ. Nhưng những cái tên trong quyển sách này lại đơn giản đến lạ, chẳng hạn như “A Thốn” hay “Tam Du” nghe giống nhũ danh hơn là tên thật.
“Đây là gì vậy?” Kỷ Vân Hành tò mò hỏi.
Chuyện cũ từ nhiều năm trước, người ở đây biết rõ câu trả lời chỉ có Hứa Thừa Ninh. Nhưng trước khi ông ta kịp lên tiếng, Thiệu Sinh đã cất lời: “Đây là danh sách trẻ mồ côi.”
Không khí trong sảnh lập tức trở nên yên tĩnh. Ánh mặt trời xuyên qua màn sương mờ rọi vào trong chiếu xuống nền nhà, bao phủ lấy bóng dáng của Thiệu Sinh.
Y quỳ một chân dưới đất, cúi đầu xem bản danh sách cầm trên tay, sắc mặt mờ mịt không thể đoán. Trì Tiện đứng ở cửa canh gác, bóng hắn ta kéo thành một hình dài trên mặt đất, người ở ngoài mà bóng thì ở trong. Kỷ Vân Hành nghiêng người nhìn Thiệu Sinh, ánh nắng chiếu sáng toàn bộ khuôn mặt nàng, nước da trắng ngần như được ánh vàng tô điểm, đôi mày mắt rạng ngời rõ rệt.
Hứa Thừa Ninh là người duy nhất đứng trong sảnh. Ánh mắt ông ta dừng lại trên sống lưng Thiệu Sinh đang khom xuống, có vẻ ngạc nhiên: “Làm sao ngươi biết được chuyện này?”
Thiệu Sinh đưa tay nhẹ nhàng vuốt phẳng lại trang giấy, quay đầu mỉm cười áy náy với Hứa Thừa Ninh: “Là thảo dân mạo phạm. Thôn ta ở gần Linh Châu, chuyện Bùi lão gia làm nhiều việc thiện khi xưa đến giờ vẫn được lưu truyền trong thôn. Nhưng khi đó ta còn nhỏ, hiểu biết không nhiều, những chuyện ấy đều nghe từ một đại ca trong thôn kể lại. Vị đại ca ấy là trẻ mồ côi, lúc còn nhỏ tới Linh Châu ăn xin đã được Bùi lão gia đưa về nhà cho cơm ăn áo mặc, cho chỗ ở còn dạy chữ nghĩa. Sau khi đi theo huynh ấy mới phát hiện ra nơi ấy có rất nhiều trẻ mồ côi như huynh ấy, tất cả được sắp xếp ở chung với nhau, ngày ngày đọc sách viết chữ. Sau này khi Bùi gia gặp nạn, vị đại ca ấy đã trở về thôn, huynh ấy còn mang theo một quyển sách giống hệt như quyển này. Ta đã từng lật xem rất nhiều lần, cho nên mới nhận ra nó.”
Hứa Thừa Ninh kinh ngạc: “Không ngờ những đứa trẻ năm đó vẫn còn có người sống sót. Khi xưa ta vốn định đưa những đứa trẻ ấy về nuôi dưỡng, hoàn thành tâm nguyện của Bùi Diên Văn. Nhưng sau khi phái người đến tìm, trong cơn hỗn loạn khi Bùi gia bị xét nhà tịch biên, bọn trẻ đứa bỏ mạng, đứa chạy trốn, không còn lại một ai.”
“Vị đại ca đó của ta cũng đã qua đời.” Thiệu Sinh đau buồn kể lại: “Mấy năm trước huynh ấy mắc bệnh nặng, không qua khỏi.”
Hứa Thừa Ninh thở dài đầy tiếc nuối: “Đúng là số phận trêu ngươi.”
Dứt lời, ông ta nhìn về phía Kỷ Vân Hành, thấy vẻ mặt nàng mờ mịt thì lên tiếng giải thích: “Bùi Diên Văn là cháu của ông ngoại ngươi. Hắn là người nhân hậu, thường xuyên nhận nuôi những đứa trẻ ăn xin ven đường, cho bọn chúng theo học cùng tiên sinh. Việc thiện này hắn đã làm suốt hơn mười năm. Hoàng đế cũng biết chuyện này, còn khen ngợi trên triều rằng Bùi đại nhân dạy con cháu rất khéo. Sau này, khi người nhà họ Bùi bị tống giam vào ngục, trước khi hành hình ta từng đến lao ngục thăm hắn. Khi đó Diên Văn vẫn canh cánh trong lòng về những đứa trẻ ấy, cầu xin ta thu nhận chúng. Dẫu Bùi gia có sai lầm, nhưng bọn trẻ vốn vô tội. Ta đã đồng ý, nhưng không thể làm tốt chuyện này, nhiều năm qua ta vẫn luôn cảm thấy hổ thẹn.”
“Vương gia có tấm lòng nhân hậu, thảo dân bái phục.” Thiệu Sinh nói.
“Chỉ là hư danh mà thôi.” Nhắc lại chuyện cũ, tâm trạng Hứa Thừa Ninh dường như chùng xuống vực sâu. Ông ta quay người ngồi xuống ghế, ánh mắt trống rỗng: “Diên Văn và ta cùng chung lý tưởng. Năm đó hắn theo Bùi đại nhân tiến Kinh, ta và hắn vừa gặp đã như quen thân từ lâu, cả hai còn từng hẹn sau này cùng nhau hoàn thành chí lớn. Chỉ tiếc hắn chết sớm, còn ta lại bệnh tật quấn thân, đến cả nguyện vọng của hắn cũng không thể thay hắn hoàn thành nổi…”
Kỷ Vân Hành mím môi không nói lời nào, chỉ nhìn ra bầu trời phía ngoài cửa.
Cơn mưa vừa ngớt, sương mù vẫn chưa tan, khung cảnh xa xăm chìm trong làn sương trắng, tầm nhìn không mấy rõ ràng. Tựa như những chuyện cũ đã bị cát bụi vùi lấp theo dòng thời gian, lại còn được bao phủ bởi màn mưa khói, mờ ảo khó bề phân biệt thật giả.
Hứa Thừa Ninh ngồi đó rất lâu, dường như đang đắm chìm trong hồi ức đau thương. Đợi đến khi Kỷ Vân Hành cất hết từng món đồ vật vừa lục ra vào trong rương, nàng mới quay sang chủ động lên tiếng nói với ông ta: “Vương gia, những thứ này ta có thể mang về không?”
“Đương nhiên, vốn là chuẩn bị cho ngươi.” Hứa Thừa Ninh đứng dậy bước đến bên cạnh nàng, cúi người xoa đầu nàng, mỉm cười ôn hòa: “Năm đó lúc ta đến Linh Châu, ngươi vẫn chưa ra đời. Đi gấp về vội nên đã quên mất ngươi. Mấy ngày trước Linh Châu xảy ra chuyện lớn, ta mới biết Bùi gia vẫn còn huyết mạch. Nếu ngươi đồng ý theo ta về Kinh thành, ta sẽ xin Phụ hoàng ban cho ngươi danh phận Quận chúa, ngày sau hưởng vinh hoa phú quý sống an nhàn suốt đời, được không?”
Kỷ Vân Hành ngẩng đầu nhìn ông ta.
Hứa Quân Hách và Hứa Thừa Ninh mang cùng dòng máu, nếu nhìn kỹ sẽ thấy nét mày và ánh mắt của hai người quả thật có vài phần tương tự. Nhưng có lẽ bởi vì Hứa Thừa Ninh bệnh tật đeo bám quanh năm, ánh mắt và thần thái của ông lại toát lên sự dịu dàng hơn, tựa như một sức mạnh xoa dịu lòng người khiến người nào khi đối diện với ông ta cũng tự nhiên nảy sinh sự tin tưởng.
Hoàng Đế đã định tội toàn tộc Bùi gia, thế là cả thiên hạ đều bảo rằng Bùi gia có tội, có chết cũng không oan ức.
Thế nhưng Hứa Thừa Ninh dường như không công nhận điều đó. Những ký ức cũ kỹ về chuyện năm đó ông ta vẫn ôm giữ trong lòng suốt nhiều năm trời, đến nỗi khi gặp Kỷ Vân Hành còn không ngần ngại muốn đưa Kỷ Vân Hành về Kinh thành, bù đắp cho những thiếu sót ngày trước.
Kỷ Vân Hành nhìn ông ta một lúc lâu, rồi lại cúi đầu nhẹ giọng đáp: “Đa tạ Vương gia đã cất nhắc, nhưng Linh Châu là nhà của ta, ta sẽ không rời khỏi nơi này.”
Hứa Thừa Ninh cũng không ép buộc, chỉ mỉm cười nói: “Ta sẽ ở Linh Châu thêm một thời gian. Nếu một ngày nào đó ngươi đổi ý, hoặc gặp phải khó khăn gì, cứ việc đến tìm ta.”
Kỷ Vân Hành gật đầu, lại cảm tạ lần nữa.
Hứa Thừa Ninh xoay người bước ra ngoài, gió lạnh vừa ùa đến liền khiến ông ta ho sù sụ, người hầu bên cạnh phải vội khoác thêm áo choàng dày.
Trì Tiện đứng gác bên cửa tiến tới hai bước, đứng ngay ở trước cửa sảnh chính, hắn ta hơi nghiêng người, ánh mắt bình thản ngoảnh lại liếc nhìn hai người trong sảnh, điềm nhiên nói: “Ngoài cửa có xe ngựa chờ sẵn.”
Nói xong câu đó, Trì Tiện lập tức quay người rời đi. Chẳng mấy chốc người của Hứa Thừa Ninh đã rút lui khỏi Bùi phủ, nhưng vẫn không cho dán niêm phong lên cửa, chắc hẳn Hứa Thừa Ninh đã cố ý ra lệnh để Kỷ Vân Hành có thêm thời gian ở lại đây.
Thiệu Sinh ra ngoài cửa nhìn quanh, khi thấy không còn người nào nữa mới thở phào một hơi nhẹ nhõm.
Ban đầu y cứ nghĩ Kỷ Vân Hành đến đây một mình sẽ có nguy hiểm gì đó nên mới mặt dày theo nàng vào, nhưng không ngờ cuối cùng Hứa Thừa Ninh chỉ trao lại cho nàng những vật cũ kỹ này.
Lúc này thấy Kỷ Vân Hành vẫn chưa có ý định rời đi, Thiệu Sinh cũng không yên tâm bỏ nàng ở lại một mình, y lấy từ trong người ra một chiếc còi gỗ nhỏ đưa cho nàng rồi nói: “Đây là lần đầu tiên ta bước vào một phủ đệ giàu sang như thế này nên muốn đi dạo một vòng. Nếu như muội muốn đi về, cứ thổi vào cái còi này, ta sẽ quay lại chỗ này tìm muội.”
Kỷ Vân Hành nhận lấy chiếc còi, khẽ gật đầu nghe theo.
Dù phủ đệ có rộng lớn thế nào, giờ đây chẳng còn bóng người khác nữa, tiếng còi chắc chắn có thể vang rất xa.
Sau khi Thiệu Sinh rời đi, Kỷ Vân Hành sắp xếp lại những món đồ trong chiếc rương, chỉ giữ lại cuốn sổ cũ kỹ kia.
Mặc dù trên bìa viết hai chữ “Nguyệt Nha”, thực chất nàng cũng biết đó là đồng âm theo tên tự của mẹ nàng là Duyệt Nha. Vì vậy, nàng đoán được nội dung bên trong có thể liên quan đến mẹ.
Nàng cầm cuốn sổ trong tay nhưng chưa vội mở ra xem, chỉ bước lang thang trong phủ một cách vô định.
Phủ đệ đã hoang tàn nhiều năm không có người ở, nhưng lại là nơi trú ngụ của những động vật nhỏ. Thỉnh thoảng, nàng bắt gặp vài con mèo xuất hiện dưới mái hiên hay trên những phiến đá, nàng cũng sẽ dừng bước ngắm nhìn hồi lâu rồi mới đi tiếp.
Phủ đệ này rộng đến mức Kỷ Vân Hành không biết mình đã dạo bước đến đâu, cho đến khi dừng chân trước một tiểu viện.
Tiểu viện có bức tường đá xây hình vòm, trên tường khắc một tấm biển đá hình vuông. Chỉ những vật liệu được chạm khắc như vậy mới có thể tồn tại qua năm tháng, dù trải qua trăm ngàn lần gió mưa bào mòn, vẫn có thể đọc rõ dòng chữ khắc trên đó: Tiểu viện Duyệt Nha.
Kỷ Vân Hành ngẩng đầu nhìn thật kỹ, thầm nghĩ, đây chắc chắn là nơi ở của mẹ nàng trước khi xuất giá.
Lần đầu tiên nàng đặt chân tới đây, nhưng lại có cảm giác như trở về chốn cũ, một nơi mà khói sương mờ ảo dường như đã ngấm vào tận tâm hồn làm dịu lòng nàng.
Nàng cất bước đi vào trong, phát hiện tiểu viện gần như trống rỗng, mọi thứ đã bị dọn sạch.
Bùi Vận Minh rất thích trồng hoa trong sân viện, mỗi khi hè đến hoa cỏ rực rỡ khoe màu đua sắc, mùi hương lan tỏa khắp nơi. Kỷ Vân Hành chậm rãi dạo quanh, đôi mắt nàng lướt qua từng góc nhỏ trong viện, trong đầu thầm suy đoán không biết năm đó mẹ đã đặt những món đồ gì tại đây, hay trồng những loài hoa màu sắc thế nào.
Cánh cửa phòng không khóa mà chỉ còn dán một tấm niêm phong cũ, nhưng thời gian đã quá lâu niêm phong ấy đã mục nát, vừa chạm vào đã rơi xuống.
Nàng đẩy cửa bước vào, bụi bặm ùa tới khiến mắt nàng cay xè. Kỷ Vân Hành vừa dụi mắt vừa tiến sâu vào trong.
Sàn nhà phủ đầy lớp bụi dày, bước đi như đang giẫm vào tuyết nén vừa mềm vừa dày, mỗi bước chân đi qua đều tạo ra âm thanh êm ái.
Dạo quanh một vòng trong phòng, Kỷ Vân Hành phát hiện trên một chiếc đèn tường vẫn còn chút sáp sót lại. Nàng lấy mồi lửa từ trong người ra thắp sáng đèn, cảnh vật trong phòng lập tức trở nên rõ ràng hơn nhiều.
Trong gian phòng này, những vật đáng giá đã bị chuyển đi sạch sẽ, chỉ còn lại vài bộ bàn ghế lẻ tẻ và một chiếc ghế mây đan bằng tre. Khi Kỷ Vân Hành nhìn thấy chiếc ghế mây ấy, giống như cuối cùng cũng tìm được nơi để dừng bước chân đang tìm kiếm. Nàng cũng không bận tâm lớp bụi phủ dày trên bề mặt, cứ thế ngồi xuống ghế mây lật mở cuốn sổ đã cầm trong tay suốt quãng đường.
Bìa của cuốn sổ đã mòn đến mức không thể nhìn rõ chữ, nhưng nội dung bên trong vẫn được bảo quản trọn vẹn. Mặc dù một vài chữ đã bị mờ, nhưng vẫn không ảnh hưởng nhiều đến việc đọc hiểu.
Trang đầu tiên ghi một hàng chữ nhỏ: Nhật ký những ngày rỗi rãi.
[Năm Hi Bình thứ tám, ngày mười bảy tháng năm]:
Nguyệt Nha ăn phải thứ gì đó khiến bụng khó chịu, khóc mãi không thôi. Phu nhân nói là do ta cho con bé ăn quả dại, nhưng ta cũng ăn mà có sao đâu, cho nên ta không tán thành ý kiến này lắm. Nhưng sau này ta sẽ rút kinh nghiệm, rửa sạch quả dại trước rồi mới đút cho con bé ăn.
[Năm Hi Bình thứ tám, ngày mùng sáu tháng bảy]:
Hôm nay đưa Nguyệt Nha đi chèo thuyền, con bé không cẩn thận rơi xuống nước, sau khi về nhà đã sốt cao. Phu nhân nổi trận lôi đình, cấm ta lại gần con bé trong ba ngày. Thật vô lý! Nguyệt Nha là con gái ta kia mà! Sau này ta sẽ rút kinh nghiệm, lần tới đi chèo thuyền sẽ dùng dây thừng buộc con bé lại.
[Năm Hi Bình thứ tám, ngày hai mươi tám tháng Chạp]:
Dẫn Nguyệt Nha ra ngoài đắp tượng tuyết, ta đùa giỡn vùi con bé trong đống tuyết bị phu nhân trông thấy thế là lại bị mắng. Đến tối Nguyệt Nha sốt cao, ta ra ngoài mời đại phu, còn bị phu nhân đuổi ra ngoài cửa suốt nửa canh giờ. Ta nghĩ là do con bé mặc ít quá, lần sau mặc thêm nhiều quần áo hơn thì sẽ không cảm lạnh nữa, sau này ta sẽ rút kinh nghiệm.
[Năm Hi Bình thứ chín, ngày mười ba tháng hai]:
Hôm nay Nguyệt Nha bị ngã, gãy mất răng cửa.
[Năm Hi Bình thứ chín, ngày mùng một tháng tám]:
Nguyệt Nha học điêu khắc gỗ với ta, bị dao cắt trúng tay. Phu nhân nổi giận, ném hết tất cả dụng cụ của ta.
[Năm Hi Bình thứ mười, ngày mười hai tháng năm]:
Nguyệt Nha học cưỡi ngựa với ta, lúc lên ngựa không cẩn thận ngã xuống, gãy chân. Đại phu nói phải tĩnh dưỡng nửa năm. Phu nhân định cầm dao chém ta, mấy ngày nay ta không dám về nhà. Sau này ta sẽ rút kinh nghiệm.
Kỷ Vân Hành lật từng trang, không khó để nhận ra người viết cuốn sổ này là ông ngoại của nàng. Nhưng những dòng chữ được Bùi Hàn Tùng gọi là “Nhật ký những ngày rỗi rãi” này dường như đều ghi lại sự kiện có liên quan đến Bùi Vận Minh, kể về những khi đau ốm hay bị thương của con gái, chứ chẳng một lời nào nhắc đến chính mình.
Nàng bỗng hiểu ra, đây là những cảm xúc lo âu, tự trách dồn nén của ông ngoại mỗi khi mẹ nàng bệnh hoặc bị thương, gói ghém lại để kết tinh thành cuốn sổ này.
Từng câu từng chữ trong đó đều tràn ngập tình yêu thương của Bùi Hàn Tùng dành cho con gái.
Kỷ Vân Hành thất thần ngẩng đầu lên, xuyên qua cánh cửa nhìn ra sân, tựa như nàng có thể nhìn thấy quang cảnh của rất nhiều năm về trước, nơi đây từng đầy ắp tiếng chim hót hoa thơm, mẹ nàng của thời ấu thơ vẫn đang khoác trên mình bộ xiêm y rực rỡ chạy vui đùa trong sân như một đóa hoa nhỏ đầy sức sống.
Bà vẫn là người con gái duy nhất của Bùi Hàn Tùng, là một thiên kim đại tiểu thư được yêu chiều hết mực, sống tự do tự tại như chim trời.
Bà sẽ được cha mình dắt tay, sau đó sẽ được cha đưa đi thả diều, chèo thuyền, cưỡi ngựa, leo núi.
Đó là tình cha mà Kỷ Vân Hành đã thiếu thốn rất nhiều năm.
May mắn thay, tình yêu mà người nhà họ Bùi dành cho Bùi Vận Minh đã được mẹ nàng truyền lại trọn vẹn đến nàng, bởi vậy nên dù không nhận được tình thương của cha nàng vẫn có thể trưởng thành tốt đẹp.
Kỷ Vân Hành ngồi trên chiếc ghế mây đọc rất lâu. Qua từng dòng mực đen nhuốm màu năm tháng, nàng như thấy lại Bùi phủ năm xưa, thấy lại Bùi Hàn Tùng vẫn còn hiện hữu một cách sống động, thấy cả hành trình trưởng thành của Bùi Vận Minh.
Hoàng hôn dần buông, bầu trời được ánh tà dương nhuộm một màu chói lọi như một bức họa thiên nhiên nguy nga rực rỡ kéo dài đến tận cuối tầm mắt.
Bùi phủ khi không còn ánh mặt trời chiếu rọi đã mất đi vẻ huy hoàng ngày cũ, chỉ còn lại nét u ám tàn tạ, khắp các góc nẻo đều nổi bật lên sự suy tàn của Bùi gia.
Người của Hứa Quân Hách tìm khắp phủ rất lâu, cuối cùng cũng tìm được căn tiểu viện le lói ánh nến.
Hắn bảo mọi người lui ra ngoài sân, một mình bước vào trong. Khi vào phòng, hắn nhìn thấy Kỷ Vân Hành đã nằm trên chiếc ghế mây ngủ thiếp đi, trong lòng vẫn đang ôm chặt một cuốn sổ. Nửa khuôn mặt nàng được ánh nến trên tường soi rọi trông thật yên bình.
Vào khoảnh khắc trông thấy nàng, nhịp tim hắn dần bình phục lại, mọi phiền muộn cuống cuồng vừa nãy cũng tan biến không còn dấu vết.
Hắn vốn bước rất nhẹ lại giẫm trên lớp bụi dày nên không phát ra tiếng động, cứ như thế lặng lẽ tiến đến bên ghế mây. Hắn khom người tiến lại gần hơn, thấy Kỷ Vân Hành thở đều, bụng hơi phập phồng chứng tỏ đã ngủ rất say. Thế nhưng Hứa Quân Hách phát hiện ra khóe mắt nàng như còn vương vệt nước, đôi mắt còn hơi sưng đỏ dường như vừa mới khóc một trận, khóc đến mệt mới ngủ thiếp đi.
Hứa Quân Hách đưa tay ra nhẹ nhàng bế cả người nàng lên.
Chỉ một động tác ấy, Kỷ Vân Hành đã giật mình tỉnh giấc, còn chưa kịp nhìn rõ người đụng chạm vào mình là ai nên cứ vùng vẫy theo bản năng.
“Hữu Hữu.” Hứa Quân Hách khẽ gọi tên nàng.
Kỷ Vân Hành kinh ngạc ngẩng đầu, lúc này mới nhận ra người trước mặt là Hứa Quân Hách, tay chân đang vùng vẫy cũng dần buông lỏng. Nàng vừa bị dọa sợ nên giọng nói có hơi yếu ớt, mang theo ý trách móc: “Lương Học, sao lại hù dọa ta như vậy?”
Hứa Quân Hách cúi đầu nhìn nàng đã thả lỏng cơ thể, thấy sự mệt mỏi còn đọng nơi chân mày và ánh mắt mơ màng vì vừa tỉnh ngủ, lòng hắn chợt dịu lại, giọng nói cũng nhuốm vẻ mềm mỏng: “Ta thấy nàng ngủ say ở đây, sợ đánh thức nàng nên không dám gọi.”
“Bây giờ ngài đã đánh thức ta rồi đấy.” Kỷ Vân Hành khẽ đẩy vai hắn ra: “Thả ta xuống đi.”
Hứa Quân Hách không nghe theo, vẫn đứng im bất động.
Dáng người Kỷ Vân Hành không cao, cũng chẳng có da thịt gì, thế nên khi bế lên cũng nhẹ bẫng. Nàng không làm việc nặng nên cũng chẳng có bắp thịt rắn rỏi, chỗ nào trên cơ thể cũng mềm mại như nước. Nếu là trước đây, Hứa Quân Hách chắc chắn sẽ không có suy nghĩ gì khác, nhưng giờ đây khi đã nảy sinh tình cảm khác lạ với nàng, mỗi lần gần gũi đều khiến hắn như kẻ nghiện, luôn muốn khao khát nhiều hơn không sao kìm nén nổi.
Hứa Quân Hách cố tình lái sang chuyện khác: “Nàng có biết ta tìm nàng bao lâu rồi không?”
Kỷ Vân Hành nhìn ra ngoài thấy trời đã tối mù, lúc này mới nhận ra mình ở trong đây quá lâu rồi. Nàng dụi mắt, nói: “Ta không cẩn thận ngủ quên mất. Thế còn Thiệu Sinh ca đâu?”
“Hắn đã về trước rồi.” Hứa Quân Hách đáp.
Kỷ Vân Hành gật đầu, lại cảm thấy nói chuyện ở tư thế này thật kỳ cục, bèn đẩy vai hắn ra nhấn mạnh lần nữa: “Thả ta xuống đi mà.”
Hứa Quân Hách vẫn không chịu buông mà còn ôm nàng chặt hơn, còn cố ý nhấc nàng lên xuống vài lần:
“Ta xem thử dạo này nàng có ăn uống tử tế không, có thêm tí da thịt nào không.”
“Thả ta xuống!”
Kỷ Vân Hành đỏ bừng hai lỗ tai, lại bắt đầu âm thầm giãy giụa mạnh hơn.
Hứa Quân Hách “chậc” một tiếng, than thở: “Để ta ôm một lát cũng không được sao, trước đây lúc nàng bệnh còn ôm chặt lấy ta không buông kia mà, sao giờ đến lượt ta thì nàng lại trở mặt vô tình!”
Đối mặt với lời chỉ trích của hắn, khí thế của Kỷ Vân Hành yếu đi hẳn: “Khi nào chứ…”
“Chính là cái lần phòng ngủ nhà nàng bị dột nước mưa, nàng ngồi xổm dưới sàn chơi bùn đất rồi đổ bệnh. Lúc đó nàng sốt mê man, cứ khăng khăng đòi ôm ta ngủ.” Hứa Quân Hách lật lại chuyện cũ, kể lại một cách hết sức chi tiết: “Ta muốn đi cũng không được, nàng cứ chui vào lòng ta, nếu ta không ôm thì nàng lại r*n r* khóc lóc.”
Lần đó Kỷ Vân Hành đúng là sốt đến mơ hồ, làm sao nhớ được những chuyện này. Nhưng trong ký ức, nàng thực sự nhớ lần bệnh đó đã được ai đó ôm rất lâu, thậm chí trong cơn mê còn mơ thấy mẹ nàng. Khuôn mặt nàng lập tức nóng bừng, nhỏ giọng ngăn lại: “Đừng nói nữa.”
Hứa Quân Hách hừ một tiếng: “Làm người phải biết ơn báo đáp.”
Kỷ Vân Hành cố gắng phản bác: “Nhưng lúc đó ta bị bệnh, bây giờ ngài có bệnh đâu.”
Hứa Quân Hách nói: “Sao lại không có?”
Kỷ Vân Hành mở to mắt ngạc nhiên: “Ngài bị bệnh sao? Là bệnh gì?”
“Không ôm ai thì trong lòng sẽ khó chịu, cái bệnh mà khắp cả người đều không thoải mái ấy.” Hứa Quân Hách vừa trả lời vừa tranh thủ ngồi xuống chiếc ghế mây, nhân cơ hội bịa chuyện ôm chặt Kỷ Vân Hành trong lòng, ép nàng ngồi trên đùi hắn. Hắn nói tiếp: “Nàng chưa từng nghe thấy cũng bình thường thôi, bởi vì nàng ít hiểu biết. Sau này đi theo ta sẽ học được nhiều thứ mới, coi như nàng may mắn đó.”
Kỷ Vân Hành: “…”
Lúc ra khỏi Bùi phủ, trời đã tối hẳn. Trước cửa có một chiếc xe ngựa dừng sẵn, chính là chiếc mà Hứa Thừa Ninh để lại cho Kỷ Vân Hành.
Nhưng Hứa Quân Hách không để nàng ngồi vào chiếc xe đó, sau khi bảo người đánh xe rời đi, hắn lại kéo nàng lên xe ngựa của mình.
Trong xe ngựa có đốt hương, mùi hương nhàn nhạt quen thuộc lan tỏa khiến Kỷ Vân Hành cảm thấy thoải mái vô cùng.
Trước đây khi ngồi xe ngựa, Hứa Quân Hách thường độc chiếm một bên ghế, duỗi đôi chân dài ra tìm một tư thế thoải mái nhất. Nhưng lần này, hắn cứ nhất quyết phải ngồi cùng với Kỷ Vân Hành, nhưng cũng chỉ có thể ngồi cạnh nhau mà thôi, nếu ngồi sát quá Kỷ Vân Hành sẽ đẩy hắn ra, nói những lời phản đối hắn.
Đi đến giữa đường, Kỷ Vân Hành đột nhiên lên tiếng: “Dường như Vương gia có bệnh lâu năm.”
Hứa Quân Hách giận dỗi, làm như không nghe thấy.
Kỷ Vân Hành nghiêng đầu liếc nhìn hắn, nhỏ giọng gọi: “Lương Học?”
Hứa Quân Hách vốn đã không giận nàng được, bây giờ xác định rõ tình cảm của mình thì lại càng không thể. Chỉ cần nàng gọi một tiếng thế thôi, hắn đã không giữ nổi nét mặt lạnh lùng của mình thêm nữa. Nhưng nếu không chiếm được món hời gì thì quá lỗ, hắn bèn hỏi lại: “Nàng muốn biết?”
Kỷ Vân Hành gật đầu, sau đó lại thấy hắn chìa tay qua: “Xoa bóp tay cho ta đi. Hôm nay cưỡi ngựa lâu, tay mỏi rồi.”
Kỷ Vân Hành cúi xuống nhìn, quả nhiên thấy chỗ gan bàn tay của hắn có dấu bị trầy xước da do cầm cương lâu mà ra. Nàng không từ chối, dùng hai tay nâng tay hắn lên vụng về xoa bóp từ từ. Bàn tay nhỏ nhắn của nàng lướt từ ngón cái xuống lòng bàn tay, nhẹ nhàng ấn bóp.
Hành động tuy không chuyên nghiệp cũng không có tác dụng gì, nhưng Hứa Quân Hách lại thấy vô cùng thoải mái, liền cất lời: “Hoàng thúc của ta lúc nhỏ cũng sinh non, lúc được sinh ra đời suýt không sống nổi. Năm mười tuổi ông ấy đã mắc bệnh phổi, tuy chữa khỏi nhưng để lại mầm bệnh, cứ hễ ra gió sẽ bị ho.”
Kỷ Vân Hành hỏi: “Giống ta sao?”
“Khác xa.” Giọng Hứa Quân Hách có vẻ uể oải trả lời: “Sức khỏe của nàng tốt hơn ông ấy nhiều.”
Năm đó Kỷ Vân Hành bị sinh non là do Bùi Vận Minh lo âu quá độ, lại thêm biến cố ở Bùi gia khiến bà trải qua cú sốc lớn, cảm xúc không ổn định nên mới dẫn đến sinh non. Nhưng hoàn cảnh của Hứa Thừa Ninh lại khác, tranh đoạt trong hậu cung là chuyện thực sự nguy hiểm đến tính mạng. Hứa Thừa Ninh có thể sống sót hoàn toàn nhờ vào mệnh ông ta đủ “lì”.
Nhưng Hứa Quân Hách không nói đến những chuyện đó, chỉ nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay v**t v* mu bàn tay nàng, từ tốn nói tiếp: “Vậy nên ta mới nói, nếu như thân thể nàng được điều dưỡng tốt, sau này có thể sẽ sống thọ trăm tuổi.”
Kỷ Vân Hành nghe thấy lời này cũng vui vẻ trong lòng. Nàng cúi đầu, chăm chú ra sức bóp tay cho hắn một lúc lâu rồi lại ngẩng lên nói: “Lương Học cũng sẽ như vậy.”
Hứa Quân Hách khẽ “ừm” một tiếng, nhìn ánh mắt chăm chú của nàng, ý cười trong mắt hắn ngày càng sâu hơn.
Sau khi đưa Kỷ Vân Hành về đến Kỷ phủ, trên đường về Hứa Quân Hách đã suy nghĩ rất lâu, cuối cùng mới gọi Trình Du đến, dặn dò: “Đi điều tra xem lai lịch của người tên Thiệu Sinh kia.”
Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
