Bước Qua Băng Xuân - Bán Duyên Tu Đạo
Chương 6
Sau lập thu, thời tiết mát mẻ hơn. Vừa qua Thất Tịch chưa được bao lâu, mấy tiểu cảnh hình cầu khéo léo trong cung đã được dỡ xuống, bắt tay vào chuẩn bị cho lễ Trung Nguyên. Nửa đầu năm nay, trong cung ngoài cung chết rất nhiều người, Thái hậu đích thân ban dụ chỉ, lệnh cho Ngự Dụng Giám gấp rút làm một nghìn tám trăm chiếc đèn hoa đăng để thả xuống hồ Thái Dịch vào đúng lễ Trung Nguyên. Đồng thời cũng hạ lệnh cho các chùa miếu lớn ngoài cung lập đạo tràng lễ Vu Lan, mời mấy vị cao tăng vào cung chủ trì lễ.
Ngự Dụng Giám():Là cơ quan chuyên phụ trách sản xuất, cung ứng, quản lý vật phẩm phục vụ triều đình và hoàng thất, từ đồ dùng thường ngày, ngự dụng, đến lễ khí, công trình hoàng cung, đồ tế tự…
Đạo tràng: nơi tụng kinh, làm lễ Phật.
Hoàng đế thì đang bận bịu việc giỗ tổ lễ Trung Nguyên, y triệu mấy vị Hàn lâm học sĩ đến Văn Uyên Các, giao cho họ biên soạn văn tế.
Tống Đàn nghe nói vậy bèn cố ý đến đợi bên ngoài Văn Uyên Các. Hôm nay vốn không phải phiên trực nhưng hắn vẫn đợi ở con đường nhỏ cạnh Văn Uyên Các, nhàn rỗi đi loanh quanh đó.
Chẳng bao lâu sau, có người từ trong điện bước ra, ra là mấy vị Hàn lâm học sĩ. Trong số đó, có một người trẻ hơn hẳn hai người còn lại, mặc thanh bào thắt đai bạc, dáng người thẳng tắp. Mày mắt sắc lạnh mà cốt cách lại mang theo vài phần cao ngạo. Hai vị học sĩ còn lại dường như không thân thiết với hắn, không bắt chuyện nhiều.
Đi được một đoạn, hai người kia đã sóng vai rời đi trước, chỉ còn lại hắn đơn độc mà lặng lẽ bước sau.
Thế nhưng thần thái hắn lại thản nhiên tự tại, không giống như bị người cô lập, mà hính hắn cô lập mấy người kia thì đúng hơn.
Vị học sĩ trẻ trung tuấn tú, lạnh lùng mà vững vàng như tùng bách mùa đông ấy, chính là Thẩm Tịch.
“Thẩm đại nhân.” Tống Đàn bước ra, hành lễ vấn an Thẩm Tịch.
Tống Đàn có quen biết với Thẩm Tịch. Năm xưa Thẩm Tịch từng dạy chữ cho các cung nhân trong Thư Phòng, Tống Đàn là học trò của hắn, học suốt bốn năm trong đó. Sau này Thẩm Tịch rời đi, Tống Đàn vẫn thường đến tìm hắn để thỉnh giáo.
Thẩm Tịch trông thấy Tống Đàn, vẻ mặt khẽ dịu lại: “Là tiểu Tống công công à, hôm nay chưa đến phiên trực sao?”
Tống Đàn bước đến cạnh Thẩm Tịch, nói: “Hôm nay ta được nghỉ, nghe nói bệ hạ triệu các vị học sĩ vào yết kiến nên qua đây xem thử.”
Thẩm Tịch nhìn vẻ mặt hắn, đoán rằng hắn đã đứng chờ khá lâu liền hỏi: “Ngươi tìm ta, có việc gì sao?”
Hắn biết trong cung có vị Đặng công công nọ không dễ đối phó, đoán chừng chắc là Tống Đàn gặp chuyện, hoặc là bị người ta làm khó.
Tống Đàn lắc đầu, sánh bước cùng Thẩm Tịch đi dọc theo hành lang nhỏ. Hắn đến tìm Thẩm Tịch, là vì lo lắng. Thẩm Tịch bị Hoàng đế quở trách ngay tại triều, chỉ e rằng giờ hắn trong Hàn lâm viện cũng chẳng có địa vị tốt. Khi nãy rõ ràng bị mấy vị học sĩ kia cô lập.
Nghe nói là vì chuyện của mình, Thẩm Tịch cũng hơi yên tâm hơn một chút, nói:
“Chuyện nhỏ thôi, đạo chẳng hợp thì chẳng thể làm bạn, nếu chẳng thể kết giao thì cũng không đáng tiếc.”
Hắn vẫn luôn mang cốt cách kiêu hãnh ấy, nhưng đối với kẻ yếu lại luôn tràn đầy lòng trắc ẩn và thương cảm.
“Chỉ tiếc cho những người bị liên luỵ trong vụ án của Thang Cố.” Thẩm Tịch khẽ thở dài.
Tống Đàn không hiểu: “Tại sao nhất định phải cứu họ? Rốt cuộc họ cũng đã làm sai rồi mà.”
Thẩm Tịch suy nghĩ một lúc rồi nói: “Trong đám tay chân của Thang Cố, không phải ai cũng làm những việc tàn ác tổn hại đến trời đất. Có những người vì không còn cách nào khác, đành phải cúi đầu khuất phục Thang Cố. Những người đó đa phần xuất thân từ gia đình nghèo khó, cả đời cần cù học hành, một gia tộc hay một cả làng mới có được một người đỗ đạt. Họ không phải cố ý nịnh hót, mà chỉ cần không chiều ý đám tay chân Thang Cố là sẽ bị đàn áp. Có thể không sợ quyền thế tất nhiên là tốt, nhưng phần đông họ chỉ là người bình thường, cũng cần phải mưu sinh.”
Thẩm Tịch nhẹ nhàng nêu ra lý do: “Còn có những người là bậc chí sĩ có chí hướng. Thang Cố thời còn làm quan như một cây đại thụ che phủ trời đất, những người này để thực hiện lý tưởng và nguyện vọng của mình, đành phải tạm thời đi theo. Nếu họ là hạ quan, thì một phố một xóm yên ổn; nếu là tri huyện, thì cả một huyện bình an; nếu tiến vào triều làm quan, dù không thể trị quốc bình thiên hạ, ít nhất cũng có thể làm được nhiều điều cho dân chúng.”
Tống Đàn suy tư: “Bệ hạ có biết những chuyện này không?”
Thẩm Tịch im lặng một lúc rồi đáp: “Dù bệ hạ có biết hay không, những việc đã định thì khó có thể thay đổi.”
Hắn nhìn Tống Đàn đang trầm ngâm suy nghĩ, nhắc nhở: “Những chuyện triều chính này, ngươi nghe qua là đủ, đừng tham gia quá sâu. Ngươi là người thân cận bệ hạ, sơ suất một chút cũng có thể chuốc họa sát thân, biết giữ mình là trên hết.”
Với đệ tử nhỏ của mình, Thẩm Tịch luôn dặn dò chu đáo không ngừng.
Tống Đàn ngoan ngoãn gật đầu, tiếp thu lời dặn.
Hai người đi đến chỗ rẽ, Tống Đàn lấy ra một cái túi nhỏ phồng phồng từ trong tay áo, đưa cho Thẩm Tịch.
Thẩm Tịch nhận lấy, mở ra xem thì ra là một túi hạt sen đã bóc vỏ.
“Cái này là gì?” Thẩm Tịch nhìn Tống Đàn hỏi.
Tống Đàn khoanh tay, nói: “Hạt sen là vật dùng trong lễ tế sư, tài năng của ta kém cỏi, đây là lễ cảm tạ Thẩm đại nhân đã dạy dỗ tận tình.”
Thẩm Tịch cười, cầm lấy túi sen buộc miệng lại, bỏ vào trong ngực, nói: “Ngươi là học trò thông minh, không cần tự xem thường mình như thế.”
Tống Đàn thấy hắn nhận lấy hạt sen bèn lấy làm vui vẻ, ánh mắt cũng sáng lên long lanh đầy cảm tình.
Thẩm Tịch và Tống Đàn chào nhau tại đây, rồi ra khỏi cung.
Phía bên kia lối đi trong cung, Hoàng đế ngồi trên kiệu, vẻ mặt thản nhiên nhìn Tống Đàn cùng Thẩm Tịch.
Đặng Vân đứng bên cạnh kiệu, lòng tay đầy mồ hôi.
“Tống Đàn và Thẩm Tịch quen biết nhau à?” Hoàng đế hỏi giọng nhẹ.
Đặng Vân suy nghĩ rồi đáp: “Nghe nói Thẩm đại nhân từng dạy cung nhân học chữ trong Thư Phòng, có lẽ từ lúc đó quen biết nhau.”
Hoàng đế chợt nhớ ra, Tống Đàn biết chữ nghĩa, đôi khi còn có thể dẫn giải kinh sử trôi chảy, xuất khẩu thành chương, nói hắn chỉ hiểu chút ít là đã khiêm tốn rồi.
“Thế ra đều là công lao của Thẩm đại nhân sao?” Giọng Hoàng đế khó dò, gõ nhẹ lên chiếc bàn nhỏ, kiệu lại tiếp tục di chuyển.
Tống Đàn từ Tây Hoa Môn đi về Tây Trực Phòng, đúng lúc đi ngang qua nơi cung nhân Ngự Dụng Giám đang xử lý những chiếc đèn bị hỏng, họ cho Tống Đàn hai chiếc đèn, hắn bèn cầm trên tay tiếp tục đi. Khi ngang qua Tây Uyển, hắn bỗng nhác thấy có bóng người nhỏ nhắn đang trốn trong bụi cây.
“Ai đó? Ra ngoài!”
Trong bụi cây có tiếng xào xạc, một thái giám độ mười hai, mười ba tuổi chui ra, đội mũ lệch sợ sệt nhìn Tống Đàn.
Tống Đàn nhìn cậu ta một lúc, hỏi: “Ngươi là tiểu thái giám của Ngự Dụng Giám phải không?”
Tiểu thái giám ngẩn ra một chút rồi đáp: “Phải.”
Tống Đàn trao cho cậu ta chiếc đèn, nói: “Đúng lúc lắm, giúp ta cầm một lát.”
Nói xong, hắn lại tiếp tục đi, gọi cậu ta đi theo luôn.
Thiếu niên thái giám cầm đèn, nhìn về phía cửa Tây Uyển, do dự rồi theo bước Tống Đàn.
Về đến phòng, Tống Đàn đặt chiếc đèn trên tủ đầu giường, lấy nước ấm và khăn lau đưa cho tiểu thái giám, nói: “Rửa mặt đi.”
Tiểu thái giám ngồi trên ghế thấp, nhìn Tống Đàn hỏi: “Ngươi… ngươi có biết ta là ai không?”
Tống Đàn mím môi, nói: “Công chúa điện hạ, nô tài từng gặp công chúa trong Cung Khôn Ninh.”
Đại công chúa nghiêm mặt, nhận khăn lau tay từ Tống Đàn.
Đại công chúa mặc y phục tiểu thái giám lảng vảng trước cửa Tây Uyển, chắc hẳn là lén ra ngoài vào Tây Uyển để gặp Trang Phi nương nương.
“Tống Đàn công công, ta cũng nhận ra ngươi.” Công chúa nói, “Mẫu thân có nhắc đến ngươi, nói ngươi là người tốt, sẽ không hạ thấp người khác.”
“Ngươi có thể giúp ta không?” Đại công chúa nhìn Tống Đàn rất sốt ruột, “Ta muốn gặp mẫu thân.”
Tống Đàn lộ vẻ khó xử, nói: “Việc của Trang Phi nương nương còn chưa qua lâu, bệ hạ vẫn nhớ rõ, Tây Uyển canh phòng rất nghiêm, không dễ dàng cho ai vào. Nếu điện hạ lén vào thăm Trang Phi, e rằng nương nương và điện hạ đều sẽ bị bệ hạ trách phạt.”
Đại công chúa mắt đỏ hoe, không nói gì thêm.
Tống Đàn cẩn trọng hỏi: “Điện hạ, trong cung không được tốt sao?”
Đại công chúa cúi đầu, chỉ nói: “Phụ hoàng vẫn luôn quan tâm, lúc nào cũng ban thưởng, nhưng ta nghe nói phủ công chúa ngoài cung đang được xây, chẳng mấy nữa ta sẽ phải dọn ra khỏi đây.”
Hoàng đế có ban thưởng, nhưng hiếm khi gặp Đại công chúa. Có thể thấy đứa trẻ không được lòng phụ hoàng, không còn được mẫu thân che chở, sống rất khổ sở.
Tống Đàn đứng lên lấy hai gói bánh từ trong tủ, một đĩa bánh nhỏ nhân thịt heo hun khói, một đĩa bánh hoa quế…
Đại công chúa cũng không tỏ vẻ chê bai, cầm lấy bánh ngọt bắt đầu ăn. Tống Đàn rót trà cho cô bé, nhẹ giọng an ủi: “Rằm tháng Bảy sắp đến, công chúa nên đến bên Thái hậu để thể hiện hiếu tâm mới phải.”
Bởi vì ngôi vị thái tử còn chưa định đoạt, Thái hậu đối với các cháu nội vẫn giữ thái độ công bằng, chưa thiên vị ai. Hiện tại Đại công chúa là đứa trẻ đáng thương mất mẹ, lại đã dứt khoát cắt đứt với nhà họ Thang của tiền triều, hẳn Thái hậu sẽ có thêm vài phần thương xót.
Đại công chúa lập tức hiểu ra, nói: “Ta nghe nói Hoàng tổ mẫu có một nội thần sủng ái tên là Dương Tứ Hòa, ta có nên gặp người ấy không?”
Tống Đàn lắc đầu: “Người là công chúa, Dương Tứ Hòa chỉ là một thái giám, làm sao có thể khiến công chúa hạ mình gặp mặt?”
Đại công chúa trầm ngâm một lúc, nói: “Là bởi vì phụ hoàng không thích Dương Tứ Hòa.”
Đại công chúa quả thực là người thông minh. Cô bé muốn lấy lòng Thái hậu, nhưng lại không thuận theo ý Thái hậu mà đối đãi tốt với Dương Tứ Hòa, vậy chỉ có thể là vì vị chủ nhân khác trong Tử Cấm Thành rất ghét hắn ta.
Trời không còn sớm, Đại công chúa ăn xong hai đĩa điểm tâm bèn cáo từ Tống Đàn. Tống Đàn tiễn cô bé đến tận cửa Tây Hoa Môn, vú nuôi của Đại công chúa đã chờ sẵn ở bên ngoài.
Trước khi rời đi, Tống Đàn dặn dò cô bé nhất định không được làm chuyện như hôm nay nữa.
Đại công chúa khẽ cúi người: “Ta biết rồi, sẽ tự biết giữ mình. Đa tạ công công.”
Đến ngày Rằm tháng Bảy, trong cung có pháp hội do cao tăng chủ trì, Hoàng đế cũng đến dự. Khi Tống Đàn đến trực thì Hoàng đế vừa lễ Phật xong, trên người mặc một bộ thường phục cư sĩ màu trắng tuyết thêu họa tiết hoa sen chìm, trên người thoang thoảng mùi đàn hương, trông chẳng khác nào một vị thánh tử vô dục vô cầu trong Phật môn.
Hoàng đế mặc bộ y phục này quay về điện Thái Cực để phê duyệt tấu chương. Đặng Vân nhìn thấy dáng vẻ này của Hoàng đế, thần sắc hơi kỳ lạ, vì trong tay gã đang cầm danh sách xử phạt của vụ án Thang Cố.
Hoàng đế mở tấu chương ra, là một tập danh sách dày, toàn bộ đều là những người liên can đến vụ án.
Hoàng đế không phê chuẩn ngay, chỉ để tấu chương lại, rồi bảo Đặng Vân lui ra. Trong lòng Đặng Vân ngờ vực, chẳng lẽ là vì hoàng thượng vừa lễ Phật xong, tạm thời không nỡ tạo thêm sát nghiệp?
Tống Đàn thu xếp lại tấu chương, đặt bên tay trái của Hoàng đế. Ánh mắt Hoàng đế đảo qua, quyển đầu tiên chính là tấu chương của Thẩm Tịch. Hắn vẫn chưa từ bỏ, chỉ cần Hoàng đế chưa hạ chỉ xử phạt, gần như mỗi ngày đều dâng tấu lên.
Hoàng đế nhìn sang Tống Đàn đang đứng bên cạnh, mài mực.
“Ngươi thấy đám đảng Thang Cố nên xử nặng hay nên thả cho họ một con đường sống?”
Tống Đàn ngẩng đầu, bắt gặp ánh mắt của Hoàng đế đang nhìn mình.
Hắn đứng ngay bên cạnh Hoàng đế, tay buông thẳng bên người, có chút kinh ngạc: “Nô tài chỉ là một người trong nội đình, đâu dám bàn chuyện triều chính?”
“Vụ án của Thang Cố, người trong thiên hạ đều quan tâm, từ vương công đại thần cho đến dân buôn người bán, ai nấy đều bàn tán. Trẫm chỉ muốn nghe thử ý kiến của ngươi thôi.” Hoàng đế thuận tay rút tấu chương của Thẩm Tịch, nội dung bên trong y đã quá quen thuộc, “Trẫm miễn tội cho ngươi, cứ việc nói thẳng.”
Ánh mắt Tống Đàn rơi lên tấu chương trong tay Hoàng đế — tấu của Thẩm Tịch — hắn không do dự quá lâu, không dám để Hoàng đế phải chờ.
“Nô tài cả gan nói một câu: Trong vụ án Thang Cố, người bị cuốn vào rất đông, hẳn là cũng có những người ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’.” Tống Đàn nhìn tấu chương kia, hoàn toàn không nhận ra ánh mắt của Hoàng đế vẫn dừng lại trên người mình, “Họ là những nhân tài được chọn lọc trong thiên hạ, nếu làm quan nhỏ, có thể giữ yên một phố một phường; nếu làm tri huyện, có thể bảo vệ yên bình một huyện; giết sạch bọn họ như vậy, có phải sẽ quá đáng tiếc không?”
Hoàng đế trầm ngâm một lúc, nói: “Lời ngươi nói cũng có vài phần đạo lý.”
Ánh mắt Tống Đàn sáng lên, hắn cảm thấy mình có lẽ đã giúp được Thẩm Tịch.
“Nhưng làm sao phân biệt được ai là kẻ gần bùn mà không hôi tanh mùi bùn, ai là ngọc lẫn trong đá?” Dường như hôm nay Hoàng đế rất kiên nhẫn, “Trẫm không phải là quan một huyện một châu, trẫm phải chịu trách nhiệm với muôn dân trong thiên hạ. Ngươi có biết, phân tranh thế lực trong triều chính là căn bệnh trầm kha lớn nhất của triều đình. Quan lại không còn nghĩ cách cải thiện dân sinh, chia sẻ nỗi lo cùng trẫm, mà chỉ lo kết bè kéo cánh, chia phe lập phái. Ngựa tốt cũng thế thôi, nếu chắn đường thì dù là thánh nhân cũng bị giết. Tác hại của đấu đá giữa các đảng phải đối với thiên hạ, không kém gì binh đao loạn lạc.”
Sắc mặt Hoàng đế không hề kích động, thậm chí còn rất bình thản: “Cho nên trẫm nhất định phải giết bọn chúng, trẫm muốn để những kẻ đứng ngoài cuộc nhìn cho rõ, nhớ cho kỹ, khắc sâu tận xương tủy, để không ai dám tái phạm.”
Sợ hãi lúc nào cũng hữu hiệu hơn so với giảng đạo lý — Tống Đàn ở trong cung hiểu rõ điều đó hơn ai hết.
Hắn không thể phản bác Hoàng đế. Thẩm Tịch nhìn thấy là từng người, từng gia đình; còn Hoàng đế nhìn thấy lại hoàn toàn khác. Những bi kịch và bất công của họ trong mắt kẻ nắm quyền chỉ như một hạt bụi nhẹ tênh, chẳng đáng quan tâm.
Tống Đàn không còn gì để nói. Hoàng đế khép lại tấu chương của Thẩm Tịch, tiện ném sang một bên, rồi thản nhiên hỏi: “Những lời vừa rồi, là ai dạy ngươi nói?”
Tống Đàn sững người, sắc mặt thoắt cái tái nhợt, lập tức quỳ xuống, nói: “Không có ai dạy nô tài cả, là nô tài mạo phạm.”
Hoàng đế nhìn chằm chằm Tống Đàn một lúc, rồi bỗng nhiên khẽ bật cười, bảo hắn đứng lên.
Cổ họng Tống Đàn căng cứng, hắn run rẩy đứng dậy.
“Không cần sợ đến vậy, trẫm đã nói rồi, tha tội cho ngươi.” Hoàng đế nói vậy, nhưng ánh mắt đã không nhìn hắn nữa, phất tay ra hiệu cho lui xuống.
Tống Đàn cúi đầu hành lễ, từng bước một lui ra khỏi điện Thái Cực.
Hắn hiểu rất rõ trong lòng — mình chẳng thể giúp gì được cho Thẩm Tịch, ngược lại còn gây ra đại họa.
Bước Qua Băng Xuân - Bán Duyên Tu Đạo
