Trao Em Một Đời An Yên

Chương 18


Trời sáng ở Hải Châu đã tạnh ráo, các chuyến bay được khôi phục, Thẩm Mân đổi vé chuyến bay sớm nhất, đón được Phó Tắc Dịch khi anh vừa rời khỏi Hải Châu.


Hai người theo đường cũ trở về Tô Lăng.


Đêm qua Phó Tắc Dịch ngủ trên ghế sofa, hầu như thức trắng, trên xe anh nhắm mắt nghỉ ngơi một lúc.


Đi ngang qua một trạm dừng chân, Thẩm Mân muốn đổ xăng, bánh xe lăn qua gờ giảm tốc khiến xe hơi nảy lên, Phó Tắc Dịch tỉnh giấc, đưa tay day day thái dương.


Thời gian này hầu như anh không được nghỉ ngơi tử tế, tinh thần cũng không được tốt lắm.


Thẩm Mân ngước nhìn kính chiếu hậu, khẽ hỏi: “Hôm qua sao anh lại đích thân lái xe đưa cô Ngộ Từ về Hải Châu vậy?”


Thậm chí vội vã đến mức không xem cả dự báo thời tiết.


Kiểu tùy hứng thế này, thực sự không giống phong cách làm việc thường ngày của anh.


Phó Tắc Dịch ngẩn ra một lúc mới đáp: “Chuyến bay bị hủy, sáng nay con bé có tiết học.”


Ngắn gọn súc tích, giải thích rõ ngọn ngành, nghe thì không có vấn đề gì.


Thẩm Mân lại liếc kính chiếu hậu, không hỏi thêm.


Khi hai người về đến Tô Lăng thì phố xá cũng đã lên đèn, bác Thân từ xa đã ra đón.


Vì đã hỏi trước giờ giấc hai người về nên bác đã chuẩn bị sẵn bữa tối.


Thẩm Mân dùng bữa tối ở Dụ Viên xong mới rời đi.


Tiễn Thẩm Mân xong, Phó Tắc Dịch lại đi qua phòng bà nội một chuyến.


Đây cũng là thói quen suốt bao năm nay.


Trước kia khi Ngộ Từ còn sống ở Dụ Viên cũng vậy, trước khi đi ngủ đều qua Tây Viên trò chuyện cùng bà cụ, sau đó mới ai về phòng nấy.


Lúc Phó Tắc Dịch đến Tây Viên, bà nội đang ngồi bên cửa sổ tỉa một bó hoa hồng champagne.


Bà cụ thích hoa, trong phòng ngày nào cũng ngập tràn hoa tươi, chỉ là trước kia việc này đều do Ngộ Từ làm.



Phó Tắc Dịch bước tới, gọi: “Bà nội.”


Bà nội cầm kéo, ừ một tiếng rồi hỏi: “Tiểu Từ đến trường an toàn chứ?”


Dì Tần mang tới cho hai người chén trà hoa cúc trắng.


Rất nhiều đồ đạc trong Dụ Viên đều là đồ truyền lại từ thời tổ tiên, chén trà gốm xanh thời cuối nhà Thanh, được bảo quản nguyên vẹn, sáng bóng như ngọc.


Anh đáp: “Đến nơi rồi ạ.”


Sau đó, anh cầm chén trà lên nhấp một ngụm.


Cúc nụ Hàng Châu loại thượng hạng, vị thanh tao.


Bà nội nghiêng mắt nhìn anh rồi đặt kéo xuống, khẽ thở dài: “Con bé đi rồi, tự dưng bà thấy chỗ nào cũng trống vắng.”


Nói xong, bà chỉ tay về phía gian sách nhỏ ở phía bắc căn phòng.


Phòng sách của Dụ Viên nằm ở Đông Viên, là nơi con cháu đời trước đọc sách thi cử, Phó Tắc Dịch thường không dùng, bà nội chê xa cũng không qua, chỉ ngăn một góc nhỏ trong phòng để đặt bút mực giấy nghiên.


Phó Tắc Dịch nhìn theo hướng bà chỉ.


Trên chiếc bàn gỗ hương đỏ chất đầy kinh Phật, dưới đất bên cạnh là hai chiếc rương gỗ lớn.


“Mấy hôm trước nó giúp bà phơi kinh, nghe nói số đó định gửi đến chùa Lan Nhược, con bé cũng tự ngồi đó chép hết non nửa quyển.”


Ngộ Từ thích giúp bà nội làm việc, đây cũng không phải chuyện gì lạ.


Vẻ mặt Phó Tắc Dịch hơi mờ mịt, chỉ nghĩ đó là lời than thở nhớ cháu gái của bà, anh cụp mắt khẽ cười, vừa định bưng chén trà lên uống thì nghe bà cụ lại tiếp một câu…


“Đó là chép cho cháu đấy.” Bà nội liếc nhìn anh một cái, cũng bưng trà lên uống, “Con bé đó nhìn thì hoạt bát thế thôi, chứ tâm tư còn sâu sắc hơn ai hết.”


Phó Tắc Dịch khựng lại hồi lâu, lại nghiêng mắt nhìn những cuốn kinh văn bên cạnh bàn.


Ánh nến hắt lên tựa sách viết bằng bột vàng, tạo nên một lớp ánh sáng lấp lánh như vàng ròng.


Anh không nói gì.


Bà nội cũng liếc nhìn kinh văn một cái, thở dài: “Sau này, người trong cái khu vườn này sớm muộn gì cũng lần lượt ra đi. Nếu con bé không trở về, cháu à, cháu sẽ thực sự chỉ còn lại một mình thôi.”



Coi như là nhìn Phó Tắc Dịch lớn lên.


Ông cụ không thích dùng người mới, rốt cuộc vẫn thấy người cũ đáng tin hơn.


Phó Tắc Dịch im lặng.


Ý tứ trong lời nói, anh hiểu.


Bà nội thấy vậy lại thở dài: “Thật sự, cháu không định nói chuyện với Tiểu Từ, bảo con bé tốt nghiệp xong về Tô Lăng à?”


Thực ra những lời bà nói đêm đó với Ngộ Từ cũng không phải không có ngụ ý, suy cho cùng, bà vẫn hy vọng cô có thể quay về.


Cứ coi như là để tiếp thêm sinh khí cho cái cơ ngơi rộng lớn này cũng tốt.


“Biết thế năm xưa, thà rằng…”


Lời chưa dứt đã bị lời đáp đầy ý cười nhàn nhạt của Phó Tắc Dịch ngắt lời…


“Bà chắc chắn sẽ sống lâu trăm tuổi, đâu phải là không bao giờ gặp lại Ngộ Từ nữa, sao hôm nay bà lại đa sầu đa cảm thế?”


Câu chuyện bị bỏ lửng, bà nội cuối cùng không nói tiếp nữa, khẽ liếc anh một cái: “Hai đứa cháu đúng là ăn ý, ăn nói giống hệt nhau.”


Hôm đó Ngộ Từ cũng nói bà sẽ sống lâu trăm tuổi.


Phó Tắc Dịch cong môi cười: “Bà nghỉ ngơi sớm đi, cháu về đây ạ.”


Nói xong, anh đứng dậy đi ra ngoài.


Dì Tần đi theo tiễn, thấy anh ra khỏi cổng Tây Viên mới quay lại.


Dì cười trêu: “Hôm nay bà lạ thật đấy, sao chưa nói hết câu đã để Tắc Dịch đi rồi?”


Bình thường thì chắc chắn sẽ mắng cho một trận, dám ngắt lời người lớn, phải đi quỳ từ đường!


Bà nội nghe vậy cười lắc đầu, cắm nhành hồng champagne vừa tỉa vào bình, đứng dậy đi đến bên bàn sách.


Kinh văn Ngộ Từ chép mấy hôm trước vẫn để đó.


Bà nội lật trang bìa, từ nhỏ con bé luyện lối sấu kim thể, nhưng lại luôn muốn học lối trâm hoa tiểu khải của bà, kết hợp hai phong cách lại với nhau, cuối cùng lại luyện ra được phong cách thư pháp của riêng mình.



Từng nét phẩy, nét mác đều tự do, đầy ý vị.


“Nó biết tôi định nói gì, chắc là không muốn nghe.”


Dì Tần bật cười: “Bà định nói gì? Mà có thể khiến một người tính tốt như Tắc Dịch cũng không muốn nghe?”


Bà nội cũng cười theo.


Nhìn dòng chữ ở cuối trang kinh: “Nhược tâm hữu trụ, tắc vi phi trụ.”


(Nhược tâm hữu trụ, tắc vi phi trụ: Nếu tâm còn có chỗ bám víu (trụ chấp), thì đó không phải là sự an trụ thật sự.Lý giải: Con người thường để tâm mình “dính” vào một thứ gì đó. Ví dụ: dính vào lời khen chê (nghe khen thì vui, chê thì buồn), dính vào tài sản, hay dính vào cái “Tôi”. Khi tâm đã dính (hữu trụ) vào đâu thì nó bị trói buộc tại đó, mất đi sự tự do, sáng suốt. Nó giống như dòng nước, nếu chảy thì trong mát, nhưng nếu “trụ” lại một chỗ thì thành nước tù, ao tù. Phật dạy rằng cái “Trụ” chân thật nhất (chân tâm) là Vô sở trụ (Không trụ vào đâu cả). Tâm phải linh hoạt, trôi chảy, ứng biến với vạn vật mà không bị dính mắc vào vật nào. Nếu bạn nghĩ rằng bạn đã tìm được một chỗ yên ổn để tâm bám vào (Hữu trụ), thì cái “yên ổn” đó là giả, là sai lầm (Phi trụ). Sự an nhiên thực sự chỉ có khi tâm không bám vào bất cứ điều gì.)


Bà đáp một câu: “Chuyện hôn sự của nó.”


Dì Tần cũng cười lắc đầu, đi về phía giường trải chăn nệm.


Bà nội lại đứng trước bàn một lúc rồi nhìn chiếc hộp gỗ tử đàn hình chữ nhật nhỏ đặt ở góc bàn.


Đó là hộp đựng bát tự (ngày giờ sinh) của con cháu đời sau nhà họ Phó.


Dòng chính này của họ hiện tại cũng chỉ có mỗi mình Phó Tắc Dịch, mấy năm trước khi Ngộ Từ dọn vào Dụ Viên, bát tự của con bé mới được đặt chung vào.


Sau đó, đúng dịp nhà họ Phó và nhà họ Ngộ chuẩn bị kết thông gia, bà nội bèn nhờ người mang bát tự của Phó Tắc Dịch và Ngộ Uyển lên chùa xin một ngày lành.


Lúc đó cũng mang theo cả bát tự của Ngộ Từ, chỉ là để cầu học hành thuận lợi cho con bé.


Vài ngày sau, ba tờ giấy ghi bát tự được gửi về, kèm theo một tờ giấy ghi ngày lành tháng tốt.


Vốn dĩ định chốt ngày thì người trong chùa đột nhiên đến, truyền lại vài câu của thiền sư.


Đại ý là, đã xin ngày lành thì đã tính ngày lành rồi, nhưng vẫn nhắc nhở một câu: nhà trai tuy đúng tuổi dựng vợ gả chồng, nhưng cô gái thì vẫn còn nhỏ quá, vẫn nên để thêm vài năm nữa thì hơn.


Bà nội lúc đó nghe mà lùng bùng lỗ tai.


Ngộ Uyển lúc đó tuy tuổi còn trẻ nhưng cũng chỉ nhỏ hơn Phó Tắc Dịch có hai tuổi.


Một người hai mươi sáu, một người hai mươi tư.


Nhỏ ở chỗ nào?



Thiền sư thấy bà đến cũng không ngạc nhiên, cùng bà ngồi uống trà ở gian sân nhỏ trong chùa.


“Cô gái thực sự còn hơi nhỏ, cũng không cần vội vàng lúc này.”


Bà nội nghi hoặc: “Ý của thiền sư là, con gái hai mươi tư tuổi đi lấy chồng là sớm ạ?”


Lúc đó thiền sư khựng lại một lúc rồi mới tiếp lời: “Hai mươi tư? Không phải năm nay mới tròn mười tám sao?”


Bà nội cũng ngẩn ra, rồi chợt hiểu.


Ngộ Từ mười tám tuổi, bà lập tức bật cười: “Nhầm rồi nhầm rồi, ngài nhầm rồi, đứa mười tám tuổi đó, là tôi cầu học hành cho con bé, người xem ngày lành là cô gái hai mươi tư tuổi cơ.”


Lúc đó thiền sư liền im lặng, rồi cũng bật cười, khẽ lắc đầu.


Cười xong, bà nội cũng không quên chuyện chính: “Vậy ngài xem lại giúp, hai đứa nhỏ khi nào thành hôn thì hợp ạ.”


Nói rồi, bà lại đưa bát tự của Phó Tắc Dịch và Ngộ Uyển qua.


Thiền sư nhìn hai tờ bát tự, lại liếc nhẹ tờ bát tự nằm trong hộp, cười nói: “Sau tiết Thanh Minh hai năm nữa đi, năm Nhâm Dần tháng Giáp Thìn ngày Nhâm Thìn.”


Bà nội xin được ngày lành, định chào ra về.


Thiền sư lại đột nhiên nói một câu: “Đợi thêm một thời gian bao giờ cũng tốt hơn.”


Bà nội không hiểu, định hỏi thì thiền sư lại nói: “Đến lúc đó, bà tự khắc sẽ hiểu.”


Hai năm trôi qua rồi.


Cuối cùng bà nội cũng đã hiểu.


Có lẽ lúc đó thiền sư đã nhìn ra hai đứa nhỏ có duyên mà không có phận.


Thực ra năm xưa, theo đúng truyền thống kết thông gia của hai nhà, vai vế bên nhà họ Ngộ đáng lẽ là Ngộ Từ, trăm năm trước tổ tiên cũng vì nhầm vai vế mà kết thông gia, dẫn đến bên nhà họ Ngộ phải lấy người nhỏ hơn một bậc.


Chỉ là lúc đó Ngộ Từ còn quá nhỏ, nhưng theo gia quy, nhà họ Phó quả thực đã đến năm “trăm năm một mối lương duyên” theo quy định của tổ tiên.


Trưởng bối hai nhà ngồi lại bàn bạc, cuối cùng vẫn quyết định chọn Ngộ Uyển.


Vai vế, tuổi tác đều phù hợp.


Chuyện này, bản thân Phó Tắc Dịch cũng biết.


Trao Em Một Đời An Yên
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Trao Em Một Đời An Yên Truyện Trao Em Một Đời An Yên Story Chương 18
10.0/10 từ 33 lượt.
loading...