Phù Dung Minh Nguyệt - Đông Chí Hội Lai
Chương 11: Đê đập rỗng ruột, thời buổi rối loạn
Mưa đã tạnh, ba ngày trôi qua, Bùi Việt ở trong chùa vẫn bình an vô sự, bèn xuống núi để xoay sở kinh phí trị thủy cho Thương quận.
Chàng muốn đến trang viên Phương thị để gặp Diệp Lẫm và Đoạn Hành Chi, còn định gọi Vạn Tòng Dung cùng Chu Chính đến bàn bạc xem làm thế nào vận động các phú hào rộng rãi mở hầu bao.
Sắp tới chân núi Mân, chợt nghe tiếng trẻ con lanh lảnh, một bài đồng dao theo gió lọt vào tai:
“Công vụ sông khẩn cấp, bờ nước thấy thây trôi.
Trong đê gió chẳng lọt, ruồi nhặng rúc xương thôi.
Mặt trắng tay nắm chặt, ôm tấm Vi Bình cũ.
Mười vạn hộ trong huyện, ai là con nhà ai.
Lòng đê nay rỗng ruột, phủ bùn thu làm gì…”
Sắc mặt mọi người đồng loạt biến đổi. Thập Nhất lướt lên trước, gọi một bé gái đang ngân nga bài thơ: “Tiểu cô nương, bài thơ này từ đâu ra? Trong thơ nói thây người, đê rỗng là thế nào? Muội nói cho ca ca nghe, ca ca sẽ cho muội mười đồng mua mứt ăn.”
Bé gái thấy Thập Nhất mặt mũi hòa nhã, lại nghe có thưởng, liền vui vẻ nói hết những gì mình biết: “Chẳng lẽ mấy người không biết à? Huyện Vi Bình đang xây một con đê gọi là Thanh Trạm Đê, xây cao lắm, lớn lắm. Nhưng ai cũng biết trong lòng đê là rỗng, bên trong còn có mấy nhà thương hộ đang dựng nhà nữa. Nghe nói họ tham ô mấy vật liệu sẵn có, lại thấy bờ đê cảnh sắc phong nhã, chắc sẽ hút khách. Dù có lũ thì chạy là được rồi, những người này chẳng ai sợ chết cả.”
“Còn thây người ấy mà…” – Giọng cô bé trong trẻo, lời nói như từng hạt đường bật ra. Nhưng nói đến đây, nàng nhíu mày: “Đêm thu lạnh, nhiều công nhân nghỉ lại trong lòng đê. Có một thanh niên hay ở một mình, nghỉ ngơi trong góc hẻo lánh, chẳng may phát bệnh mà chết. Cũng do các thương hộ bị mùi hôi xông đến chịu không được, thắp đèn đi tìm nguồn gốc mới phát hiện… Không biết ai làm bài thơ này, chỉ một đêm đã truyền khắp huyện Viễn Chung…”
“Thanh Trạm Đê đặt ở đâu? Huyện Vi Bình với huyện Viễn Chung chỉ ngăn cách bởi một con sông Lam, sao ở Mân Sơn Hương lại không thấy được đê ấy? l*n đ*nh Mân Sơn cũng chẳng nhìn ra? Thu lũ chưa qua, mấy hôm trước còn mưa dầm, sao đại đê vẫn đang xây? Không sợ vỡ đê à?” – Lư Cẩn Du chau mày, hỏi liên tiếp mấy câu.
Bé gái chẳng hiểu được mấy, chỉ nhớ hai câu cuối, bĩu môi: “Hoàng đế xây hành cung cũng vẫn xây suốt đó thôi?”
Lư Cẩn Du nghẹn lại: “Cái… cái đó sao giống được! Hành cung của Hoàng thượng không ở cạnh bờ sông…”
Thập Nhất đặt một miếng bạc vụn vào tay cô bé khiến nàng suýt thét lên: “Đây… đây là bạc! Thật cho ta sao?! Không phải chỉ mười đồng tiền ư?”
Lũ trẻ vây xem lập tức ùa đến bên Thập Nhất: “Lang quân! Lang quân! Cháu cũng biết nhiều chuyện! Hỏi cháu đi! Hỏi cháu đi!”
Bất chợt, một tia bạc lóe lên dưới mí mắt Úy Sở Lăng, nàng lập tức gạt con dao găm trượt đến cạnh chân Bùi Việt, một tay túm lấy đứa bé trai chừng năm sáu tuổi, đồng thời quát lớn: “Có thích khách! Thập Nhất, tản hết người trước mặt ra!”
Thập Nhất giật mình, dùng chưởng phong quét từng người ra xa.
“Thích khách” giãy giụa: “Thả ta ra! Thả ra!”
Úy Sở Lăng nhíu mày, xoay đứa bé kẹp dưới nách, khóa chặt hai tay nó, rồi dùng nhuyễn tiên trói lại.
Đứa nhỏ sợ quá, òa khóc. Tiếng khóc khiến bàn tay đang trói của nàng khựng lại, nhuyễn tiên buộc chặt cũng nới ra đôi chút.
Mạnh Hiểu phi ngựa lao tới, quát như sấm: “Kẻ nào dám phạm tội giết không tha!”- Nàng ghì cương, ngựa chồm mạnh, trong khoảnh khắc đội giáp Tú Tự Doanh của Thái tử như nước triều tách đôi, xông lên bao quanh Bùi Việt, trường mâu nện đất, tiếng hô rung trời: “Giết không tha! Giết không tha!”
Dân chúng dưới chân núi bị khí thế ấy dọa đến tán loạn, vội lùi ra, đứng từ xa mà nhìn, vẻ mặt đầy kinh nghi bất định.
Mấy đứa trẻ đọc thơ đều tái mét, hoang mang lo sợ. Bé gái nắm bạc, lòng bàn tay ướt đẫm, môi run run, từng giọt nước mắt dâng lên, lăn xuống má.
Chưa ai hỏi, nàng đã liều mạng hét lớn: “Nó tên Vương Xuân Cuốn, cùng thôn với chúng ta! Nó chắc chắn không cố ý! Nó nhát gan, yếu ớt, đến cả ta còn đánh không lại!”
Nghe lời bé gái, cậu bé bị trói khóc càng to, như heo bị chọc tiết. Úy Sở Lăng bất đắc dĩ, nhét vào miệng nó mấy viên kẹo mạch nha.
Bùi Việt thấy cảnh ấy, trong mắt không khỏi thoáng qua một tia ý cười.
Mạnh Hiểu xoay người xuống ngựa. Nghe xong lời bé gái, nàng chau mày, định tiến lên lại thấy Bùi Việt sớm hơn một bước.
Vạt áo màu thanh lam khẽ lay động, Mạnh Hiểu bỗng ngẩn người, ký ức lần đầu gặp Thái tử điện hạ chợt ùa về.
Năm ấy, trong cuộc săn bắn mùa thu ở trường săn Thiên Cẩm, nàng là nữ quyến của nhánh dòng bên Mạnh thị, tuổi trẻ nông nổi, cải trang làm nam lẫn vào trường săn tranh đoạt con mồi với các hoàng tử quý tộc. Kết quả bị kẻ tiểu nhân ghen ghét, vô ý bại lộ thân phận, nàng bị tước mũ giáp, áp giải tới trước mặt thiên tử.
Tội khi quân theo luật pháp lẽ ra phải chém; nếu coi như thích khách thì thậm chí chu di cả tộc.
Nàng đột nhiên nhận ra trò đùa của mình đã trở thành nhược điểm lớn nhất trong tay hoàng đế. Vận mệnh cả Mạnh gia đều chỉ trong ý niệm của hoàng đế.
Nàng không nhớ mình đã nói gì, chỉ nhớ chính mình không ngừng dập đầu xuống đất, cố sức biện giải.
Hoàng đế im lặng. Nỗi sợ hãi thấu xương bao phủ cả người nàng, máu và nước mắt hòa vào nhau, trong lòng chỉ còn mờ mịt cùng hối hận.
Khi ấy, một bóng áo thanh lam bỗng quỳ trước mặt nàng, thân hình thẳng tắp, lễ nghi không sai nửa phần. Giọng chàng thanh nhã, như gió tùng phất qua trường săn: “Thời buổi loạn lạc, Hoàng tổ dựng nghiệp nơi lưng ngựa, lập nền móng Yến Xích; phụ hoàng thừa kế hoàng mệnh, thân chinh Bắc thổ, thu phục sáu châu, thống nhất tứ hải, lại khiến tướng sĩ và con cháu thế gia thường xuyên luyện võ không ngừng để có lợi cho xã tắc. Yến Xích lấy cưỡi ngựa bắn cung lập quốc, con cháu triều ta đều tai nghe mắt thấy, noi theo làm anh hùng trên lưng ngựa. Nữ tử khuê các từ nhỏ đã nghe giai thoại của phụ hoàng và Đức Huệ hoàng hậu cùng nhau cưỡi ngựa, song tiễn xuyên dương; càng mến mộ phong hoa của Đức Huệ hoàng hậu, tâm ý tương thông với đế quân. Nữ tử này tuy l* m*ng, tất nhiên có tội, nhưng nhi thần cả gan khẩn cầu phụ hoàng, niệm tình nàng cùng xuất thân Mạnh thị như mẫu hậu, lại tinh thông cưỡi ngựa bắn cung, vượt xa nam nhi; đủ để chứng minh nam nữ triều ta đều kiêu dũng thiện chiến, là tấm gương cho nữ tử trong thiên hạ. Xin phụ hoàng khoan dung xử nhẹ. Nhi thần khấu tạ thánh ân!” – Dứt lời, chàng quỳ lạy thật sâu.
Đây là Thái tử điện hạ đang vì nàng cầu xin. Mỗi một lời nói đều khắc sâu trong lòng nàng.
Con cháu Mạnh thị, Từ thị trong trường săn cũng đồng loạt quỳ xuống: “Xin Thánh thượng khai ân!”
Hoàng đế không để ý ai khác, chỉ nói với Hoàng thái tử: “Bùi Việt, ngẩng đầu lên. Con muốn đưa nữ tử Mạnh thị này vào phủ sao?”
Thái tử thẳng lưng đáp: “Thưa phụ hoàng, không phải.”
Không hiểu vì sao vừa nghe xong lời này, hoàng đế lập tức nổi giận. Ngài bước xuống ngự tọa, một cước đá thẳng vào ngực Thái tử, đá chàng ngã nhào trên đất.
“Không…” – Toàn thân nàng run lên, bất giác lao về phía trước, nước mắt ròng ròng.
Đôi ủng của hoàng đế dừng trước mặt nàng một thoáng, lời lẽ uy nghi lạnh lẽo như sấm dội trên đỉnh đầu: “Mạnh thị nữ, từ nay ngươi vào Đông cung hầu hạ Thái tử. Là thiếp, là nô tỳ hay là binh tốt đều do Thái tử quyết định.”
Nàng liếc nhìn bóng áo thanh lam đang lần nữa quỳ thẳng người, rồi úp chặt trán xuống đất, khóc không ngừng: “Tạ Thánh thượng long ân!”
Chớp mắt, mấy năm trôi qua. Từ một tiểu tốt trong đội giáp Tú Tự Doanh của Đông cung, nàng đã làm đến chức giáo úy. Thái tử điện hạ so với năm đó càng thêm trầm tĩnh ung dung.
Chỉ thấy Bùi Việt khom người ngồi xuống trước bé gái, xoa nhẹ đỉnh đầu nàng, ôn hòa nói: “Đừng khóc nữa. Ta sẽ không làm gì Vương Xuân Cuốn, cũng không hại các cháu. Cha mẹ các cháu đâu? Trong làng mấy ngày nay có người lạ xuất hiện không?”
Bé gái nghe chàng dỗ dành, môi run lên, từng giọt nước mắt lớn rào rạt rơi xuống. Nàng chỉ về phía sau vòng vây, nơi nhóm dân bị quân cận vệ ngăn lại: “Thân nhân của bọn cháu ở bên đó.”
Rồi nàng ngước nhìn Bùi Việt, hai tay xoắn lấy nhau, nhỏ giọng: “Trong làng có người lạ… Đại nhân cẩn thận… xin hãy cứu chúng cháu.”
Lời vừa dứt, liền nghe quân sĩ đang khám người dân chúng hô lớn: “Đại nhân! Trên người bọn họ đều mang binh khí!”
Đột nhiên, lũ trẻ đồng loạt quỳ sụp xuống: “Đại nhân! Trên người bọn cháu cũng có đoạn nhận! Bọn cháu cũng bất đắc dĩ, xin đại nhân cứu chúng cháu!”
Mạnh Hiểu mặt lạnh như nước, cúi người mở áo bé gái ra, quả thấy bên hông nàng cũng buộc một mảnh đoạn nhận rỉ sét.
Bùi Việt nhìn vào mắt bé gái đẫm lệ: “Ta cần làm gì?”
“Đại nhân, ta là cha nó, để ta nói.” Trong đám dân bị trói chặt tay sau lưng, một hán tử trung niên khàn giọng nói lớn: “Ba ngày trước, có một kẻ áo đen bịt mặt, võ công rất cao đến làng chúng ta. Hắn cho mấy nhà chúng ta uống thuốc độc, còn bỏ lại một túi đoạn nhận loang lổ rỉ sét. Hôm nay chúng ta làm mọi chuyện đều theo lời hắn dặn. Hắn nói, chỉ cần cầu được đại nhân đáp ứng một việc, bảy ngày sau sẽ giao thuốc giải, còn hứa từ đây về sau không làm khó chúng ta nữa.”
Bùi Việt vừa chăm chú lắng nghe, vừa nhận lấy đoạn nhận Mạnh Hiểu trình lên để quan sát.
Là đao. Lưỡi cực mỏng, bị từng mảng rỉ sét sẫm màu che lấp hàn quang. Nhìn bề ngoài rất giống bội đao tùy thân của Kinh Kỳ Vệ.
Hán tử nhìn khuôn mặt tuấn nhã của Bùi Việt, không khỏi nín thở: “Xin đại nhân tối Trung Thu đến địa chỉ cũ của Mặc thị, nhặt một mảnh ngói vỡ.”
Bùi Việt lập tức ngẩng mắt, trong đáy mắt gợn sóng kích động.
Gia tộc Mặc thị bị phụ hoàng ra lệnh tru di cửu tộc vào mười năm trước. Trên đoạn nhận này dường như vẫn còn vương máu tươi của người Mặc phủ.
Chàng gần như tưởng tượng được cảnh năm đó chỉ huy sứ mang thánh chỉ, Kinh Kỳ Vệ phá cửa xông vào, nô tỳ, hộ vệ, gia phó trong phủ đồng loạt lao lên ngăn cản…
Bùi Việt khẽ vuốt qua lưỡi đao, trong lòng lạnh buốt: “Ta đồng ý.”
“Đại nhân… tên bịt mặt còn nói…” – Hán tử nuốt nước bọt, giọng nhỏ như muỗi, đôi mắt dần ươn ướt: “Lần này… chúng ta phải khiến đại nhân… bị thương chảy máu mới được…”
Lời ấy như sợi dây mảnh kéo căng thần kinh của tất cả mọi người có mặt.
Mạnh Hiểu lập tức chửi ầm lên: “Hoang đường đến cực điểm!”
Ngay khi ấy, Thái tử điện hạ dùng chính đoạn lưỡi rỉ sét ấy rạch một đường vào lòng bàn tay. Máu tươi lập tức loang ra, từng giọt rơi xuống…
Phù Dung Minh Nguyệt - Đông Chí Hội Lai
