Mượn Trăng Lưu Giữ Ánh Sáng
Chương 25
Sự hiểu biết của Trần Túng về thế giới và về bản thân cũng được hoàn thiện qua việc Tử Dạ dẫn dắt cô vào thế giới đọc sách.
Các cô gái mới vào cấp hai, nếu gu thẩm mỹ hơi “lệch pha” một chút, thì đều mê mẩn mấy tiểu thuyết ngôn tình ba xu đang thịnh hành. Trần Túng cũng không ngoại lệ, tiền tiêu vặt ngoài mua đồ ăn vặt ra thì đều đổ vào để mua ngôn tình. Nào là nam thần bá đạo yêu tôi, nào là tình yêu hận thù qua mấy kiếp từ thiên đình xuống nhân gian với Ma tôn, nào là cứu rỗi, giam cầm, ngược luyến, hội chứng Stockholm… Trần Túng mười ba tuổi bơi lội ngụp lặn trong biển tình yêu, giá sách chất đầy những cuốn truyện ngôn tình năm màu bảy sắc. Giáo viên phê phán những cuốn tiểu thuyết vô bổ này là “túi tẩy não phụ nữ” do tư bản Hàn Quốc phát hành; còn dì Khâu thì bảo mấy truyện đầy rẫy tình ái ảo tưởng này cũng như truyện của Quỳnh Dao, chẳng khác gì xuất bản xuân dược hàng loạt. Lời của giáo viên là chân lý, dì Khâu lại là người cực kỳ có gu, Trần Túng đương nhiên coi lời của họ là chân lý, mỗi khi lén đọc tiểu thuyết, cô luôn bị hai loại cảm xúc vui sướng và xấu hổ cùng lúc giằng xé. Khi mấy bạn nữ trong lớp háo hức trao đổi truyện ngôn tình, Trần Túng lại rút một cuốn Vây Thành từ trong ngăn bàn ra, vẻ mặt khinh bỉ, nhưng tai lại vểnh lên, vui vẻ lắng nghe, trong lòng nghĩ, “Mình có thể đưa ra những bình luận sách sâu sắc hơn các cậu.” Những nữ sinh khác thường gọi cô là giả thanh cao, mà Trần Túng cũng thấy đúng thật. Đôi khi, ngay cả cô cũng cảm thấy mình đúng là một kẻ trầm lặng mà dâm ngầm.
Một ngày thứ Bảy sau khi đi học nhảy về, Trần Túng thấy Tử Dạ ngồi dưới mái hiên đọc một cuốn sách có bìa sặc sỡ. Cô nhìn kỹ, chính là cuốn “Nam thần lạnh lùng xuống chốn trần gian” nào đó. Bên cạnh anh đã chồng một chồng sách cao, đều là những cuốn tiểu thuyết dung tục mà anh đã đọc xong trong buổi chiều. Trần Túng cảm thấy cảnh tượng này kỳ lạ vô cùng, không khỏi bước tới:
– Sao anh lại đọc loại sách này thế?
Tử Dạ nghe thấy, liếc nhìn bìa sách, hỏi:
– Loại sách nào?
Giống như vị chủ nhiệm Ngô đã tịch thu vô số tập san thiếu nữ và phê bình “Loại rác rưởi thức ăn nhanh vô bổ này mà cũng xem à.” Trần Túng cũng học theo.
Tử Dạ chẳng hề để tâm, chỉ thản nhiên nói:
– Sao lại không được? Những cuốn sách này thỉnh thoảng cũng có đôi ba câu rất đắt giá. Chỉ cần nó có thể thành sách, thì luôn có điểm đáng để học hỏi. Bảo chủ nhiệm Ngô đi viết, chưa chắc ông ấy đã viết được.
Nghe câu nói này, Trần Túng sững sờ không sao tả siết.
Người anh từ nhỏ đã thuộc lòng kinh sử tử tập, đọc hết các tác phẩm văn học kinh điển, có gu thẩm mỹ độc đáo, viết văn lưu loát, lại không hề coi thường bất kỳ cuốn tiểu thuyết tầm thường nào. Anh nói rằng mỗi tác phẩm đều có những nét riêng và giá trị riêng. Tử Diệp hóa ra lại là một Tử Diệp vô cùng bao dung đến lạ thường. Cũng chính khoảnh khắc đó, Trần Túng đột nhiên nhận ra sự tầm thường của mình. Bốn chữ “nhã tục cùng thưởng” cũng lần đầu tiên xuất hiện trong trải nghiệm sống nông cạn của cô.
Sự nhận thức của Tử Dạ về bản chất con người cũng sâu sắc một cách lạ thường. Dù không tận mắt chứng kiến chủ nhiệm Ngô phê bình các bạn nữ khối dưới, nhưng anh có thể qua ngữ cảnh mà đoán được một nhân vật như thế nào mới có thể nói ra những lời đó.
Vây Thànhlà Trần Túng đọc cùng với Tử Dạ. Hai người cả ngày chụm đầu vào nhau, đọc cùng một cuốn sách ở đủ mọi nơi như bàn học, dưới gốc cây, bàn ăn, dưới mái hiên. Tốc độ đọc của Tử Dạ rất nhanh, thỉnh thoảng dừng lại ở một hai câu; Trần Túng đọc truyện rất chậm, Tử Dạ cũng không hề hối thúc. Trong khoảng thời gian im lặng chờ cô lật trang, Tử Dạ bắt đầu quan sát những người đủ mọi thành phần đi ngang qua anh.
– Chú Kim và chú Vương khi ở cùng nhau có giống Phương Hồng Tiệm và Triệu Tân Mi không? – Anh hỏi Trần Túng.
Hai người học cùng một trường đại học, lăn lộn trong tình trường, thông thạo chút lễ nghi đối nhân xử thế, dần dần mỗi người có sở trường riêng. Gặp phải những người phụ nữ xinh đẹp khó đối phó, mỗi người có một suy đoán và hiểu ngầm riêng. Ban đêm trên bàn mạt chược thường nói những chuyện tiếu lâm tục tĩu, khiến các cô gái trẻ đến chơi bài ở sân nhỏ cười nghiêng ngả.
Câu ví von của Tử Dạ quá mức sinh động, khiến Trần Túng bật cười khúc khích không ngừng.
Cười hồi lâu, cô nói:
– Thầy Trương dạy toán và cô Văn dạy tiếng Anh cũng giống.
Tử Dạ thấy cô vẫn đang suy nghĩ, liền im lặng chờ cô phát biểu.
Trần Túng lại nói:
– Chủ nhiệm Ngô giống Lý Mai Đình.
Đều là những nhân vật hề vừa hài hước vừa sống động. Tử Dạ gật đầu:
– Cũng có một chút.
Trần Túng cẩn thận nói:
– Dì Khâu đôi khi giống Tô Văn Hoàn, đôi khi lại giống bà Uông.
Tử Dạ cười:
– Trẻ con nói bậy, không ai trách em đâu, chỉ là đừng để dì ấy nghe thấy.
Thế là Trần Túng lại càng dũng cảm hơn, như đang chọn diễn viên cho vở kịch của mình, lần đầu tiên bộc lộ tài năng đạo diễn:
– Bố em đôi khi lại rất giống Phương Hồng Tiệm, lúc này dì Khâu chính là Đường Hiểu Phù.
Đọc xongVây Thành, hai người lại bắt đầu đọc Trương Ái Linh.
Bắt đầu đọc một số tác phẩm giai đoạn đầu, đến khi xemHoa hồng đỏ và và hoa hồng trắng, Trần Túng đã có thể tự nhiên nói ra:
– Hình như đây là sự tương tác giữa hai góc nhìn của tác giả nam và nữ. Trương Ái Linh chính là Vương Kiều Thụy của chính mình, là Tô Văn Hoàn trong Phương Hồng Tiệm. Phương Hồng Tiệm và Chấn Bảo quá giống nhau, trong tiểu thuyết của phụ nữ thì không có chút đáng yêu nào, trong tiểu thuyết của đàn ông thì lại đôi khi hóm hỉnh. Người vợ kia, vừa là Tôn Nhu Gia, lại vừa là Mạnh Yên Lịch.
Ngày đó Tử Dạ cười rất lâu. Trần Túng gán ghép lung tung, khiến Trương Ái Linh và Tiền Chung Thư “tư thông ngầm”, chắc chắn sẽ làm cho người vợ của người sau, người rất ghét người trước tức đến phát điên. Trần Túng khi đó không biết những chuyện bên lề này, chỉ nghĩ rằng mình kể chuyện cười hay, có thể làm Tử Dạ vui vẻ, cũng là một thành tựu.
Đọc xong một lượt, Trần Túng vẫn chưa thỏa mãn, liền nhét cuốnVây Thànhvào trường, tranh thủ từng giây từng phút đọc lại trong giờ ra chơi. Cô giáo dạy ngữ văn vô tình bắt gặp, rất ngạc nhiên hỏi:
– Em còn nhỏ thế này, chưa tới lúc, sao có thể hiểu nổi quyển sách đấy?
Trần Túng đã được Tử Dạ chỉ bảo từ sớm, nhưng cũng không hoàn toàn rập khuôn theo lời người khác, đã có nhận thức riêng để bày tỏ:
– Bất cứ nơi đâu, chỉ cần có một vòng tròn tri thức độc thân ở tuổi trưởng thành, thì ở đó sẽ luôn có vây thành.
Vừa nói xong câu đó, loa phát thanh đúng lúc thông báo: “Mời giáo viên trẻ dưới ba mươi lăm tuổi tập trung tại phòng họp, chuẩn bị, đến phòng chương trình để diễn tập.”
Cô giáo ngữ văn không rời khỏi lớp. Cả lớp đều cười nhạo cô, cho rằng cô đã quá ba mươi lăm tuổi.
Chỉ có Trần Túng tiếp lời:
– Cô xem, ngôi trường này, có phải cũng giống như một tòa vây thành không ạ.
Cô thấy biểu cảm trên khuôn mặt cô giáo khi nhìn mình là sự kinh ngạc, là không thể tin được. Trần Túng hiểu rằng sự cảm nhận này của mình e rằng đã vượt trên người lớn có tu dưỡng văn học trưởng thành trước mặt. Cũng chính lúc đó, cô gián tiếp mà hiểu ra, Tử Dạ là một thiên tài trong lĩnh vực này.
Tốt nghiệp cấp hai, cuốn tiểu thuyết mà Tử Dạ vẫn luôn viết đã có hình hài. Anh cũng không kiêng kỵ Trần Túng, để mặc cô ngồi trên thảm trong phòng mình mà đọc.
Bối cảnh thời đại của cuốn tiểu thuyết là sau sự kiện Tĩnh Khang, Bắc Tống diệt vong, lãnh thổ của người Hán bị nước Kim xâm chiếm. Nhân vật chính Chu Phục là người Hán, bố anh lại phục vụ triều đình nước Kim, là một tên tay sai đúng nghĩa. Trong một thân phận bị chia rẽ như vậy, Chu Phục đã từng vùng vẫy, sau sự vùng vẫy là một sự phản kháng dứt khoát. Nhưng kẻ thù của anh không phải là bất kỳ kẻ xấu xa nào thực sự gây ra tội ác, mà là hoàng quyền tối cao, là phụ quyền không cho phép bị thách thức, vì vậy mặc dù kế hoạch chu toàn, tính toán không sót một ly, sự phản kháng của Chu Phục vẫn tất yếu thất bại. Trước khi tội tru di cửu tộc giáng xuống, người cha vì muốn sống tạm bợ mà đã chọn cách hoạn đi đứa con ruột duy nhất, đưa đến dưới mắt của đế vương, mặc cho số phận tự sinh tự diệt. Từ khoảnh khắc này, kẻ thù của Chu Phục chính là ý trời không thể trái. Anh biến thành một đồ vật tiêu khiển, một trò cười, một nam sủng, một “người phụ nữ” ở dưới đáy của kim tự tháp quyền lực, bị sỉ nhục vô hạn bởi quyền lực nam giới, bao gồm cả em trai ruột. Con trai phải chịu đựng sự sỉ nhục cả về thể xác lẫn tinh thần, người mẹ dựa dẫm vào hoàng quyền, lại chọn cách khoanh tay đứng nhìn.
Ban đầu Trần Túng không hiểu bối cảnh lịch sử, mấy trang đầu đọc xong mà đầu óc quay cuồng. Mỗi tối ăn cơm xong, Tử Dạ liền đưa cô ra phòng khách, mở đĩa phim “Mãn Giang Hồng” đã thuê về, ngồi xem cùng nhau trước màn hình TV. Trần Túng xem từng tập một, đến khi xem hết rồi quay lại đọc sách của Tử Dạ, thường hay bị những đoạn nhân vật chính gặp bi kịch quá mức mà không thể đọc tiếp nổi.
– Chu Phục thảm quá, hình như tất cả những hình phạt khổ sở nhất trên đời đều đã trải qua hết rồi. – Trần Túng rất dễ dàng rơi lệ vì Chu Phục, không hiểu tại sao Tử Dạ lại có thể nhẫn tâm với một nhân vật đáng yêu như vậy, – Em chỉ cầu mong cuối cùng anh ấy sẽ có một kết cục tốt đẹp.
Tử Dạ nghe thấy rất ngạc nhiên. Anh im lặng nhìn cô một lúc, lại hỏi rất dịu dàng:
– Em hy vọng anh ấy có một kết cục tốt đẹp?
Trần Túng vô cùng nghiêm túc gật đầu. Lại vô cùng thành khẩn nói:
– Em hy vọng tất cả những người đã hại anh ấy trong sách đều chết hết.
Đó là lời nguyền rủa độc địa nhất mà cô từng nói từ nhỏ đến lớn.
Cuối cùng, Trần Túng lại hỏi anh:
-Tỳ Xá Xà Quỷ là có ý nghĩa gì vậy anh?
– Là một loại quỷ.
– Tên sách là quỷ, nhưng nội dung lại không có chút liên quan nào đến bốn chữ này hết á anh. – Trần Túng vẫn không hiểu.
– Bởi vì trên đời này đâu đâu cũng có những con quỷ khoác lốt người, và đôi khi chúng ở ngay bên cạnh chúng ta. – Tử Dạ kiên nhẫn, giải thích một cách dễ hiểu.
Trần Túng vô cớ bị ý tưởng này dọa đến nổi da gà khắp người, trong trạng thái nửa hiểu nửa không, cô đành đưa ra một cách lý giải đơn giản nhất.
Trong cả cuốn sách, đoạn khiến Trần Túng sợ nhất nhưng cũng thích nhất chính là đoạn Chu Phục vào cung bị lăng nhục. Phân đoạn ấy trôi chảy đến kỳ lạ, đầy dẫy sự gợi cảm, tàn nhẫn và tự nhiên đến mức khiến người ta rùng mình. Trong quá trình đọc, Trần Túng gần như có thể hình dung ra cảnh Tử Dạ cắm cúi trên bàn suốt ngày đêm, cảm hứng tuôn chảy như dòng nước nhập hồn vào từng con chữ. Cô không biết người anh mười lăm tuổi đã nhận thức từ đâu lại có thể viết nên một đoạn tàn nhẫn đến thế, lại có chiều sâu như vậy, lúc đó cô chỉ biết lo lắng thay cho anh:
– Lộ liễu như vậy, nhà xuất bản có từ chối không anh?
– Đồi trụy như vậy…, có bị dì Khâu mắng không anh?
– Không sao đâu, – Tử Dạ nói như vậy, – Chỉ cần họ có thể hiểu anh đang viết gì, thì không mắng được một chữ đâu.
Điều anh muốn viết, chính là viết về huyết thống không có tình yêu, dư âm oán hận của phụ quyền, số phận vô tình, sự chèn ép không thể phản kháng — tất cả những gì có thể thực sự làm tổn thương một người, tổng hòa của tất cả những gì một người phải chịu đựng suốt đời, chính là Tỳ Xá Xà Quỷ.
Đây là tự truyện của thiên tài mười bốn tuổi Tử Dạ.
Số phận của Chu Phục trong Tỳ Xá Xà Quỷ không thể xoay chuyển, nhưng Trần Túng lại có thể vung bút làm phán quan ở nơi khác, viết lại vận mệnh cho anh ấy.
Lần đầu tiên Trần Túng thử viết lách, lại là để viết đồng nhân văn cho Tỳ Xá Xà Quỷ. Cô đọc nhiều tiểu thuyết ngôn tình hồng hường nhất, nên khi đặt bút xuống, đương nhiên cũng là góc nhìn nữ tính vô cùng lãng mạn. Cô viết về một tỳ nữ âm thầm yêu thiếu gia trong nhà trước khi Chu Phục vào cung, vì muốn cứu Chu Phục mà quyết tâm cứu cả “lý tưởng quốc” của Chu Phục. Tỳ nữ nhập ngũ, từng bước trở thành nữ tướng quân. Nữ tướng quân dẫn đại quân đánh thành, giết vào cung điện nước Kim, treo tất cả thủ cấp kẻ thù lên tường thành, rồi cho Chu Phục đứng trên tường mà nhìn.
– Xem này, đây là những kẻ thù mà thần đã giết cho ngài, đây là giang sơn mà thần đã đánh cho ngài.
Thật đau lòng mà cũng thật thỏa mãn.
Để câu chuyện trở nên hợp lý hơn, Trần Túng đã thêm vào cho nữ chính một động lực tình cảm — người tỳ nữ nhỏ bé yếu ớt không mấy nổi bật kia, đã yêu thiếu gia từ rất sớm, yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Trong quá trình tăng độ đậm đặc của yếu tố tình cảm để khiến động cơ của nữ chính trở nên thuyết phục hơn, Trần Túng cũng đã tự thuyết phục chính mình. Cô dần dần nhận ra, nhân vật Chu Phục do Tử Dạ phác họa bằng chữ viết, mặc dù bị khiếm khuyết về thể chất, nhưng lại gợi cảm một cách kỳ lạ. Cô thông qua đôi mắt của nữ chính mà đã yêu Chu Phục.
Có tình yêu rồi, thì sẽ có t*nh d*c, mà đây lại là một trang hoàn toàn trắng trong hành trình đời sống của Trần Túng, nên cô chỉ có thể hoàn thành nó bằng cách bắt chước kinh nghiệm của người khác. Thế là Trần Túng bắt đầu bắt chước những cảnh t*nh d*c trong tác phẩm của Tử Dạ, nhưng thường vì thiếu kiến thức lý thuyết mà sai sót đầy rẫy.
Thế là Tử Dạ lại trở thành giáo viên sinh học của Trần Túng.
– Con trai không có bộ phận này… thì không thể hoàn thành động tác này, – anh giải thích, – Con gái cũng không có. Cả hai đều không có.
Trần Túng đỏ mặt, cảm thấy xấu hổ vì những lỗi sai của mình. Cô khiêm tốn hỏi:
– Vậy thì phải làm thế nào ạ?
– Anh cũng không biết, – Tử Dạ vốn luôn bình tĩnh, trong quá trình suy nghĩ, cũng đỏ mặt, giọng nói cũng nhẹ đi một chút, – Có lẽ dùng cách khác thay thế, tay, hoặc… miệng chẳng hạn?
Dưới ngọn đèn bàn nhỏ mờ ảo, hai người ngồi sát cạnh nhau trên sàn. Tử Dạ không dám nhìn cô.
Trần Túng cũng vô cớ không dám nhìn anh.
Lần đầu tiên vì miêu tả t*nh d*c mà cảm thấy xấu hổ trước mặt Tử Dạ, Trần Túng như bị lộ tẩy một điều gì đó vốn nên được giấu kín. Như để phá vỡ sự ngượng ngùng, cô khẽ nói:
– Viết mấy thứ thế này, lại còn viết dở, cảm thấy mình thật tầm thường, thật đáng ghét.
Giọng nói trong trẻo của Tử Dạ như làn gió bên suối:
– Không có gì đâu. Có người lấy cảm hứng từ đau khổ, có người lấy cảm hứng từ h*m m**n yêu đương, có người nhờ thuốc lá, cà phê. Chỉ cần không vi phạm pháp luật, thì không có gì đáng xấu hổ cả. Thậm chí có người không ngần ngại vi phạm pháp luật, cũng chỉ để tìm kiếm cảm hứng. Cầu viện đến m* t**, cầu viện đến…
Tử Dạ không nói tiếp.
Trần Túng hỏi lại một lần nữa, anh cũng không nói thêm.
Bản thảo Tỳ Xá Xà Quỷ của Tử Dạ, thông qua chú Kim và chú Vương, những người “rất giống Phương Hồng Tiệm và Triệu Tân Mi”, được gửi đến nhà xuất bản. Sau một hồi đấu giá, với mức bản quyền cao nhất là ba vạn tệ cho năm ngàn cuốn in lần đầu của Nhà xuất bản Nhân dân Kim Thành, cuốn sách đã được xuất bản lần đầu. Số tiền đó, phần lớn Tử Dạ đưa cho bố để trang trải chi phí sinh hoạt và học phí, số còn lại, Tử Dạ cất vào quỹ đen, để dành khi Trần Túng thèm ăn thì mua đồ ăn vặt cho cô.
Bố cô đã thêm vào gấp đôi số tiền đó, không biết tìm đâu ra hai giáo viên quốc họa người Đài Loan đến Kim Thành sinh sống trong kỳ nghỉ hè năm đó, để họ dạy Tử Dạ học thư họa. Vì theo lời dì Khâu, nguồn giáo viên hiện có ở Kim Thành không thể dạy được những học sinh như Tử Dạ.
Cứ thế, kỳ nghỉ hè năm đó, mỗi cuối tuần, Trần Túng đều đi cùng anh trai và bố đến thành phố. Tử Dạ học thư họa, Trần Túng học múa cổ điển Trung Quốc. Lớp múa thường tan sớm hơn lớp học của thầy cô người Đài Loan, vì tiện lợi, Trần Túng hay mặc nguyên bộ đồ múa kỳ quặc, đến nhà thầy ngồi chờ Tử Dạ. Lúc đó, hai người họ đã thường xuyên bị nói là rất giống nhau.
Trần Túng khi đó đã có thể nói ra đôi ba lý lẽ:
– Em bắt chước anh ấy, anh ấy cũng thường xuyên bắt chước em, lâu rồi không quay lại được, đương nhiên sẽ hơi giống nhau.
Lớn hơn một chút, nhiều bạn học cấp ba đã nhận xét về hai anh em họ. Có người nói sâu sắc, chỉ ra rằng Trần Túng khi tiếp xúc lâu, tính cách thật ra không lạnh lùng như vẻ bề ngoài, còn Trần Tử Dạ thì ngược lại, vẻ ngoài của anh thân thiện hơn con người thật của anh.
Trần Túng cũng có những cảm nhận sâu sắc hơn: bởi vì cách cô cố gắng thể hiện mình thâm sâu khó lường, là học người lớn nói chuyện, sử dụng những từ ngữ hiếm mà ngay cả bản thân cô cũng không hiểu rõ. Còn cách Trần Tử Dạ cố gắng gần gũi bình dị hơn, là đơn giản hóa bản thân mình.
Người ngoài không biết điều này, chỉ cảm thấy họ ngoan một cách nhất quán, ngoan một cách dịu dàng và dễ mến.
Hai người vợ của hai thầy giáo người Đài Loan sẽ lần lượt mang bánh ngọt và trà sữa tự làm ra mời Trần Túng ăn khi xem TV. Con của thầy giáo người Đài Loan luôn muốn ra phá đám, chuyển phim nghệ thuật sang Ultraman. Lúc này, Trần Túng chỉ có thể đi xem Tử Dạ luyện chữ. Khi Tử Dạ vẽ, cả thầy dạy luyện chữ và thầy dạy vẽ đều khen ngợi, “Học nhanh quá, có thể giúp bố em tiết kiệm được kha khá tiền.” Khi Tử Dạ luyện chữ, cả sáu người trong gia đình thầy cô đều vây quanh xem, “Chữ đẹp thật, cả một bản chép gần như không có chữ nào lỗi. Lần sau có thể viết thử Nhan Cần Lễ Bi.” Ai cũng khen ngợi. Thấy Trần Túng đến xem, họ cũng cười tủm tỉm hỏi:
– Đẹp không cháu?
Trần Túng không trả lời. Bởi vì chữ của cô rất xấu, người chữ xấu, xưa nay không xứng làm ban giám khảo, sợ làm ô nhục nét chữ đẹp của anh trai.
Cô giáo ở trường khinh bỉ ném lại vở bài tập của Trần Túng:
– Chữ như bùa chú, mỗi lần chấm bài của em là thị lực thầy/cô tăng thêm một trăm độ, hè này về nhà nhớ luyện chữ cho tử tế vào.
Nên bắt đầu luyện từ đâu đây?
Trần Túng có một hình mẫu tuyệt vời bên cạnh. Thế là cô hớn hở, bắt đầu bắt chước chữ viết của anh trai.
Trên bìa vở bài tập có ba chữ to “Trần Tử Dạ”, thế là Trần Túng bắt đầu viết từ chữ “Trần”, dần dần luyện đến mức thuần thục điêu luyện, đến độ chữ “Trần” cô viết ra không khác mấy với của Trần Tử Dạ, khó phân biệt thật giả. Lúc đó Trần Túng cũng mệt rồi. Thừa nhận rằng mình chẳng có năng khiếu gì trong chuyện luyện chữ cũng không phải điều gì quá khó khăn. Hơn nữa, sau này thi cử điểm kém, Trần Túng đã có thể vung tay viết một chữ “Trần”, để biểu thị đã được phụ huynh xem qua.
Lần họp phụ huynh tiếp theo, bố cô về hỏi:
– Ai ký tên cho con? Cái bài thi này bố còn chưa thấy bao giờ, trên đó chỉ viết một chữ Trần. Con định khởi nghĩa, làm bố của bố rồi hả?
Trần Túng đã học được cách đổ lỗi, hét lên để trốn tránh cái thước sắp giáng xuống, hò hét tên viện binh:
– Là Trần Tử Dạ ạ!
Dù sao Tử Dạ ngoan như vậy, bố tuyệt đối không nỡ mắng anh. Chiêu này phần lớn thời gian đều hiệu quả.
Đại khái là vì những lý do này, Trần Túng nhìn Tử Dạ càng lúc càng thuận mắt. Anh đứng bên bàn học viết bài tập luyện chữ mà thầy cô người Đài Loan giao, Trần Túng buồn chán liền nằm ấp sấp trước cửa sổ xem anh viết chữ. Từ một ngày nào đó, cô bỗng nhiên cảm nhận được cảm giác của Bạch Tiểu Đình, phát hiện anh chính là hiện thân của sự cổ điển, là tiên giáng trần đích thực. Chữ của anh dần dần cũng không còn đẹp bằng chính anh, gu thẩm mỹ của Trần Túng đã ra đời trong khoảnh khắc đó, từ đó bắt đầu nhìn anh một cách trắng trợn thông qua việc xem anh luyện chữ, gần gác lầu trước được trăng mà nhìn anh. Tử Dạ đôi khi bị cô nhìn đến không được tự nhiên, mất tập trung hỏi:
– Nhìn anh đẹp hả?
Anh không hề biết mình đẹp, điều đó vô cớ lại càng làm anh đẹp hơn. Trần Túng cũng thẳng thắn, gật đầu, công khai tuyên bố:
– Anh đẹp lắm.
Không để ý nét chữ trên bản chép của Tử Dạ càng lúc càng xấu, chóp tai cũng vô thức ửng đỏ.
Ban đầu Trần Túng sẽ chia sẻ những cảm nhận của mình về Tử Dạ cho Bạch Tiểu Đình:
– Tớ biết tại sao cậu nói anh ấy đẹp trai rồi.
– Cậu nhìn xem anh ấy tuy trắng, nhưng không yếu ớt, không giống vẻ trắng thiếu sức khỏe, trắng thận hư của mấy tên như Phương Phàm.
– Anh ấy nói chuyện rõ ràng, logic rành mạch, cả người rất đĩnh đạc.
– Thần thái đĩnh đạc, ánh mắt cũng đĩnh đạc. Có một vẻ không mấy quan tâm, tự tin một cách ung dung.
– Thanh thản ung dung.
Trần Túng tổng kết như vậy.
Sau này Trần Túng còn phát hiện ra một từ cao cấp hơn để miêu tả anh, câu nói này đồng thời bao hàm cả ưu điểm về ngoại hình và sự giàu có về nội tâm của anh.
– Người anh trai như ngọc quý, nhưng những gì anh viết lại vô cùng phong lưu.
Câu nói hay như vậy, Trần Túng tốn không ít công sức để nghĩ ra, lập tức viết vào cuốn sổ nhật ký của mình, quyết định dùng để miêu tả nam chính trong cuốn sách tiếp theo của cô. Vì yêu thích Chu Phục, nam chính trong tiểu thuyết gốc của cô vẫn tên là Chu Phược. Ban đầu Chu Phược này vẫn có bóng dáng của Chu Phục, dần dần dần dần, Chu Phược này đã không còn là Chu Phục kia nữa, một ngày nọ, ở những chi tiết phác họa bằng bút, đã có bóng dáng của Tử Dạ.
Từ đó, Trần Túng luôn sẵn lòng chia sẻ mọi thứ với Bạch Tiểu Đình bỗng nhiên không muốn chia sẻ câu nói hiếm có này với cô bạn ấy nữa.
Trần Túng đã có tính chiếm hữu độc quyền đối với Tử Dạ, ngay cả bản thân cô cũng không nhận ra, ngay cả bản thân cô cũng không biết tại sao.
Về mặt học vấn, bố cô gần như buông lỏng việc giáo dục Trần Túng. Dù sao cũng truyền thống một chút, cho rằng nuôi con gái, chỉ cần nó vui là được, cùng lắm sau này ăn bám bố mẹ, ông tin rằng mình vẫn có thể nuôi nổi cô.
Còn dì Khâu lại có một cách nhìn hơi khác. Dù chưa từng nuôi con gái, nhưng bà ấy cũng đã thấy Trần Hộ Quân làm mẹ đơn thân nuôi Đới Anh. Người Hồng Kông nuôi con gái lại bảo thủ một cách bất ngờ. Họ cho rằng điều quan trọng nhất đối với con gái là giáo dưỡng đoan trang, sau đó là phải ra dáng một người con gái. Những lời nói của những người giàu có ở Hồng Kông đối với dì Khâu chính là chân lý, vì vậy bà ấy không thể chấp nhận sự buông lỏng thô sơ của Trần Tự Cường. Khi không thể chịu nổi, bà cũng sẽ không nhịn được mà thay ông dạy dỗ Trần Túng.
Dì Khâu tuy luôn dịu dàng nhỏ nhẹ, nhưng lời nói lại thường có sự gay gắt và thâm sâu. Trong hai năm đầu khi Trần Túng vẫn còn non nớt, không ít lần bị đâm trúng chỗ đau khiến cô nước mắt chảy ròng. Khả năng ăn nói không bằng bà ta, cũng chẳng nói được điều gì sâu sắc để phản bác, Trần Túng tức giận đến nỗi tuyên bố mình “muốn nhảy sông”. Cô lập tức khóc lóc rời bàn, quay về phòng bắt đầu viết “di thư”, để đối chọi với dì Khâu “độc ác”.
Di thư này cô viết cũng rất kỳ lạ, trong đó không có công bố việc phân chia “tài sản”, mà là viết từng mong muốn cuối cùng của mình, liệt kê một hai ba, trang cuối cùng của di thư có câu, “Làm xong những điều này rồi mới chết.”
Trước đây thường là, “muốn có một búp bê Duffy”; xa xỉ hơn một chút, “muốn đến Disneyland Hồng Kông”, đó là những sự thỏa mãn về vật chất.
Sau này một ngày nọ, Trần Túng sau khi khóc xong bình tĩnh lại, lại kỳ lạ phát hiện trong di thư có viết một câu, “Trước khi chết phải hôn Tử Dạ”. Cô run rẩy khóa cuốn nhật ký vào ngăn kéo, vật này trở thành bí mật đầu tiên mà cô giữ kín với Tử Dạ.
Ban đầu Trần Túng hận dì Khâu đến muốn chết, cảm thấy dùng từ “độc ác” để miêu tả bà cũng không quá đáng. Sau này cô lại tha thứ cho dì Khâu, bởi vì bà là một người ngay cả trong mùa hè nóng bức bất thường ở Kim Thành cũng mặc áo dài tay, không bao giờ để lộ một tấc da thịt nào ngoài tay và mặt, một người bảo thủ lạ thường. Bởi vì bà cổ hủ, nên bà cũng muốn dùng xiềng xích của mình để giam cầm cô, chứ không phải muốn hại cô.
Sau này lên đại học, Trần Túng học được một vài chi tiết về bảo vệ hôn nhân cho phụ nữ, đột nhiên nhận ra, đó không phải vì dì Khâu bảo thủ, mà là vì những người phụ nữ bị tổn thương trong hôn nhân, thường mượn cách này để che giấu chứng cứ nhằm duy trì phẩm giá của mình; cũng vì thế, Trần Túng hiểu ra, dì Khâu sau khi đưa Tử Dạ về Kim Thành không còn muốn quay lại Hồng Kông, không phải là sự đổ vỡ hôn nhân bình thường, mà là đang trốn tránh thảm họa. Bố vì để bảo vệ dì Khâu và phẩm giá của bà, đã chọn cách giữ kín bí mật với tất cả mọi người.
Và dì Khâu, người chưa từng học hết đại học, thường thốt ra những lời cay nghiệt lạ thường, cũng không phải bà thực sự độc ác. Mà là vì bà luôn sùng bái Trần Kim Sinh, cũng giống như Trần Túng lúc nhỏ bắt chước Tử Dạ vậy. Chính vì thường xuyên bắt chước cách nói chuyện của Trần Kim Sinh mà đã học được những lời độc ác hiếm hoi, vô tình làm tổn thương cả tuổi thơ của Trần Túng.
Câu nói mà Tử Dạ luôn không nói hết cũng bắt đầu được giải mã vào lúc đó. Có người lấy cảm hứng từ đau khổ, có người lấy cảm hứng từ h*m m**n yêu đương, có người nhờ vào thuốc lá, cà phê, có người cầu viện đến m* t**. Và nguồn cảm hứng của một số người, là bạo lực. Cả bạo lực tinh thần lẫn bạo lực trong hiện thực.
Mượn Trăng Lưu Giữ Ánh Sáng
