Long Hương Bát - Tú Miêu
Chương 81: Phần 4: Son Phấn Điểm Phai (81)
Mặt trời tàn nhuộm đỏ bờ sông như máu, bóng tối buông xuống rất nhanh, nặng nề bao trùm khắp nơi.
Quan binh ở Giao Châu vẫn không dám chợp mắt. Ban ngày hò hét chém giết, đó là để chấn động thanh thế, nâng cao sĩ khí; điều thật sự phải đề phòng là địch nhân lợi dụng ban đêm tập kích. Người tộc Toản sinh ra và lớn lên ở đây giống như hạt cỏ dưới chân, bình thường chẳng mấy ai để ý, nhưng chỉ cần một cơn gió nổi lên là chúng sẽ lăn tràn khắp núi đồi, nuốt chửng cả thành trì.
Binh sĩ kéo lê bước chân mỏi mệt, đưa cung tên, đá tảng và giỏ chông tre lên tường thành, chuẩn bị cho tình huống quân Toản vượt sông, áp sát chân thành giao chiến.
“Bọn man này quả thật xảo quyệt.” Thành thủ Giao Châu cau mày, “Hai ngày hai đêm rồi, chỉ quấy nhiễu bên bờ sông, nửa bước cũng không chịu áp sát thành. Quân Hán ta phải phòng thủ toàn tuyến, mệt đến kiệt sức. Thế này thì quân mai phục cũng chẳng dám động, mà bên ta lại bị bào mòn trước.”
“Quân địch vừa gửi lời.” Một người thở hồng hộc chạy vào, không giấu được sự phấn khích: “Chúng nói chỉ cần triều đình đồng ý giao lại hai châu Dung, Tùy và hơn trăm pháo đài ở Phía Nam, Tây Xuyên cho Ô Toản, thì chúng sẽ rút quân, từ nay lấy sông Lô Thủy làm ranh giới giữa Hán và Toản, vĩnh viễn không xâm phạm!”
Thành thủ Việt Tây nghe xong mặt như đưa đám, còn những người khác lại như trút được gánh nặng, ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía Hoàng Phủ Cật. Vì lời dặn của Tiết Hầu và vì họ Hoàng Phủ, mọi người gần như vô thức xem chàng trai trẻ này là người đứng đầu.
Thành thủ Giao Châu không nhịn được lên tiếng: “Hai châu đó vốn đã thất thủ, huống hồ xung quanh cũng toàn là nơi người Man cư trú…”
Nếu có thể khiến người Man rút quân dễ dàng, ai lại muốn liều mạng chọc giận Thục vương, rồi chính mình phải ra trận chịu mưa tên đá? Dung châu và Tùy Châu mất đi, lỗi ấy cũng chẳng quy được cho Giao Châu.
Thành thủ Việt Tây không ngồi yên nữa: “Hai châu Dung-Tùy, và Lô Nam vốn như chân với tay. Bọn Nam Man này tham lam vô độ, các vị thật sự nghĩ chúng sẽ giữ lời ư? Hôm qua mất hai châu, ngày mai e rằng các châu ở Lô Nam cũng khó mà giữ nổi!”
Hoàng Phủ Cật hỏi: “Hoàng Phủ tướng công đã biết chuyện này chưa?”
“Ngài ấy đã gửi khẩn báo về kinh đô rồi. Cùng lắm nửa tháng nữa, triều đình tất sẽ có quyết định là đánh hay hòa.”
Mọi người vốn đã căng thẳng suốt nhiều ngày, nghe vậy dù chưa dám tin hẳn nhưng cũng thả lỏng đôi phần. Xa xa, tiếng hò hét vẫn không ngừng, những mũi tên mang ánh lửa leo lét bay vụt qua bờ sông.
Hoàng Phủ Cật cúi đầu trầm ngâm một lát, rồi đi xuống chân thành, gọi một trinh sát đến, ghé sát tai dặn: “Tìm hai người bơi giỏi, vượt sông sang dò xét doanh trại địch.”
Đến lúc bình minh, hai trinh sát toàn thân ướt đẫm quay về. Trong phòng chỉ có Hoàng Phủ Cật ngồi ngay ngắn,hắn nâng bấc đèn cho sáng hơn, không cần hỏi cũng đã xác nhận điều mình dự đoán từ trước: “Doanh trại trống phải không?”
Người lính gác khẽ kinh ngạc: “Trong doanh trại chẳng có bao nhiêu người, chỉ chất đầy rơm mục, còn có mấy chiếc bè da cừu rách nát.”
Nếu ở Dung châu và Tùy châu có binh tinh nhuệ của La Cư Tử đóng giữ, sao có thể không đến tiếp viện? A Phổ Đỗ Mục đang giở trò, đại quân của Ô Toản không hề ở Lô Nam. Nhớ lại năm xưa ở núi Bích Kê, chàng thiếu niên ấy vẫn còn thuần hậu ngây thơ… Trên mặt Hoàng Phủ Cật thoáng vẻ đùa cợt, nhưng hắn không vạch trần, chỉ nói: “Chớ để lộ ra ngoài.”
Đợi trinh sát rời đi, hắn ngả mình xuống giường, khép đôi mí nặng trĩu.
Mơ mơ màng màng ngủ được mấy canh giờ thì bị lính gác lay tỉnh: “Khi tuần tra ngoài thành, ở cửa ải Đằng Tử đã trông thấy mấy sợi dây thừng.”
Hoàng Phủ Cật bóp trán, ngồi bên giường, hơi ngẩn ra: “Đi xem.”
Chưa kịp rửa mặt, hắn đã xỏ giày, bước nhanh ra ngoài.
Đến trạm Đằng Tử, nơi này men lên thượng nguồn sông Lô, cách thành không xa, vách đá dựng đứng như dao gọt, giữa đó và vách đối diện căng mấy sợi dây bện từ da trâu, gió thổi khẽ rung lắc.
Dưới chân, sóng dữ vỗ bờ, tiếng nước sông trầm như rồng ngâm. Rơi xuống những ghềnh đá hiểm trở kia thì tức khắc tan xương nát thịt, hoặc bị cuốn phăng vào dòng xoáy.
Người tuần tra hoa mắt, vội lùi lại.
Hoàng Phủ Cật nói: “Có binh Toản lẻn vào thành rồi. Cử người hộ tống Thục vương và Hoàng Phủ tướng công rút về Lô Châu.
“Điện hạ Thục vương…” Ai tinh mắt cũng thấy, sau lưng Hoàng Phủ Cật có Ngạc Quốc Công chống lưng, đã đắc tội Thục vương không nhẹ.
“Bảo với hắn, có người đến tìm báo thù.” Hoàng Phủ Cật mặt không đổi, cúi mắt thu đao vào vỏ.
“Rõ.” Binh sĩ nghi hoặc đáp, rồi thò người nhìn xuống vách: “Có cần chặt mấy sợi dây này không?”
“Không cần.” Dám liều mạng leo vách đá thế này, cho dù là Ô Toản, cũng chẳng có mấy người. Hoàng Phủ Cật đưa mắt đảo quanh, thong thả: “Đừng đánh rắn động cỏ.” Xong hắn hất văng dây leo dại, men theo con đường núi hẹp như ruột dê trở về thành.
Từ khi Ô Toản đề nghị chia đôi sông Lô mà cai trị, thế công chậm hẳn, tiếng trống trận và tiếng chém giết ven bờ cũng lác đác, kéo dài mấy ngày nay. Tiết Hầu đã bỏ trốn, tấu chương của Lý Linh Quân xin điều binh hẳn đã đặt trên ngự án.
Hoàng Phủ Cật bước thong thả trên bãi cạn. Hai bờ đã qua mùa hoa dương liễu, núi đỏ khe xanh. Hắn lại đưa mắt nhìn về ải Đằng Tử, thì thấy lính thủ thành hớt hải chạy ra báo: “Quân địch vòng sang sau núi, tấn công vào cửa Nam rồi!”
Cửa Nam dựa lưng vào núi, quân canh ít nhất. Quân địch ập đến bất ngờ, làm quan binh canh cửa đang ngủ gật giật mình kinh hoảng. “Không nhiều quân, chỉ giao chiến ngay cổng. Khi nơi khác ứng viện đến, bọn man tử rút đi. Ta chết chừng mười mấy người, còn vài người bị chặt tai.”
Chặt tai, đó là thủ đoạn của hạng hung đồ từng liều mạng với người Thổ Phiên. Hoàng Phủ Cật tinh thần chấn động: “Phục binh ở ải Đằng Tử đâu?”
“Đang giao chiến dưới chân núi rồi.”
Hoàng Phủ Cật phi ngựa dẫn đầu tới chân ải, thì trận đánh vừa dứt. Quân Hán phục kích thắng lớn, bắt sống hơn trăm binh Ô Toản. Hắn bước qua đá vụn và tên gãy, tới trước đám tù binh, bắt gặp một gã tr*n tr**, má xăm mực chàm hình móng vuốt chim ưng méo mó, tai có vết sứt cũ, lưng chi chít vết roi mới đóng vảy.
A Cá Đạt Nhã, đại quỷ chủ được Thần Ưng chọn, là người của nhà Thi Lãng, tên nô lệ Thổ Phiên ưa chặt tai người.
Hoàng Phủ Cật dí mũi đao vào tai sứt của hắn: “Ngươi là người nhà Thi Lãng?”
Đạt Nhã biết nói tiếng Hán, Gà Đa nghe hiểu, nhưng y chỉ hung hăng nhìn trừng Hoàng Phủ Cật: “Thục vương… ở đâu?”
Hoàng Phủ Cật dứt khoát vung tay, chém đứt nửa tai sứt kia, rồi hất đầu bảo lính: “Giải đi.”
Hơn trăm tù binh bị xô xuống bờ sông Lô, ánh hoàng hôn rọi lên lưỡi đao chói đỏ. Nước sông róc rách, Hoàng Phủ Cật đứng chân trong nước, nhìn sang bờ đối diện.
A Phổ Đỗ Mục hiện thân, cưỡi ngựa, sau lưng là đồng bọn. Hắn như bụi cỏ cứng cáp trong núi, mỗi phen mưa máu gió tanh lại vươn cao thêm, rễ càng sâu lá càng rậm. Bóng hắn kéo dài trên đất, nhìn thấy đám Gà Đa, hắn lạnh lùng lắc đầu.
Một trận mưa tên thị uy bay qua. Ý tứ rõ ràng, hắn chẳng đoái hoài tính mạng đám người này. Ô Toản không thiếu gì tù binh, gồm cả người Hán, người Thổ Phiên và người Mi Thần. Chiến sự ở Dung và Tùy Châu càng khiến kho trại người Man Di chất đầy trâu ngựa cùng nô lệ.
Cách một bờ sông chẳng nghe rõ lời, Hoàng Phủ Cật cũng không nói nhiều. Chỉ cần để người Toản tận mắt nhìn thấy là đủ. Bắt chước trò A Phổ Đỗ Mục từng làm ở Duyệt Tô hắn ra lệnh lính trói tù binh, đẩy xuống dòng nước xiết.
Gà Đa cứng cổ, không chịu cầu xin. Y lảo đảo, còn trừng mắt với lính đẩy mình: “Thục vương… ở đâu?”
“Khoan.” Hoàng Phủ Cật liếc y, đổi ý: “Từ trạm Đằng Tử lội qua, ngươi bơi giỏi lắm.” Rồi lệnh lính kéo hắn lên, lùa như lùa gia súc lên ải.
Chỉ còn một sợi dây da trâu nối sang vách núi bên kia, trời quang, nắng chiều quét sạch màn hơi nước. Hoàng Phủ Cật từ trên cao nhìn xuống, thấy A Phổ Đỗ Mục cũng cưỡi ngựa theo khe núi mà tới.
Hắn ra lệnh cởi trói Gà Đa: “Ngươi đến để báo thù cho Đạt Nhã? Tiếc là muộn rồi, Thục vương đã đi Lô Châu.” Hoàng Phủ Cật giả vờ tiếc nuối, giọng trong trẻo: “Ta còn cho ngươi cơ hội trở về đường cũ. Nếu dây đứt, rơi xuống vỡ xác, hay chết chìm dưới dòng sông Lô, người Ô Toản sẽ nhớ ngươi chết vì nhà Thi Lãng.”
Quân Hán bên cạnh hiểu ý, cười khẩy, cố tình rút đao cắt thử dây trước mặt Gà Đa.
Trên mặt A Phổ Đỗ Mục, đôi mày rậm khẽ nhíu.
Hoàng Phủ Cật cúi mắt, liếc hắn .Ngươi thật lòng tàn nhẫn như mình tưởng sao?
Gà Đa như bị dòng xiết bên dưới làm hoảng, ngẩn người không dám động. Một tù binh khác nhịn không nổi, đoạt trước hắn nắm dây. Hoàng Phủ Cật rõ ràng thấy sắc mặt A Phổ Đỗ Mục biến đổi, hắn hất cương, lao một bước về bờ, khe núi vang tiếng gào xé ruột: “A Xá!”
Hoàng Phủ Cật quay phắt đầu, chưa kịp nhìn rõ mặt quân Ô Toản, đã bị sức mạnh dữ dội ập đến, trúng kế rồi, y bị Gà Đa ôm chặt ngang hông, lăn xuống vách núi.
Hai người va đập liên tiếp vào đá, rơi xuống dòng nước xiết, rồi mất hút.
Mộc Ngáp và mọi người không dám thở mạnh, chợt bùng nổ một tiếng hoan hô. A Phổ Đốc Mục nói: “Đuổi!”
Ngựa cũng chẳng kịp dắt, tất cả cắm đầu lao đi. Đám La Cư Tử đuổi hơn mười dặm, trông thấy mặt sông rộng mở, dòng nước dần chậm lại, trời thì tối đen. Bọn họ dùng cành tùng buộc thành đuốc, lấy dao cào bới trong bãi cạn và bụi rậm.
Mộc Ngáp chạy kịp lên, mặt lộ vẻ ủ rũ: “Chỉ tìm được Gà Đa, chết cứng ngắc rồi.”
Lúc Hoàng Phủ Cật vừa rơi xuống nước, A Phổ Đỗ Mục còn có chút đắc ý, giờ thì đã bình tĩnh lại. Hắn trầm mặc một lát rồi nói: “Đưa hắn về bảo trại nhà Thi Lãng.”
Ánh mắt hắn vẫn không cam lòng, tiếp tục đảo quanh: “Đã tìm thấy Gà Đa, thì Hoàng Phủ Cật chắc chắn không ở xa.”
“Cái này phải không?”. Mộc Ngáp nhặt lên một cái vỏ bao kiếm kẹt trong khe đá, đã nứt toác. Qua làn nước sông đỏ lòm, có một bóng đen nằm sát bờ, im lìm không động tĩnh.
A Phổ Đỗ Mục nhận ra ngay thanh đao ấy. Hắn nhanh nhẹn nhảy qua tảng đá giữa khe, lội sang bờ đối diện. Mộc Ngáp giữ hắn lại: “Từ vách đá rơi xuống, lại ngã xuống sông, chắc chắn không sống nổi.”
Đuổi xa quá, quân Toản không theo kịp, Mộc Ngáp không yên tâm: “Biết đâu lát nữa bọn Hán sẽ mò tới.”
“Dù có chết cứng cũng phải bồi thêm một nhát”. A Phổ Đốc Mục trầm giọng. “Nghe tiếng vó ngựa chưa?”
Hắn bơi qua dòng nước tĩnh lặng, tới bờ bên kia, từng bước tiến lại gần bóng đen. Dùng cán đao khều khều, dễ dàng lật ngửa người lại.
Dưới ánh trăng, lộ ra gương mặt tái nhợt của Hoàng Phủ Cật, kèm theo hơi thở yếu ớt. Giáp trụ đã vỡ tung, hắn cũng như người Toản, lấy da bò Tây Tạng dày quấn bụng và eo. Nếu không có lớp da ấy, Hoàng Phủ Cật hẳn đã giống Gà Đa, gãy nát hết xương cốt.
“Xảo quyệt, ta cứ tưởng ngươi không sợ chết…” A Phổ Đốc Mục tự lẩm bẩm, hơi thất vọng. Hắn thô bạo giật lớp da bò ra, thử lưỡi đao vào ngực đối phương, rồi đặt ngang cổ.
Người hấp hối bỗng mở mắt, tay trần chộp lấy lưỡi đao.
“Giả chết à?”. A Phổ Đốc Mục hừ lạnh, tay ấn xuống thêm chút sức. Lúc rơi xuống vách, lòng bàn tay Hoàng Phủ Cật đã bị gai mây cứa đến rách toạc, máu thịt nham nhở. Cánh tay Y run lên, đôi mắt đen thẳm nhing chằm chằm vào A Phổ Đốc Mục.
“Đừng giết ta.” Giọng Y khàn đặc, ngắt quãng .Thục Vương sắp điều binh, từ Thần Xuyên và Nam Thiết Kiều kéo xuống, đánh Ô Toản. Tiết Hầu đã phản.”
Giọng y rất thấp: “Sớm muộn gì, thành Giao Châu là của ngươi, cả mạng của Thục Vương cũng là của ngươi.”
Ánh mắt A Phổ Đỗ Mục trở nên quái lạ. Hắn không rút đao, cũng chẳng ấn sâu hơn: ” Người Hán các ngươi đều dễ bội tín như vậy sao?”
Hoàng Phủ Cật khẽ nhếch môi: “Nếu đổi lại là ngươi, đến lúc cận kề cái chết cũng sẽ cầu xin thôi.”
A Phổ Đỗ Mục định chối, cúi đầu nghĩ một lát rồi thẳng thắn thừa nhận:
” Ta không thể chết. Ta chết rồi, trên bãi chỉ còn A Xá, chẳng còn người thân, bằng hữu hay tình lang…”
Ánh mắt Hoàng Phủ Cật khẽ dao động. A Phổ Đỗ Mục cười nhạt: “Nhưng ngươi quả là người có bản lĩnh, giấu rất sâu. Giữ ngươi sống, ta càng lo hơn…”
Chưa dứt lời, thanh đao trong tay hắn bị một cú đá hất bay, vẽ một đường cong mềm mại trong ánh trăng rồi rơi vào tay Hoàng Phủ Cật. Cú đá ấy đã dồn hết sức. Hoàng Phủ Cật giành được đao, lảo đảo đứng lên, dựa lưng vào vách núi, từ từ lùi lại.
Xa xa có ánh đuốc lay động, Y liếc một cái, mắt chợt sáng, ngạo nghễ nhướn mày với A Phổ: “Đao của ngươi rơi vào tay ta rồi. Ngươi còn sợ gì? Sợ ta cướp bò ngựa, cướp đàn bà của ngươi?”
Hoàng Phủ Cật phá lên cười: “Ta cũng chẳng định chết đâu, A Phổ Đỗ Mục, lại đây!”
“A Phổ!” Mộc Ngáp gắng sức lội nước sang, huýt một tiếng còi sắc Người Hán tìm tới rồi!
A Phổ Đỗ Mục tay không, đứng dưới ánh trăng thêm chốc lát với vẻ hối tiếc: “Được lắm, bất kể họ Lý hay họ Hoàng Phủ, người Hán các ngươi đều cùng một giuộc. Giết sạch mới yên” Hắn buông câu nguy hiểm rồi quay lưng bỏ đi.
“Thanh đao này thật không tệ”. Hoàng Phủ Cật cố ý cất giọng mỉa mai.
A Phổ Đỗ Mục không đáp. Mộc Ngáp lội theo, bước sâu bước cạn: “A Phổ, gã này vẫn còn nhớ tới A Xá đấy.”
A Phổ Đỗ Mục “ừ” một tiếng, dừng lại, ngoái đầu nhìn sang bờ đối diện.
Ánh đuốc lay động ngày càng gần. Hoàng Phủ Cật thở phào, duỗi tay chân, ngã nặng xuống bãi, thanh đao của A Phổ Đỗ Mục bị hắn đè dưới lưng, cứng ngắc cấn vào. Hắn không nhúc nhích.
Trong tiếng chân dồn dập và ánh lửa hỗn loạn, có một giọng nhỏ ghé sát tai hắn:” Hoàng thượng đã chuẩn y tấu của Thục Vương, sẽ điều một vạn quân Kiếm Xuyên nam tiến, đánh Long Vĩ quan.”
” Chủ tướng là ai?”
“Thục Vương đích thân dẫn quân.”
Không ngoài dự đoán. Hoàng Phủ Cật khó nhọc rút thanh đao từ dưới lưng ra, ngắm kỹ dưới ánh lửa. Khóe môi hắn hiện một nụ cười vừa khoái trá vừa tà khí: “Tốt lắm… “. Hắn bắt chước giọng A Phổ Đỗ Mục vừa nãy, lười biếng nói. “Chúc điện hạ xuất sư đại thắng.”
Ngân Thương, Bạc Nhĩ, đất Hán mất… núi non mỹ lệ, mỹ nhân kiều diễm… Hoàng Phủ Cật khép mắt lại.
Long Hương Bát - Tú Miêu
Đánh giá:
Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu
Story
Chương 81: Phần 4: Son Phấn Điểm Phai (81)
10.0/10 từ 25 lượt.
