Long Hương Bát - Tú Miêu

Chương 23: Phần 3 : Bảo Điện Phi Hương (23)


A Phổ Đỗ Mục chen giữa đám thị vệ cấm quân, theo chân hoàng đế xuất phát từ phía nam cửa Minh Đức chừng hai dặm, tiến đến Viên Khâu tế trời.


Mỗi năm vào tiết Đông chí và thời điểm bắt đầu tiết Phục đều cử hành hai đại lễ tế trời, quy mô long trọng phi thường. Ngoài bá quan văn võ trong triều, các sứ thần chư bang cũng do Hồng Lô Khanh dẫn dắt, đứng ngoài đàn quan lễ.


A Phổ Đỗ Mục liếc mắt liền trông thấy Mãng Tán.


Từ sau khi Xích Đô vướng vào vụ án chùa Sùng Tế, lại bại trận trong lần tỉ thí võ nghệ với Hoàng Phủ Cật, Mãng Tán liền trở nên biết điều hơn hẳn. Hắn đứng nơi đám đông, nhàm chán tột độ, khi ánh mắt chạm phải A Phổ Đỗ Mục, liền nhướng mày với y, như chất vấn, sự ân sủng và thiên vị đặc biệt mà hoàng đế dành cho A Phổ Đỗ Mục, khiến người Thổ Phiên cảm thấy bị đe dọa.


A Phổ Đỗ Mục chẳng buồn bận tâm, đưa mắt nhìn sang chỗ khác. Trên trời không một gợn gió, nhạc lễ trang nghiêm trỗi lên, át cả tiếng ve sầu râm ran, khiến y cũng không còn lo hoàng đế bất chợt hỏi đến, mà thả hồn mặc sức suy nghĩ.


Trước mắt lại hiện lên khung cảnh hồ sen ấy, những đóa liên hoa hồng tím đẫm sương, chiếc khăn choàng xanh đậm như rong nước, vấn lấy cánh tay trắng như ngọc…


Chiếc long bào màu vàng nghệ khẽ động, là hoàng đế đã rời ngự liễn. A Phổ Đỗ Mục vội vàng thu lại tâm thần, các thị vệ xung quanh mình thì áo đỏ đai da, đao gươm nghi lễ va chạm khẽ khàng, tất cả cưỡi ngựa xếp hàng nghiêm chỉnh, theo đội hình oai nghiêm tiến vào cửa Minh Đức.


Theo trục chính đường Chu Tước, đoàn xe ngự giá tiến vào nội thành. Khi đi ngang qua phường Vụ Bổn, hoàng đế gõ nhẹ tay lên thành xe, truyền lệnh dừng lại, nghiêng tai lắng nghe tiếng nhạc tế đang vọng đến, hứng thú hỏi: “Quốc Tử Giám cũng đang cử hành lễ Thích Điến sao?”


Nội thị đáp: “Dạ đúng.” Hoàng đế lại quay sang hỏi A Phổ Đỗ Mục: “Ngươi học ở Quốc Tử Giám hai năm, từng tham gia lễ Thích Điến chưa?”


Lễ Thích Điến là nghi thức mà nho sinh người Hán tế bái Khổng Tử, còn mời cả những đạo sĩ và sa môn có danh vọng tới cùng tranh biện nghĩa lý kinh sách. A Phổ Đỗ Mục chỉ cảm thấy chẳng khác nào ngàn vạn con ruồi bay loạn, khiến tai người ong ong không ngớt. Y thành thật lắc đầu:
“Thần khi ấy chữ Hán còn chưa sõi, nghe chẳng hiểu gì, chỉ đứng xa xa nhìn thoáng qua mấy lần.”


“Đến Quốc Tử Giám xem thử đi.” Hoàng đế lên tiếng, xe ngự liền rẽ sang phía đông, tiến vào cổng lớn của Quốc Tử Giám.


Hơn trăm danh sĩ, nho sinh, đạo nhân và tăng lữ lập tức quỳ rạp xuống đất, đồng thanh hô vang “Vạn tuế”. Kể từ sau vụ án chùa Sùng Tế, sắc mặt hoàng đế luôn u ám, lúc này mới có chút tươi sáng. Thấy người của Kinh Triệu phủ và Nội giáo phường ra vào tấp nập, đang chuẩn bị tiệc rượu và nhạc múa, hoàng đế liền xoay người, bước lên thềm, nói: “Kiếm một chỗ yên tĩnh, ngồi nghỉ một chút.”


Hoàng đế vốn kính Phật, mà bên cạnh Văn Miếu cũng có một ngôi tiểu Phật đường. Ánh dương chói gắt bị cánh cửa gỗ chắn lại, vừa bước vào trong, nét cười trên mặt hoàng đế lập tức u tối. Ông nhận nén hương từ tay nhà sư, ánh mắt chăm chú nhìn tượng Phật sau rèm lụa, thần sắc trầm mặc, miệng khẽ lẩm bẩm: “Phật tổ từ bi, xin tha thứ cho tội nghiệt của trẫm.”



Nói rồi, ông cắm hương vào lư đồng, thành kính cúi lạy thật sâu.


So với dáng vẻ nghiêm cẩn hiện tại, thì vẻ bề ngoài khi cử hành tế lễ tại Viên Khâu trước đó, lại lộ ra chút chiếu lệ.


Sau khi dâng hương xong, hoàng đế ngồi nghỉ trong điện một lúc, ánh mắt lướt qua những người theo hầu, chợt hỏi: “Mãng Tán đâu?”


“Thần tham kiến bệ hạ.” Mãng Tán được nội thị dẫn vào, quỳ gối hành lễ, thần sắc thoáng hoang mang khi đứng dậy.


“Gần đây trẫm có nghe Hoàng Phủ Cật kể một ít phong tục của Thổ Phiên.” Hoàng đế chậm rãi lên tiếng, ngữ khí ôn hòa khiến Mãng Tán bất giác cảnh giác, nín thở lắng nghe.


“Giáo lý Hắc giáo, tuy khác biệt với Nho – Thích – Đạo của người Hán, nhưng suy xét kỹ cũng có phần đạo lý.”


Mãng Tán nghi hoặc đáp một tiếng “vâng”, thấy hoàng đế không có ý trách tội, lại tiếp lời:


“Đất nước thờ Bổn giáo, quân thần hiền đức, bách tính yên vui, tình nghĩa sâu đậm, thọ mạng dài lâu, hành thiện đắc phúc, được thần linh che chở.”


“Ngươi từng nghe chuyện Long Thụ đại sư và Đức Cát Tang Bố chứ?” Hoàng đế hỏi một cách đột ngột.


Câu chuyện này Mãng Tán đã thuộc nằm lòng, hắn đáp: “Từng có pháp sư dùng huyễn thuật làm điều ác, khiến bách tính khổ sở lầm lạc. Đức Cát Tang Bố hóa thân thành chuỗi tràng hạt nơi ngón tay Long Thụ đại sư, trừ yêu vệ đạo, cứu giúp dân chúng.”


Nhưng hoàng đế lại chẳng mấy hứng thú với phần ấy, ông lập tức hỏi tiếp: “Vậy Long Thụ đại sư dạy Đức Cát Tang Bố chuộc tội sát sinh thế nào? Dù thuật sĩ có ác, rốt cuộc cũng là một sinh linh.”


Mãng Tán đáp: “Trên cao nguyên Tuyết vực, có một thi thể linh thiêng gọi là ‘Thành tựu giả Như Ý Bảo thi’. Nếu có thể vác được thi thể ấy về, Đức Cát Tang Bố sẽ kéo dài thọ mệnh, tiêu trừ sát nghiệp. Nhưng trên đường phải tụng mật chú thì Như Ý Bảo thi mới nghe theo hiệu lệnh.”


“Mật chú đó là gì?”


Mãng Tán lắc đầu: “Là do Long Thụ đại sư truyền thụ bằng âm thanh bí mật cho Đức Cát Tang Bố, thiên hạ không ai biết cả.”



Hoàng đế trầm ngâm hồi lâu, khẽ cười như muốn giấu đi vẻ thất vọng, rồi quay sang A Phổ Đỗ Mục: “Trẫm nghe nói Bimo người Ô Toản cũng có thể tụng một loại kinh dẫn đường, khá giống với thuật trừ tà?”


A Phổ Đỗ Mục đang cân nhắc ý tứ của hoàng đế, nghe vậy liền nối lời:
“Là gọi hồn, chỉ đường về cội nguồn cho linh hồn phiêu bạt. Có Bimo còn có thể sai khiến vong linh mặc giáp cầm thương, giục roi cưỡi ngựa, giống như âm binh trong tuồng kịch.”


“Bimo chỉ dẫn đường cho người Ô Toản sao? Nếu trong kinh thành có hồn ma lạc lối, có thể giúp chúng tìm đường về âm phủ, đuổi sạch ra khỏi đây được không?”


“Việc này… thần cũng không dám chắc.”


Hoàng đế không hỏi thêm, mà chuyển chủ đề: “Ngươi cũng tin Phật sao? Phải rồi, huynh trưởng ngươi là A Tô La Tắc, tu hành trong chùa, hẳn ngươi cũng tin?”


Nghe đến tên A Tô La Tắc, A Phổ Đỗ mục thoáng giật mình, nhưng vội giấu đi: “Phải, người Ô Toản chúng thần thờ A Xoa Da.”


“A Xoa Da, cũng chính là Quan Âm Bồ Tát trong cách gọi của người Hán.” Hoàng đế tinh thông kinh điển các ngôn ngữ Phật giáo, thong dong chắp tay sau lưng dạo bước dưới hành lang. Vụ Bổn phường rất yên tĩnh, sát vách Quốc Tử Giám là Viện Tiến Tấu và chùa Thủy Trạch.


Ông chỉ tay qua bức tường, rồi hỏi A Phổ Đỗ Mục: “Chùa Thủy Trạch là đạo tràng của Quan Âm. Nếu ngươi không hiểu kinh nghĩa của người Hán, có thể đến đó lễ bái.”


“Thần tạ ơn bệ hạ.”


Hoàng đế như lơ đãng hỏi tiếp: “Trẫm muốn phong A Tô La Tắc làm Quốc sư, mời vào kinh giảng pháp. Có cách nào mời được hắn tới không?”


Tim A Phổ Đỗ Mục như nện mạnh một cái, lòng bàn tay toát mồ hôi, hắn gắng giữ vẻ bình tĩnh: “Thần sẽ viết thư hỏi phụ thân.”


“Bên ngoài thì mất chỗ dựa như môi răng, bên trong lại ngày một lẻ loi… Làm một thiên tử như trẫm, nào khác gì chim đơn hạc lẻ?” Giọng hoàng đế trầm thấp đến mức gần như không thể nghe rõ. Ánh mắt ông xuyên qua dòng người nhốn nháo, dường như đang dõi theo một đoạn hồi ức mịt mờ khói bụi: “Nếu chỉ dẫn của A Tô La Tắc thật sự khiến vong linh được siêu sinh, trẫm mới có thể an giấc mỗi đêm.”


“Cạch!” Một tiếng động giòn tan vang lên. A Phổ Đỗ Mục quăng mạnh thanh đao xuống đất, quỳ rạp trước mặt hoàng đế: “Bệ hạ là vì tưởng nhớ cố nhân, nên mới thao thức chẳng yên sao?”


Hoàng đế cụp đôi mắt phiêu đãng xuống, nhìn hắn: “Đúng vậy. Trẫm cũng có người không thể không chia ly…”



Trên gương mặt A Phổ Đỗ Mục là vẻ trong sáng và cương trực hiếm có ở tuổi thanh niên: “Người trí ngộ ra giả tướng thì nên buông bỏ! Bệ hạ tinh thông Phật lý, sao lại không thấu suốt điều ấy? Khi còn nhỏ, thần từng nuôi một con hổ, nó là bằng hữu thân thiết nhất của thần. Sau này nó lạc mất, thần đi khắp rừng núi, sông biển tìm kiếm vẫn không thấy. Lúc ấy thần tưởng mình sẽ đau lòng suốt đời. Nhưng chẳng bao lâu, A Tháp lại bắt cho thần một con báo. Chưa đến ba tháng, thần đã quên mất con hổ ấy rồi.”


Hắn nghiêm mặt, ngờ vực nói: “Bệ hạ cái gì cũng có, sao còn vì người xưa chuyện cũ mà ưu phiền? Người thật lòng thương bệ hạ, hẳn chỉ mong bệ hạ ngày ngày hoan hỉ. Còn kẻ đã dễ dàng rời xa, thì chẳng xứng để bệ hạ đau lòng.”


“Trẫm khi còn trẻ cũng từng nghĩ rằng mình có tất cả.” Hoàng đế than một tiếng, “Nhưng người mới sao bằng cố nhân cũ…”


Ông không tiếp tục vấn đề ấy nữa, gọi A Phổ Đỗ Mục đứng dậy, đưa mắt nhìn về phía đài cao: “Trò vui bắt đầu rồi.”


Tâm trạng hoàng đế cuối cùng cũng nhẹ nhõm phần nào. Bên ngoài tà áo rực rỡ tung bay, sáu hàng vũ công tấu nhạc múa múa theo điệu Lục Nhị. Đám ca kỹ Nội giáo phường cũng thi nhau biểu diễn tuyệt kỹ sở trường nâng đỉnh, leo sào, múa kiếm, tung cầu khiến người xem hoa cả mắt.


Mọi người quên cả quy củ, chen lấn lên phía trước. Vai A Phổ Đỗ Mục bất chợt bị ai đó va phải, là Mãng Tán.


Hắn cố ý tụt lại phía sau đám người, mặt hướng về sân khấu, nhưng giọng nói trầm thấp lại lọt vào tai A Phổ Đỗ Mục, mang theo ý châm chọc: “Một con tin vẫn chưa đủ sao? Các ngươi thật cam tâm để cả Ô Toản bị người ta nắm trong lòng bàn tay ư?”


A Phổ Đỗ Mục khẽ liếc Mãng Tán bằng đuôi mắt, thần sắc bình lặng: “Ngươi không xem hí khúc à?”


Một bóng đỏ thắt tóc nhỏ, buộc mũ buông trán, hai chân khẽ điểm trên sợi dây, run rẩy bước l*n đ*nh tán lụa. Nàng liên tục nhào lộn hơn chục vòng đầy mạo hiểm khiến người xem kinh hô, rồi vươn hai tay ra như chim én nhẹ lướt, đáp xuống mặt đất không sai một bước. Giữa tiếng reo hò vang dội của trăm quan, nàng chạy thẳng tới bên hành lang, lao vào lòng hoàng đế, miệng cười duyên: “Thỉnh bệ hạ trách phạt.”


Đó là Thôi Tiệp Dư, xuất thân từ Nội giáo phường, đã nhiều năm không thấy nàng biểu diễn tạp kỹ. Hoàng đế thoạt đầu ngạc nhiên, nhưng khi thân thể mềm mại tựa vào, ông cũng khó mà giữ vẻ mặt nghiêm khắc, chỉ vỗ nhẹ lên vai nàng, bảo: “Đừng làm càn.”


Nụ cười của Thôi Thị rực rỡ đến chói mắt, nàng nói: “Hoàng hậu đang ngắm hoa ở Phù Dung viện, thiếp nhìn thấy xa giá của bệ hạ thì lén chạy sang.”


Trước mặt trăm quan, nàng khẽ nắm tay hoàng đế, kéo ông vào điện:
“Bệ hạ từng hứa dạy thiếp học chữ, sao gần đây lại không đến?” Giọng nàng ẩn ý oán trách lẫn nũng nịu, “Người cũ không bằng người mới, có phải bệ hạ đã bị mỹ nhân Ba Tư làm vướng chân rồi chăng?”


Thị vệ và cung nữ đều lui xuống, người đeo đao cầm kích đứng gác ngoài hành lang. Hoàng đế cùng Thôi Thị ở trong điện khá lâu, triều thần và đào kép cũng thức thời mà rút lui, ánh nắng âm thầm chuyển dời. A Phổ Đỗ Mục vẫn đứng thẳng tắp, lòng đang nghĩ đến A Tô La Tắc, lông mày dần nhíu lại. Có tiếng vòng ngọc leng keng vang lên, hắn liếc về cửa điện, lại thấy Hoàng Phủ Nam.


Hắn luôn thấy nàng ở cạnh Thôi Tiệp Dư. Con gái tể tướng cũng phải vào cung làm tỳ nữ sao? Hay là nàng cố ý vào đây để gặp riêng Lý Linh Quân?



Cứ nhìn nữa sẽ lộ sơ hở. A Phổ Đỗ Mục âm thầm dời ánh mắt đi.


Tiếng Thôi Thị lại vang lên, sai cung nữ mang băng sơn và nước giải khát tới cho đám thị vệ ngoài hành lang. Giọng nói vừa rồi còn mang vẻ oán trách, nay đã chuyển sang vui vẻ, pha chút khàn khàn lười nhác. So với nàng ta, giọng của Hoàng Phủ Nam thì trong trẻo, lại phảng phất vị ngọt.


Nàng ít nói, mỗi lời đều thận trọng dè dặt.


Băng sơn được bày ngoài hành lang, vẫn còn bốc khói trắng lạnh buốt. Nước ô mai cũng có, nhưng chẳng phần đến tay hắn. Hoàng Phủ Nam ôm ấm bạc bước đi.


“Tại sao không có phần ta?” A Phổ Đỗ Mục bộc trực hỏi thẳng.


“Hết rồi.” Hoàng Phủ Nam quét mắt nhìn hắn, đáp tỉnh bơ, còn lắc nhẹ ấm bạc cho hắn xem, bên trong trống rỗng. Nói rồi nàng trở vào trong điện, tránh ánh nắng, không quay lại nữa.


A Phổ Đỗ Mục mới vào Thị Vệ doanh được mấy tháng, vẫn chưa quen mặc giáp lụa nặng nề, đứng thẳng như cọc gỗ. Ở Ô Toản rừng rậm trập trùng, đâu có oi bức như nơi đây. Hắn bắt đầu thấy bức bối, nhưng lúc thay ca, vẫn cố gắng không rời đi, hắn muốn xem có đúng là “tình cờ” Lý Linh Quân cũng sẽ đến Quốc Tử Giám.


“Bệ hạ, tam sinh đã chuẩn bị xong.”


Vị Tế tửu đầu bạc của Quốc Tử Giám thân chinh ra ngoài điện, cao giọng hô lớn, báo hiệu nghi lễ chính thức bắt đầu. A Phổ Đỗ Mục bị kéo khỏi dòng suy nghĩ, quay đầu lại, thấy Thôi Thị như con rắn mềm mại quấn lấy hoàng đế, chẳng chút để tâm đến vẻ bất mãn trong giọng nói của lão Tế tửu.


Hắn nhân lúc đó, lặng lẽ quan sát Hoàng Phủ Nam. Hôm nay nàng ra mắt trước mặt vua mà chẳng tô điểm quá phô trương, chiếc áo vải mỏng dệt hoa nhạt màu thịt, váy lụa hồng khói mềm mại buông dài chấm đất, búi tóc đơn giản cài một chiếc trâm ngọc bích, dịu dàng tươi sáng như đoá sen non mới hé nở.


Nàng ngoan ngoãn cụp mắt, đợi Tiệp Dư thì thầm vài lời bên tai hoàng đế rồi bước sau nàng ta, cùng nhau rẽ qua cửa bên ở hành lang.


A Phổ Đỗ Mục thu lại ánh mắt, theo đoàn giá đến tế đàn. Trên đàn hương khói nghi ngút, có cả một con bò sống bị trói chặt. Nghi lễ Tế Khổng Tử áp dụng đại lễ Thái Lao, hoàng đế không sát sinh, chỉ dâng hương rồi quay lại lều ngự. A Phổ Đỗ Mục vẫn chưa rời bước, trong lòng có chút hiếu kỳ, nhưng khi hắn vừa nhận ra điều gì, tuy phản ứng nhanh, lập tức siết chặt chuôi đao, vẫn không kịp né tránh…


Một dòng máu bò tanh nóng phụt ra, bắn lên đầy đầu đầy người hắn.


“Khà!” Xui xẻo thật. A Phổ Đỗ Mục nhịn cơn ghê tởm, đưa tay lau mặt.


Long Hương Bát - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu Story Chương 23: Phần 3 : Bảo Điện Phi Hương (23)
10.0/10 từ 25 lượt.
loading...