Không Người Giám Thị - Tô Thành Ách Nhân
Chương 471
Chương 471: Có hỉ
Đạo Vi rời đạo quán, lấy thân phận thuật sĩ lang thang đi khắp nơi.
Ông vốn thông hiểu phong thủy thiên tượng, lại ngộ tính mà học được mệnh thuật trong truyền thuyết. Thuật này có thể xem mệnh người, thậm chí là mệnh núi sông thiên hạ. Hai thứ kết hợp lại, ông không tốn bao nhiêu công sức đã tìm được một nơi bất phàm. Nơi này do địa thế và cấu trúc đá núi kỳ lạ nên thường có giông bão mỗi khi xuân hè. Nếu lợi dụng tốt thì có thể dẫn thiên lôi, tạo dị tượng, thành kỳ quan.
Đạo Vi chọn nơi này, bố trí rất lâu, đợi mọi thứ chuẩn bị thỏa đáng, ông mới thong dong lên kinh tháo hoàng bảng.
Cần phải nói thêm, trên đường ông vào kinh, có một vị đạo sĩ lạ mặt đã ngăn cản ông.
Ông và lão đạo sĩ chưa từng quen biết, lão đạo sĩ cũng không biết ông đang mưu tính gì, nhưng sau khi hai người trải qua đàm huyền luận đạo tâm đầu ý hợp, lão đạo sĩ bỗng nhiên biến sắc, nhảy dựng lên chỉ vào mũi ông mắng ông là yêu đạo, nói thẳng rằng chuyến đi về phương Bắc này của ông sẽ gây họa cho thiên hạ, vô số chuyện thảm khốc sẽ vì thế mà xảy ra, hôm nay chỉ cần mình còn một mạng tì nhất định phải ngăn cản ông.
Đạo Vi vừa kinh ngạc vừa tức giận, một mực không nhận, nhưng lại thực sự lo lắng lão đạo sĩ kia thật sự biết được điều gì đó sẽ khiến cho kế hoạch của ông thất bại, thân bại danh liệt, bèn tàn nhẫn nhấc tảng đá đập chết lão đạo sĩ.
Lão đạo sĩ vừa chết, trái tim hoảng loạng của Đạo Vi đột nhiên bình tĩnh lại.
Hận thù cuối cùng sẽ nuốt chửng ông, nhưng ông không thể buông bỏ hận thù, sớm muộn gì cũng phải đi lên con đường này.
Vô số xương cốt vô tội trên con đường này nhất định còn nhiều hơn cả dân chúng chết trong trận đốt thành ở Hoàng Hà. Ông đã sớm biết, vậy còn gì phải dao động? Thiên địa bất công, ông muốn nghịch thiên cải mệnh, lê dân vô tội liên quan gì đến ông? Dù không có con đường này, xương cốt vô tội trên thế gian cũng sẽ không ít đi bao nhiêu, dù sao cũng phải chết, không bằng thêm gạch xây lầu cho màn lừa bịp thay trời đổi đất này của ông, cũng coi như không oan uổng.
Ông chưa bao giờ là người tốt, nếu phải nói thì cũng chỉ là một con ác quỷ bò lên từ địa ngục mà thôi. Trong lòng chỉ có hận thù, không ngủ không nghỉ, không giảm không diệt, hừng hực cháy suốt hàng ngàn ngày đêm, không một ngày nào nguôi ngoai quên lãng, chỉ đợi thiên địa hỗn loạn thiêu rụi tất cả.
“Hôm nay giết người không phải là ngoài ý muốn, chỉ là ác quỷ cuối cùng cũng lột bỏ lớp da người, trở về bản chất thật mà thôi…”
Đạo Vi ngồi trơ một đêm trong ngôi miếu đổ nát đầy máu, mặt mày trống rỗng, lẩm bẩm một mình.
Ngày hôm sau, ông hủy thi diệt tích, dựng một ngôi mộ cô đơn trong rừng sâu núi thẳm.
Ông run rẩy kéo xác lão đạo sĩ vào trong, nhưng trong lúc chôn cất lại nhiều lần thất thần. Thậm chí có ảo giác không biết thứ được chôn cất bên trong rốt cuộc là xác lão đạo sĩ, hay là lớp da cũ của chính mình.
Trước khi đi, ông nhìn trời cảm khái, vót gỗ làm bia, dựng trước mộ, viết xuống một câu phê mệnh đoạn ngữ mười bốn chữ.
Sau khi ông đi, có đứa trẻ ham chơi lạc vào núi, nhìn thấy bia mộ nhưng không biết chữ, không hiểu sao lại lẩm bẩm đọc được những chữ trên đó.
“Người chẳng phải người, quỷ là quỷ, thần chẳng phải thần, ma là ma…”
Đứa trẻ ngơ ngác: “Mẹ ơi, cái gì mà ‘người chẳng phải người, quỷ là quỷ, thần chẳng phải thần, ma là ma’ vậy ạ? Mẹ… mẹ ơi?”
Không ai trả lời.
Đứa trẻ quay đầu lại, cuối cùng mới nhận ra mình bị lạc đường, òa lên khóc lớn chạy xuống núi.
Chạy không biết bao lâu, ngã nhào vào bụi cỏ, bị một bàn tay to nhấc lên, rồi bị ăn một trận đòn.
Chủ nhân của bàn tay vừa đánh vừa mắng, đứa trẻ khóc đến xé lòng xé phổi, dọc đường bị người trong thôn nhìn thấy, cũng không lấy làm lạ mà còn trêu ghẹo: “Tiểu Nghiêu lại bị đánh rồi kìa… còn dám nghịch ngợm không hả?”
Đạo Vi xuống núi thấy vậy, không hề lo lắng mình có bị phát hiện hay không mà chỉ thấy kỳ lạ buồn cười, nên thực sự mỉm cười đưa cho đứa trẻ tên Trịnh Nghiêu kia một xâu kẹo hồ lô bên đường, rồi bước lên quan đạo, một thân tiêu dao, thẳng tiến kinh thành.
Trước Đạo Vi, Văn Tông đã chém đầu quá nhiều kẻ giả thần giả quỷ, hoàng bảng vốn khiến giới tăng đạo thuật sĩ thiên hạ đổ xô đến đã sớm trở thành một tấm bùa đòi mạng đẫm máu, không ai dám động vào. Văn Tông lại rơi vào mê man, một lần nữa nghi ngờ chuyện quỷ thần.
Khi Văn Tông gặp Đạo Vi, nửa tin nửa ngờ.
Nhưng Đạo Vi khác với những kẻ giả thần giả quỷ kia, ông có bản lĩnh thật. Quả nhiên, sau một hồi luận đạo, Văn Tông tin ông, quyết định theo lời ông trùng tu miếu thờ và tế trời cầu thần.
Đạo Vi chọn hai vị thần để Văn Tông tế trời, một là Đa Tử Bồ Tát, hai là Phúc Lộc Thiên Quân.
Hai vị thần này có thực sự tồn tại hay không, tự nhiên không có tài liệu lịch sử nào khảo chứng được, hoàn toàn dựa vào miệng lưỡi của Đạo Vi, nhưng đây cũng không phải là lời nói bừa c*̉a Đạo Vi.
Ông chọn hai vị thần này là có lý do.
Đạo Vi khi đi khắp thiên hạ, thường thấy khổ nạn của thế gian. Nỗi khổ đó trong mắt ông chẳng qua là hai thứ, một là áp bức, hai là d*c v*ng.
Đa Tử và Phúc Lộc đều là hóa thân đường hoàng của hai thứ đó.
Hai nỗi khổ thế gian này ngày thường chẳng đáng gì, nhưng một khi bị phóng đại vô hạn, chúng liền trở thành cơn sóng dữ lật nhào vạn thế thái bình, đáng sợ vô cùng.
Vào ngày tế trời, nơi tế trời được Đạo Vi bố trí tỉ mỉ liên tục xuất hiện dị tượng, lại có sấm sét màu tím giáng thế bổ đôi núi non, để lộ một chốn đào nguyên khác hẳn bên ngoài. Văn Tông mừng rỡ, đã tin Đạo Vi tám phần, mà hai phần còn lại cũng trở nên chắc chắn theo việc Đạo Vi viên tịch ngay tại chỗ.
Một thuật sĩ lang thang nhỏ bé, không cha không mẹ, không con không cái, nếu không phải như lời Đạo Vi nói mình là sứ giả của thần linh, chỉ đến để giúp Văn Tông dẫn thần giáng thế, thì mưu đồ chỉ có thể là vàng bạc châu báu, quyền cao lộc hậu, nhưng một khi bỏ mình, những thứ này c*̃ng chẳng còn nữa.
Rổ tre múc nước công dã tràng, có kẻ lừa đảo nào lại làm chuyện buôn bán chẳng có chút lợi lộc nào như vậy?
Cứ như thế, Văn Tông không còn nghi ngờ sự thành kính và thuần khiết của Đạo Vi nữa. Sau khi về kinh, Văn Tông gạt bỏ mọi ý kiến phản đối, truy phong Đạo Vi làm quốc sư.
Mà tất cả những chuyện sau này đều nằm trong dự liệu của Đạo Vi.
Mặc dù ông đã chết và không còn biết chuyện đời.
Theo những gì ghi trong sách ngọc, việc Đạo Vi tạo thần thay vì nói là tạo thần, chẳng bằng nói chỉ là đẩy thuyền theo nước. Bởi vì mưu đồ của Đạo Vi nói ra thì sâu xa, thực tế ông chỉ làm hai việc, một là bố trí dị tượng và truyền thuyết ở Hoan Hỉ Câu, hai là bịa ra hai vị thần Đa Tử và Phúc Lộc để mê hoặc Văn Tông.
Ngoài ra, ông không làm thêm bất cứ việc gì liên quan đến việc tạo thần, sau đó buông tay viên tịch.
Nhưng giống như những gì ông nói ở đầu sách ngọc, dùng lòng người bày mưu, dùng lòng tham thành sự.
Ông không làm quá nhiều, cũng không để lại bất kỳ đường lui nào ngoài quyển sách ngọc, nhưng chỉ vì lòng người và lòng tham nhập cuộc, tất cả thực sự diễn biến theo những gì ông mong đợi. Trong vòng ba năm sau khi Hoan Hỉ Câu xuất hiện, thực sự đã sinh ra hai vị thần vừa ra đời đã có dị tượng đi kèm. Sau khi thần vào miếu mấy năm, Văn Tông băng hà, Đại Nghệ cũng thực sự long trời lở đất.
“Người phân cao thấp sang hèn, lòng có thất tình lục dục, đây là gốc rễ diệt vong của ta, cũng là gốc rễ diệt vong của Đại Nghệ… Sau này loạn thế mấy chục năm, núi sông tan nát, sinh linh đồ thán, là tội của ta, không phải lỗi của ta… Người đời sau bình luận, chỉ là rác rưởi mà thôi!”
Ở trang cuối cùng của sách ngọc, Đạo Vi dường như đã vứt bỏ tất cả, tùy ý mà nặng nề viết xuống mấy dòng chữ nguệch ngoạc.
Vào đêm trước tế trời, một bóng người gầy gò với vẻ mặt bình tĩnh và hờ hững nhưng trái tim lại cháy bừng bừng nhảy ra từ giữa những dòng chữ và xuất hiện trước mặt Lê Tiệm Xuyên. Trong khoảnh khắc, thực sự người chẳng phải người, quỷ là quỷ, thần không phải là thần, ma là ma.
“Lòng người, lòng tham, hận thù…”
Cảnh tượng kỳ lạ chợt lóe lên rồi biến mất, Lê Tiệm Xuyên khép quyển sách ngọc trong tay lại, nhắm mắt.
Mưu kế lừa dối, xem núi sông, bói thiên mệnh năm mươi năm sau, dùng sức một mình, làm ra vài việc cỏn con, liền châm ngòi cho loạn thế… Chỉ vì báo thù liền đảo lộn trời đất, khiến núi sông tan nát, dân chúng lầm than, nhưng không thẹn không hối, thà phụ thiên hạ, chứ không để thiên hạ phụ ta…
Đạo Vi người này, đúng là một người khó mà đánh giá.
“Hai vị thần này… hóa ra đều là giả.”
Lê Tiệm Xuyên thở ra một hơi, có chút đau đầu xoa ấn đường.
Hắn không mấy nghi ngờ nội dung trong sách ngọc, chỉ là không tránh khỏi có chút kinh ngạc.
Khi vừa vào phó bản, bởi vì các loại tài liệu phó bản đơn Cthulhu thu thập được ở thế giới thực đều cho thấy trong phó bản có thần, mà bản thân hắn cũng thực sự gặp phải một số chuyện kỳ lạ chỉ có thể giải thích bằng chuyện quỷ thần, cho nên Lê Tiệm Xuyên tuy có chút nghi ngờ hai vị thần ở Hoan Hỉ Câu, nhưng vẫn nghiêng về giả thuyết nếu hai vị thần này thực sự không phải người, không phải thần thật, thì ít nhất cũng là thần giả.
Đương nhiên, hắn cũng nghĩ đến có lẽ hai vị thần này không phải đã là thần ngay từ đầu, mà là do ảnh hưởng của hộp ma c*̉a phó bản hoặc sức mạnh nào đó khác nên mới từ người hoặc quái vật hộp ma hoặc thứ gì khác, mà trở thành thần.
Nhưng hắn không ngờ hai vị thần cao quý này sở dĩ thành thần lại chỉ bắt nguồn từ một cuộc báo thù và một màn lừa bịp.
“Ban đầu chắc chắn là giả, nhưng sau này thì chưa chắc… Có điều muốn từ giả thành thật cũng không dễ, Đa Tử và Phúc Lộc chắc chắn đã gặp phải chuyện gì đó.”
Lê Tiệm Xuyên nghĩ đến những gì mình thấy ở Vô Ưu Hương, lại nhìn về phía tấm vải liệm viết đầy chữ máu bên trong.
Hắn có dự cảm tấm vải liệm này có thể vạch trần ít nhất 80% bí mật c*̉a việc hai vị thần từ người trở thành thần trong màn lừa bịp kinh thiên động địa này.
Tấm vải liệm khá lớn, Lê Tiệm Xuyên xuống giường, trải nó lên bàn rồi cùng Ninh Chuẩn xem xét kỹ lưỡng.
Người để lại chữ máu trong tấm vải liệm không thần bí như Đạo Vi, mở đầu đã nói rõ thân phận, tự xưng là dân làng Hoan Hỉ Câu kiêm Thánh Tử đầu tiên của Đa Tử thần giáo, tên là Bùi Thuận, đồng thời chỉ rõ tấm vải liệm này được làm từ da của cha mình là Bùi Sơn và mẹ là Triệu Nguyệt Hoa, khi được phát hiện hẳn là đang quấn trên thi thể mình.
Mà có thể được tấm vải liệm công nhận và có thể nhìn thấy bức thư máu này, cũng có nghĩ là người đang đọc bức thư máu này c*̉a Bùi Thuận chính là người Bùi Thuận đang đợi, người có thể công bố sự thật ra ánh sáng.
“Cha tôi mang thai và sinh ra tôi. Tôi không còn nhớ rõ những chuyện hồi tấm bé, chỉ biết vào đêm tôi sinh ra, Đa Tử Bồ Tát hiển linh và chọn tôi làm Thánh Tử đầu tiên. Cha tôi có công sinh tôi ra và chưa chết nên được thu nạp vào giáo, trở thành ông mụ mười thai…”
Bùi Thuận rõ ràng lớn lên vào cuối thời Nghệ đầu thời Hạ, lời văn thiên về bạch thoại* hơn.
*Bạch thoại: hình thức văn viết của tiếng Hán hiện đại – tiếng Phổ thông.
“Trước sáu tuổi, tôi không gặp phải chuyện gì đặc biệt. Sau sáu tuổi, tôi thường xuyên nghe thấy một số âm thanh và thường xuyên có những thèm muốn kỳ lạ. Tôi muốn nói với cha mẹ, nhưng mỗi lần định nói, tôi lại cảm thấy không có gì to tát.
Lúc đó không biết, bây giờ nghĩ lại hẳn là vì trong người tôi ẩn chứa thần quốc, đã bị Đa Tử Bồ Tát ô nhiễm sâu sắc, ngay cả suy nghĩ bên trong tôi cũng bị âm thầm thay đổi.
Trong người ẩn chứa thần quốc?
Tuy trong lòng có chút suy đoán nhưng khi thật sự nhìn thấy những chữ này, lông mày Lê Tiệm Xuyên vẫn giật giật, sống lưng lạnh toát.
“Mẹ tôi phát hiện ra sự kỳ lạ của tôi khi tôi tám tuổi.
Lúc đó là mùa đông, đúng ngày mùng một Tết, tuyết rơi rất nhiều. Chúng tôi phải dậy rất sớm và lội tuyết đi chúc Tết. Tôi ngủ nướng không muốn dậy, mẹ tôi xách tôi lên, dỗ tôi mặc quần áo và lau mặt. Mẹ tôi đang lau mặt cho tôi thì đột nhiên hét lên, vạch mí mắt c*̉a tôi ra.
Tôi không biết chuyện gì xảy ra, khi tôi hỏi, mẹ tôi phớt lờ, chỉ liên tục hỏi tôi có cảm thấy khó chịu ở đâu hay không. Cha tôi nghe thấy tiếng động cũng chạy đến và vạch mí mắt tôi ra. Sau đó, ông không kêu lên giống mẹ mà cứ như mất hồn, không động đậy cũng không nói gì.
Mẹ tôi che mặt khóc, không biết vì sao lại mắng cha tôi.
Trong lúc họ cãi nhau, tôi lén nhìn vào chậu nước. Tôi không thấy gì cả, nhưng mắt hơi mờ, chỉ thấy hình như có nhiều con ngươi đen kịt nhét vào trong nhãn cầu.
Nhưng làm sao có thể nhét nhiều con ngươi vào nhãn cầu như vậy? Chắc chắn là tôi chưa tỉnh ngủ rồi.
Quả nhiên, tôi chớp mắt mấy cái, nhìn lại thì mắt đã bình thường rồi.
Tôi vui vẻ kể cho cha mẹ, nhưng bọn họ vẫn một người khóc mắng, một người ngơ ngác.
Tối hôm đó, cha tôi đóng chặt cửa sổ trong nhà, trốn trong chăn thì thầm với tôi rằng Đa Tử Bồ Tát là người xấu, bảo tôi sau này không được tin nữa, chỉ cần giả bộ là được.
Lúc đó tôi không hiểu, nhưng cũng nghe lời cha. Chỉ là, làm sao tín ngưỡng đối với Đa Tử Bồ Tát muốn thu về là thu về được?
Đặc biệt là, tôi là Thánh Tử của Đa Tử thần giáo.
Không lâu sau, cha mẹ cũng phát hiện ra chuyện tôi không thể hoàn toàn làm chủ được bản thân.
Để đánh thức hoặc nói đúng hơn là giữ lại cái tôi của tôi, họ đã tìm đến người giỏi nhất trong làng, cũng là người có khả năng chống lại Đa Tử Bồ Tát nhất, chủ tế mới đến, mẹ Du.”
Lê Tiệm Xuyên ngạc nhiên khi biết trong chuyện này lại có bàn tay c*̉a mẹ Du. Tính ngày thì lúc này mẹ Du quả thực có khả năng đã đến Hoan Hỉ Câu và trở thành chủ tế.
Hắn chỉ hy vọng Bùi Thuận có thể chỉ ra một chút lai lịch của mẹ Du, nhưng Bùi Thuận không đề cập nhiều đến chuyện này mà chỉ viết về hai cuộc nói chuyện.
Một là giữa mẹ Du và cả gia đình ba người họ, một là giữa mẹ Du và cha mẹ Bùi Thuận.
Trong cuộc nói chuyện đầu tiên, mẹ Du thẳng thắn nói với cả gia đình ba người họ rằng việc tuyển chọn Thánh Tử của Đa Tử thần giáo chỉ là một âm mưu.
Sau khi Đa Tử Bồ Tát thành thần, vì sức mạnh không ổn định nên đã tạo ra thần quốc, dùng thần quốc để ổn định trạng thái tinh thần của mình. Ngoài những trường hợp đặc biệt, ngài sẽ không ngự xuống thần quốc, cũng không ngự xuống nhân gian thông qua thần quốc. Ngài ngủ say ở một nơi khác, không phải ở trong thần quốc, nhưng thần quốc không thể rời xa ngài quá lâu, cũng không thể mất đi chất dinh dưỡng trong thời gian ngài ngủ say, vì vậy cần một vật chứa.
Cái gọi là tuyển chọn Thánh Tử, chính là chọn vật chứa cho thần quốc.
Trước khi Bùi Thuận chào đời, cái tên mà cha mẹ đặt cho anh ta không phải là Bùi Thuận, chỉ sau khi trở thành Thánh Tử, mới được thần giáo đặt tên là Thuận.
Bởi vì chữ “thuận” chính là chìa khóa mở ra cánh cửa vào thần quốc.
Theo đặc tính của Đa Tử Bồ Tát, thần quốc ở trong người Bùi Thuận nhiều khả năng là nằm ở khoang bụng, cánh cửa thần quốc cũng tồn tại ở đó. Cánh cửa có ổ khóa, hình thức biểu hiện của ổ khóa chính là đa đồng, ngụ ý nhiều con. Chữ “thuận” là chìa khóa, mang ý nhu thuận, hòa thuận, hiếu thuận các loại.
Có thể nghe thấy những âm thanh kỳ lạ, 80% là âm thanh đến từ thần quốc. Có thể cảm nhận được những thèm muốn kỳ lạ, cũng 80% là do thần quốc thúc đẩy, bởi vì thần quốc cần máu thịt và linh hồn của người để cung dưỡng, không thể để nó lúc nào c*̃ng đói.
Về phần cái tôi.
Đã trở thành vật chứa của thần quốc, Bùi Thuận ngay cả người cũng không phải, còn nói gì đến cái tôi?
“Nó không phải con của nhà họ Bùi các người, mà là thần quốc của Đa Tử Bồ Tát. Các người phải nghĩ như vậy.”
Mẹ Du đã nói với cha mẹ tôi như vậy.
Nhưng làm sao Bùi Sơn và Triệu Nguyệt Hoa có thể chấp nhận cách nói như vậy?
Họ vừa kinh vừa sợ, lúc hoàn hồn lại liền quỳ xuống đất, dập đầu lia lịa đến chảy máu cũng không chịu đứng lên.
Bùi Sơn nói ông biết mẹ Du có thân phận không tầm thường, ngay cả Đa Tử và Phúc Lộc cũng có phần kiêng kỵ. Chuyện vật chứa thần quốc, nếu mẹ Du chịu thì nhất định sẽ có cách. Ông không cầu mẹ Du mạo hiểm đắc tội Đa Tử và bày cho bọn họ cách không công, chỉ cầu mẹ Du chỉ cho một con đường sáng, họ nguyện dốc hết gia tài để đổi lấy.
Mẹ Du không cần tiền bạc của nhà họ Bùi, chỉ yêu cầu Bùi Sơn làm cho bà ta một việc.
Bùi Sơn trực tiếp đồng ý mà không cần hỏi thêm câu nào.
Mẹ Du cũng rất thẳng thắn, sau khi đuổi Bùi Thuận đi, liền nói cho vợ chồng Bùi Sơn một cách có thể bảo đảm tinh thần và cái tôi của Bùi Thuận không bị tiêu biến khi ở dưới thần quốc.
Đây chính là cuộc nói chuyện thứ hai của mẹ Du.
Lúc đó Bùi Thuận không có mặt, sau này nghe mẹ kể lại thì mới biết.
Trong cuộc nói chuyện này, điều kiện mà mẹ Du đưa ra là Bùi Sơn phải tự sát, sau đó dùng bí thuật của bà ta tiến vào Vô Ưu Hương, thần quốc của Đa Tử. Nếu không có sự cho phép của bà ta thì không được ra ngoài, phải cố gắng ẩn núp lâu nhất có thể.
Phương pháp mà bà ta nói với hai người bọn họ là dùng da của Bùi Sơn, người từng mang thai, làm da chính, còn da của Triệu Nguyệt Hoa, người mẹ đã tạo ra người mang thai kia làm da phụ, chế thành một tấm vải liệm, để Bùi Thuận quấn chặt vào người, không được rời khỏi người.
Vợ chồng Bùi Sơn có được phương pháp, liền dẫn Bùi Thuận về nhà.
Không lâu sau, Bùi Sơn nói với Bùi Thuận rằng mình phải đi xa, có lẽ sẽ không về trong nhiều năm, rồi lại kéo Bùi Thuận, kể chuyện cho Bùi Thuận nghe.
Cha kể một câu chuyện về hai thiếu niên, một trai một gái.
Lúc đó tôi còn nhỏ, chỉ coi đó là câu chuyện bình thường, sau này mới biết câu chuyện đó kể về Đa Tử và Phúc Lộc.
Cha nói, Đạo Vi chân nhân đã tiên đoán rằng trong vòng ba năm, nơi này sẽ có thần linh giáng thế đầu thai, cho nên Hoan Hỉ Câu thuở sơ khai, người dân rất tích cực sinh con, trẻ sơ sinh liên tục chào đời.
Nhưng trẻ sơ sinh nhiều đến đâu cũng vô ích. Năm này qua năm khác, rất nhiều trẻ sơ sinh được sinh ra, nhưng cái gọi là dị tượng khi các vị thần giáng thế chưa bao giờ xuất hiện ở ngôi làng này.
Hoan Hỉ Câu xuất hiện vì thần linh sẽ giáng thế, kỳ hạn ba năm sắp đến mà thần linh vẫn không thấy đâu, có người hoảng sợ, lo lắng Hoan Hỉ Câu sẽ bị Văn Tông giáng tội.
Có lẽ bọn họ thực sự lo lắng cho mạng sống c*̉a mình, hoặc có lẽ chỉ là lòng tham nổi lên, nhà họ Trương và nhà họ Chu trong làng đã nảy sinh những suy nghĩ khác…”
Hết chương 471
Không Người Giám Thị - Tô Thành Ách Nhân
Đánh giá:
Truyện Không Người Giám Thị - Tô Thành Ách Nhân
Story
Chương 471
10.0/10 từ 35 lượt.
