Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Chương 71
Triệu Sắt làm theo không sai một bước.
Đóa Vân dắt ngựa, thần sắc căng thẳng, bước từng bước đến gần. Vừa mới đến nơi, đã nghe Dã Lợi Xuân mừng rỡ dùng tiếng Khương gọi to:
“Đóa Vân nhi, mau lên ngựa!”
Đóa Vân chỉ vào Ký Nhu, hỏi lại: “Ngươi không thả nữ nhân này xuống à?”
Dã Lợi Xuân đáp: “Nữ nhân này được Lương vương sủng ái, giữ lại tất có chỗ dùng.” Vừa nói, vừa dè chừng theo dõi động tĩnh bên phía Lục Tông Viễn, miệng giục: “Mau lên ngựa.”
Đóa Vân đang định trèo lên, bỗng thấy Ký Nhu ngồi sau lưng ngựa Dã Lợi Xuân khẽ mỉm cười với nàng, hơi nghiêng người, để lộ ra một sợi dây nhỏ quấn ở cổ , trên đó lấp lánh ánh lên chiếc nhẫn xương thú năm xưa chính nàng đã tặng cho Dã Lợi Xuân.
Chân mày Đóa Vân chợt dựng lên, nắm lấy dây cương chặn đầu ngựa Dã Lợi Xuân lại, chất vấn: “Dã Lợi ca ca, thứ đeo trên cổ nàng là gì?”
Dã Lợi Xuân theo hướng tay nàng nhìn lại, sắc mặt khẽ biến, chộp tay như điện, định giật lấy sợi dây kia. Ký Nhu liền cúi rạp người xuống, tay phất qua búi tóc của Đóa Vân, đâm thẳng vào cổ ngựa.
Con ngựa dưới thân hí dài một tiếng, vùng vẫy kịch liệt, quay cuồng một hồi, rồi hất cả Dã Lợi Xuân lẫn Ký Nhu ngã lăn khỏi lưng, sau đó bỏ chạy mất dạng.
Hai người rơi xuống, lăn tròn thành một khối, cùng lăn xuống dốc cát.
Dã Lợi Xuân còn chưa kịp mở mắt, đã nghe tiếng hô hoán vang lên, là quân Chu đuổi đến. Ngựa đã kinh, không cách gì khống chế, mà trong tay quân kỵ Chu nhân, hắn như rùa trong chum, khó lòng thoát được.
Hắn tức đến nỗi đấm mạnh xuống cát một cái, rồi giật phắt mảnh vải đang nhét trong miệng Ký Nhu ra. Ký Nhu mỉm cười với hắn, thấp giọng nói: “Từ nay về sau, ngươi chính là nô lệ của ta.”
Từ khi bị bắt, Dã Lợi Xuân liền bày ra dáng điệu sống dở chết dở, chẳng nói lời nào, cơm cũng không ăn. Đối với sự phản kháng im lặng như thế, Lục Tông Viễn nào thèm để vào mắt, chỉ khẽ cười lạnh, phân phó Triệu Sắt trói y, cùng với Đóa Vân, thích khách và những kẻ khác, quăng cả vào cỗ xe phía sau, sai binh lính canh phòng cẩn mật, rồi không hỏi han thêm nữa: “Cùng lắm mười ngày sẽ tới Yến Kinh. Mười ngày không chết đói được, cứ mặc hắn đi.”
Dứt lời, hắn khẽ ho khan một tiếng, liền dựa vào vách xe không nói nữa.
Ký Nhu ngồi bên lặng lẽ quan sát, cảm thấy có điều khác lạ, bèn nhích lại gần, vừa định vạch áo ra xem thì đã bị Lục Tông Viễn nắm lấy cổ tay. Hắn nửa cười nửa không hỏi: “Nàng định làm gì đấy?”
Ký Nhu cười khẽ, đưa mắt liếc hắn một cái: “Giữa thanh thiên bạch nhật, vương gia nghĩ thiếp có thể làm gì chứ?” Tay nàng không dừng, tách vạt áo ra, qua lớp trung y quả nhiên thấy vết thương băng kín đang thấm máu hồng. Thì ra, nhát kiếm của thích khách khi trước tuy không chạm vào da thịt, nhưng cũng đủ làm vết thương cũ nứt toác.
Ký Nhu nhẹ tay cởi băng, thay thuốc, rồi cẩn thận băng bó lại. Nàng thao tác tỉ mỉ, mặt gần như kề sát lồng ngực hắn, băng từng vòng từng vòng quấn lên, đầu ngón tay khẽ chạm vào da , bất giác nhận ra hơi nóng khác thường, bèn dừng tay, đưa mắt nhìn hắn: “Phát sốt nữa rồi à?”
Lục Tông Viễn vẫn tựa lưng lười nhác, trong mũi ừ một tiếng, rồi ngừng lại một chút, cười khẽ đáp: “Không sao, chẳng phải do vết thương đâu.”
Ký Nhu thoạt tiên chưa hiểu, kế đó chợt ngộ ra, mặt liền đỏ bừng. Băng bó xong, nàng nhân tiện ấn mạnh vào vết thương một cái.
Lục Tông Viễn chau mày, đưa tay ôm ngực, cười khổ không thôi. Thấy nàng rút tay lại, quay đầu cất chiếc hòm thuốc gỗ hoa lê nhỏ, chàng liền giơ tay, tháo chiếc trâm vàng nơi búi tóc nàng xuống, xoay đi xoay lại nhìn hồi lâu.
Đó là một cây trâm dẹt đơn sơ, đầu trâm chạm hình quả thọ đào, phong cách cổ phác, chẳng giống thứ nữ tử trẻ tuổi thường dùng.
Lục Tông Viễn như có điều suy nghĩ, mỉm cười hỏi: “Một chiếc trâm vàng như thế, có thể giúp mỹ nhân búi tóc, có thể đoạt mạng người, còn có thể dùng để làm gì nữa?”
Ký Nhu sững lại, thấy hắn cầm lấy cây trâm mà chẳng có ý trả lại, trong lòng thấp thỏm nhưng vẫn mỉm cười đáp: “Công dụng thì nhiều lắm, điều hương, trêu chim, gẩy tim nến, đều là những việc nữ nhi thường làm.” Vừa nói vừa định đưa tay lấy lại.
Lục Tông Viễn lại giơ tay lên cao, nhìn nàng mà cười: “Cái này, tặng cho ta đi.” Rồi không đợi nàng phản đối, thản nhiên cất trâm vào người.
Ký Nhu im lặng một hồi, cuối cùng cũng chỉ cười khẽ mà cho qua.
Nàng giúp hắn chỉnh lại y phục, rồi lấy áo hồ cừu đắp lên, lại chỉ vào lỗ thủng nơi ngực do kiếm gây ra, oán trách: “Đã hứa ban thưởng người ta một món, mới chớp mắt đã thế này, vương gia định bồi thường bằng gì đây?”
Lục Tông Viễn đáp: “Thứ đó trong vương phủ có nhiều lắm, nàng thích thì cứ đến chỗ Tịch Chỉ lấy, muốn mấy trăm cái cũng có.”
Ký Nhu bĩu môi nói: “Phải rồi, trong vương phủ cái gì mà chẳng có, đâu chỉ riêng món ấy?”
Lục Tông Viễn thoáng kinh ngạc, mở mắt nhìn, thấy nàng mặt mày rõ vẻ giận dỗi ghen hờn, không chút che giấu.
Hắn bật cười, đưa tay ôm nhẹ lấy thắt lưng nàng, chẳng tốn sức đã khiến Ký Nhu thuận theo mà ngả vào đầu gối mình.
Mái tóc dài như mây đen đổ tràn bên vạt áo, khuôn mặt như nụ sen hé nở, dưới vệt nắng nghiêng rọi qua khe cửa xe, sáng bóng như ngọc, trong trẻo như tuyết, mày tựa lông quạ, môi như phơn phớt chu sa, vui giận đều mang phong thái diễm lệ, hơi thở cũng mang hương ngát mê người.
Dẫu không phải là công hầu vạn dặm, non sông trong tay, thì phút giây này, ôm giai nhân trong lòng, nào chẳng khiến người say đắm?
Hắn hít trọn một hơi hương thơm ngào ngạt của nàng, mỉm cười: “Dẫu vườn xuân muôn sắc rực rỡ thì đã sao? Khắp thiên hạ người đẹp chẳng thiếu, nhưng lòng này chỉ vì nàng mà vương vấn.”
Vài ngày sau, đoàn người Lục Tông Viễn đã trở về vương phủ. Chuyến này chàng ra ngoài tuy chỉ mới hai tháng, nhưng vì ai nấy trong phủ đều nghe nói chàng bị thương, nên lòng dạ chẳng yên. Vừa hay tin hắnvào phủ, cả bọn đã ùa ra, xúm xít vây quanh, kẻ hỏi han, người nước mắt ngắn dài.
Lục Tông Viễn thấy phiền lòng, liền đuổi hết đi, chỉ để Thái phi cùng vương phi là mẹ chồng nàng dâu đi cùng mình vào tẩm điện.
Thái phi bắt chàng nằm xuống, sai người mời ngự y đến khám. Phương thị thì lòng đầy lo lắng xen lẫn vui mừng, dù đã gần ba mươi tuổi, lại như cô gái xuân tâm chớm động, mặt đỏ tai hồng, đứng ngồi không yên.
Chờ ngự y kê đơn bốc thuốc xong, chính nàng thân châm thuốc, bưng bát thuốc bước đến trước giường, muốn tự tay đút chàng uống.
Lục Tông Viễn thấy nàng cầm thìa, bộ dạng như thể định múc từng muỗng đút mình, không nhịn được bật cười, tự tay tiếp lấy bát thuốc, một hơi cạn sạch.
Phương thị nhìn cũng thấy đắng quá, vội hỏi: “Vương gia có cần một viên ô mai ngậm miệng cho đỡ không?”
“Không cần, nàng tưởng ta là Châu ca sao?” Lục Tông Viễn đáp.
Nghĩ tới hộp ô mai to đùng bên chỗ Ký Nhu, vốn để sẵn mỗi khi uống thuốc, trong mắt liền ánh lên ý cười.
Phương thị nhìn thấy, trong lòng sinh nghi, nhưng không tiện hỏi, bèn nghĩ sang chuyện khác, tươi cười nói: “Vương gia có muốn gọi Châu ca đến nói chuyện không? Dạo gần đây việc học hành của nó tiến bộ không ít.”
“Để hôm khác đi,” Lục Tông Viễn thuận miệng đáp, liếc mắt nhìn ra ngoài thấy Thái phi đang trò chuyện cùng các nha hoàn, liền bảo: “Ta có chuyện muốn thương nghị cùng Thái phi, nàng đưa các nha hoàn lui ra trước đi.”
Phu nhân họ Phương nghe vậy tuy có chút thất vọng, song cũng chỉ đành đáp “vâng”, rồi thỉnh Thái phi vào trong, còn mình thì quay gót đi ra viện. Gió lạnh bên ngoài thổi qua khiến cái đầu còn mơ hồ vì nóng sốt cũng dịu lại đôi phần. Nàng vuốt má cho tỉnh táo, chắp tay hướng trời khấn thầm một câu “Phật Tổ phù hộ”, đoạn toan bước đến thư đường xem thử Châu ca thế nào, vừa bước ra đến ngưỡng cửa thì bắt gặp Tịch Chỉ và Ký Nhu đang đứng trò chuyện dưới bức tường son.
Phương Phu nhânmỉm cười bước lại gần, nào ngờ hai người kia vừa thấy bà đến thì liền dừng lời, chào hỏi qua loa rồi im lặng đứng chờ. Phu nhân cảm thấy có phần mất hứng, bèn cười nhạt nói với Ký Nhu: “Chuyến này theo hầu Vương gia, muội cũng cực nhọc nhiều rồi. Hai hôm nay cứ an tâm mà nghỉ ngơi cho lại sức.”
Ký Nhu mỉm cười, nhẹ nhàng đáp một tiếng “vâng”.
Phu nhân do dự chốc lát, rồi cũng chỉ cười cười với hai người, tiếp tục đi đến thư đường. Có điều vừa đi được một đoạn, lại không kìm được mà ngoảnh đầu nhìn lại. Đợi đến khi bóng dáng bà khuất sau khúc ngoặt, Tịch Chỉ mới cúi đầu bật cười khe khẽ: “Con người ta sống một đời, dẫu có toan tính giỏi giang thế nào, cũng không bằng đầu thai cho tốt. Muội xem nương nương nhà ta, phúc phận ấy mới gọi là lớn lao biết mấy!”
Tịch Chỉ tuy trước nay vẫn khinh thường phu nhân họ Phương, song chưa từng nói lời bất kính ra miệng như hôm nay. Ký Nhu biết trong đó tất có ẩn ý, liền thuận miệng đáp: “Nếu không có tỷ đứng sau hỗ trợ, nương nương e cũng chưa chắc được an nhàn như hôm nay.”
“Giá mà ai cũng được thông suốt như muội thì hay.” Tịch Chỉ thở dài, “Muội không biết đấy, lần trước ở chỗ Thái phi xảy ra chuyện, chẳng rõ Vương phi nghe lời gièm pha từ đâu, đột nhiên đòi nhúng tay vào việc quản gia. Nàng ấy vốn quen nhàn tản, làm sao biết được trong đó nhọc nhằn thế nào. Ngày ngày phải tiếp xúc với đám hạ nhân, chuyện nhơ nhớp thì nhiều vô kể, ta cũng chẳng tiện nói rõ. Từ khi nàng ấy bắt đầu chung tay quản việc, trái lại ta càng thêm bận rộn. Muội nói xem, ta có uất không? May mà Vương gia đã hồi phủ, nhân lúc người đang dưỡng thương, chắc hẳn nàng ấy sẽ giữ người lại trong viện, như thế muội có thể an tĩnh nghỉ ngơi, ta cũng nhẹ được phần nào.” Nói rồi, ánh mắt nàng ta dán chặt vào Ký Nhu, rõ ràng muốn dò xét phản ứng.
Ký Nhu trong lòng hiểu rõ như gương, thầm thấy buồn cười, nhưng không để nàng ta toại ý, chỉ cười nhàn nhạt: “Có lẽ do nương nương rảnh rỗi quá sinh ra nhất thời nổi hứng thôi. Đợi khi nếm trải đủ sự khó nhọc trong đó, e là nàng cũng chẳng muốn quản nữa. Tỷ hãy chịu khổ thêm vài ngày vậy.”
“Phải rồi.” Tịch Chỉ lẩm bẩm. Ngoài trời lạnh giá, đứng một lúc là bàn chân đã tê cóng. Nàng ta dậm dậm chân, rướn cổ nhìn vào trong tẩm điện Phương phu nhân, thấy nha hoàn bà tử vẫn đang hầu dưới hành lang, không ai ra vào, biết Vương gia và Thái phi vẫn còn đang nói chuyện, liền thấp giọng hỏi Ký Nhu: “Ta nghe nói lần này Vương gia còn mang theo một nữ nhân người Khương trở về, có phải họ Bác Dã không?”
“Phải.” Ánh mắt Ký Nhu dừng lại trên mặt Tịch Chỉ, khẽ hỏi, “Sao vậy? Tỷ chẳng lẽ còn quen biết ai khác họ Bác Dã sao?”
Tịch Chỉ lắc đầu. Ký Nhu thấy nàng ta lộ vẻ thần sắc mờ ám, trong lòng đoán được vài phần, cũng không kìm được mà đưa mắt nhìn về phía tẩm điện.
Lúc này trong tẩm điện, bốn bề lặng như tờ. Lục Tông Viễn thuở nhỏ vốn được bà vú nuôi dưỡng, ít khi gần gũi với Thái phi, tình thâm mẫu tử giữa hai người, kỳ thực cũng chẳng thể xem là thân thiết, song dù sao vẫn còn chút máu mủ ruột rà.
Từ lần trước vì chuyện của Ký Nhu mà xảy ra xung đột với Thái phi, mỗi khi đối diện chàng, trên mặt bà vẫn luôn là vẻ lãnh đạm khó gần. Mãi đến khi thấy Phương thị bị chàng khéo léo tiễn ra ngoài, bà mới mở miệng khuyên một câu: “Ta biết vương phi nhà con vụng ăn vụng nói, chẳng lọt được vào mắt con, nhưng rốt cuộc cũng là đích thê danh chính ngôn thuận, lại là người thật thà hiền hậu, con cũng nên nương tay mà đối đãi. Đừng để mấy ả yêu tinh bên ngoài làm cho mê muội đầu óc, rối loạn gia cang. Nhà cửa bất an, há lại là chuyện tốt lành?”
Lục Tông Viễn khẽ nhếch môi cười nhạt, trong bụng thầm rõ, chuyện này mà để bà nói mãi thì e rằng chẳng bao giờ dứt, bèn cố ý chuyển đề tài: “Trên đường hồi kinh, nhi thần nhận được tin báo: đại quân dẹp loạn ở Tây Nam đã công phá được Cẩm Quan thành.”
Thái phi nghe vậy thoáng sững người, rồi từ từ ngồi thẳng dậy, giữ vẻ đoan nghiêm mà gật đầu: “Đó là chuyện tốt.”
Lục Tông Viễn nói tiếp: “Có một việc, nhi thần vẫn muốn thương nghị cùng mẫu thân… Đợi Dư Thiệu khải hoàn trở về, nhi thần định để đệ ấy nhận tổ quy tông.”
Sắc mặt Thái phi lập tức biến đổi, bất thần đứng bật dậy: “Con lại hồ đồ đến thế sao?”
Khuôn mặt trắng ngần được chăm sóc kỹ càng của bà thoắt chốc xuất hiện vài vết nhăn sâu hoắm, cánh mũi phập phồng, hiển nhiên là giận đến cực điểm.
Lục Tông Viễn chỉ mỉm cười nhàn nhạt, ung dung đáp: “Đệ ấy vốn là cốt nhục của phụ thân, là huynh đệ cùng huyết thống với nhi thần, lại phải giấu họ ẩn danh, ký thác tại nhà hạ nhân gần hai mươi năm. Nay tộc Khương đã bị tiêu diệt, phụ thân cũng không còn nữa, chẳng lẽ chúng ta còn sợ triều đình truy xét tội danh ‘cấu kết với giặc’? Dư Thiệu theo sát nhi thần hai mươi năm chinh chiến, nay lại lập công nơi biên ải, để đệ ấy nhận tổ quy tông, chẳng lẽ lại làm hổ thẹn tông môn phủ Liên vương?”
Thái phi lạnh mặt nói: “Nó mang huyết thống dị tộc, tính tình hoang dã khó thuần, ai biết sau này có gây họa gì, liên lụy đến vương phủ hay không?”
Lục Tông Viễn đáp: “Nó chỉ là một đứa nhỏ, có thể gây ra đại họa gì? Đường đường là phủ Liên vương, đến cả một tiểu thứ tử cũng bảo hộ không xong, há chẳng phải trò cười cho thiên hạ? Mẫu thân cứ yên tâm, dù có nhận tổ quy tông cũng sẽ không ghi tên dưới danh nghĩa của người. Dư Thiệu vốn do một phụ nhân người Khương sinh ra, chuyện này ai ai cũng biết, cần gì phải giấu diếm nữa.”
Thái phi tức đến thân thể lảo đảo, liên tục lặp đi lặp lại: “Ta không đồng ý! Không đồng ý!”
Lục Tông Viễn thấy gương mặt bà trắng bệch, sợ bà kích động quá mà ngã quỵ, vội định đỡ lấy, nào ngờ vết thương chưa lành, động tác vừa nhanh liền đau đến cực điểm, không nhịn được phải ngồi phịch xuống ghế, nhíu mày không nói.
Thái phi thấy vậy, cũng quên cả giận, vội sai nha hoàn đỡ vương gia nằm lên giường nghỉ. Đợi khi Lục Tông Viễn nằm ổn, sai lui đám hầu hạ ra ngoài, Thái phi lại vừa giận vừa xót, ngồi xuống mép giường, nước mắt lưng tròng mà trách mắng: “Với mẹ ruột của mình mà con cũng dám giở trò, mau thu lại cái dáng đáng thương kia đi! Việc này con đã định sẵn, còn giả bộ thương nghị với ta làm gì? Nếu hỏi ý ta, ta thà chết cũng không đồng ý. Cái đứa đó…”
Gương mặt bà hiện rõ vẻ chán ghét, đến tên Dư Thiệu cũng không muốn gọi, chỉ hạ giọng nói đầy căm hờn: “Đôi mắt nó chẳng giống người, sáng rực như dã thú. Từ bé ta nhìn thấy nó đã thấy bất an rồi.”
Lục Tông Viễn thấy Thái phi như tiểu cô nương nổi giận, vừa khóc vừa mắng, hoàn toàn là thái độ làm mình làm mẩy, cũng đành bó tay, dỗ dành đôi câu. Nhưng nói được mấy lời thì hơi thở đã bắt đầu dồn dập, môi mỏng tái nhợt cả đi.
Thái phi lúc này mới nén nước mắt, khẽ nói: “Ta biết, chuyện này chắc chắn không phải do con khởi xướng, là nó năn nỉ con, đúng không? Hừ, nó cũng khôn lắm! Lập được quân công, trở về mới dám đường hoàng đòi nhận tổ quy tông. Hừ! Cẩm Quan thành có hạ được hay không còn chưa biết, nhỡ đâu thua trận, ta xem nó còn mặt mũi nào mà trở về gặp con!”
“Trận chiến này là do phiên binh thuộc phủ Lương vương xuất chinh, nếu thua trận thì bản vương cũng chẳng được lợi lộc gì…” Lục Tông Viễn chỉ tùy tiện ứng phó với Thái phi đôi câu. Hai mẹ con đang nói chuyện, chợt thấy Triệu Sắt từ ngoài sải bước đi vào, vừa mở miệng đã nói:
“Vương gia, triều đình có chỉ dụ đưa đến. Là giám quân thái giám từ đại doanh Kế Liêu thân mang thánh chỉ đến, thỉnh Vương gia lập tức ra nghênh tiếp!”
Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Story
Chương 71
10.0/10 từ 13 lượt.
