Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu

Chương 46


Hai người vừa nói chuyện vừa quay về tẩm điện, vừa bước vào sân, đã thấy một nha hoàn khác tên là Bạch Lộ đứng dưới hiên, nháy mắt ra hiệu, vừa gọi “nương nương”, vừa bước tới gần ghé tai thưa rằng: “Phùng cô nương đến rồi, đang đợi trong gác nhỏ.”


Phương Vương Phi khẽ “ồ” một tiếng, trong lòng liền suy đoán ý đến của Ký Nhu, đi tới ngoài gác sai nha đầu vén rèm trúc, rồi bước thẳng vào trong, điềm nhiên nói: “Nơi ở của cô, ta đã sắp xếp ổn thỏa, chính là dãy phòng lợp ngói ống đằng sau Diên Nhuận đường, gồm chính phòng và phòng bên, cộng lại cũng có bảy tám gian. Ta xem vật dụng theo hầu cô chẳng nhiều, chắc là đủ dùng rồi chứ?”


Tuy là lời hỏi, nhưng khẩu khí đã hoàn toàn định đoạt. Ký Nhu biết chẳng thể trái ý, đành cúi đầu tạ ơn. Đợi phu nhân họ Phương an vị, nàng liền quỳ xuống sàn lạnh, phu nhân khẽ “ấy” một tiếng, làm bộ muốn ngăn, tay vừa đưa ra, thấy nàng dứt khoát, cũng không cưỡng ép, chỉ hỏi: “Cô làm vậy là có ý gì?”


Ký Nhu đáp: “Nương nương, xin hãy để thiếp thân làm một nha đầu hầu cận người.”


Nàng vừa nói, vừa ngẩng mặt lên, một đôi mắt u uẩn long lanh hướng thẳng về phía phu nhân. Đôi thu thủy ấy, lúc nào cũng ngập ngời nước xuân, như muốn khóc lại không khóc, sóng mắt dịu dàng mà không vướng bụi trần. Hai cổ tay thon nhỏ đặt trên đầu gối, tựa hồ được tạc bằng ngọc. Một thiếu nữ như thế, hỏi ai không thương? Ngay đến bản thân phu nhân, khi chứng kiến vương gia ôm nàng từ trên ngựa xuống, lòng chẳng nổi ghen tuông mà chỉ thấy xót xa ngưỡng mộ. Vương gia suốt năm rong ruổi bên ngoài, giữ lấy một đóa hoa biết nói như nàng bên mình, cũng là chút ấm áp trong gió sương vậy.


Nghĩ thế, phu nhân cúi xuống nắm lấy tay nàng, mỉm cười bảo:


“Cô nói lời chi lạ vậy? Trong vương phủ này, nha đầu không đến một vạn thì cũng tám nghìn, có ai từng được vương gia liếc mắt tới đâu? Nếu để cô làm nha hoàn, chẳng phải là ủy khuất lắm sao? Vương gia còn trách ta nữa là khác.”


Phu nhân vốn không phải người ác độc, lời ấy cũng là thật lòng. Ký Nhu khẽ chớp mắt, hàng lệ liền rơi. Nàng rúc mặt vào đầu gối phu nhân, nghẹn ngào nói: “Nương nương, thiếp thân có lời muốn thưa, lại không dám nói…”


Phu nhân thấy lời này hàm ý sâu xa, liền ra hiệu cho Hồng Hạnh, Bạch Lộ cùng các nha đầu lui xuống, đoạn ôn hòa nói: “Có uất ức gì, cô cứ nói. Vương gia là nam tử, tâm tư cạn cợt, cô nói cho ta nghe, có khi ta còn giúp được phần nào.”



Ký Nhu lau lệ, vai khẽ run, chậm rãi nói: “Thiếp… thiếp không muốn theo vương gia. Khi còn ở Kim Lăng, từng có người đính hôn cùng thiếp. Trước ngày cưới, nhà ấy gặp nạn, cả gia đình bị giết. Từ đó thiếp đã thề trước Phật, đời này quyết không lấy ai. Với vương gia, thiếp đã cầu xin mấy lần… nay đành nhờ nương nương làm chủ.”


Phu nhân khẽ giật mình, không ngờ nàng lại có đoạn quá khứ như thế. Trong lòng phu nhân vẫn cho rằng thiên hạ này có ai mà không hướng lòng về vương gia? Người vừa tuấn nhã ôn hòa, vừa thân phận tôn quý. Vì vậy, lời nàng nói khó tránh khiến bà nửa tin nửa ngờ, nhưng nhìn thần sắc nàng, lại thấy hoàn toàn chân thật. Phu nhân đắn đo, vừa xoa tóc nàng vừa thở dài: “Cô… than ôi, cô nương với vương gia đã thành ra thế này, sao còn nghĩ tới người xưa được?”


Ký Nhu lắc đầu, nước mắt lăn dài, nghẹn ngào lặp lại: “Thiếp không lấy chồng.”


Phu nhân thấy nàng cố chấp đến độ có phần ngốc nghếch, liền buông được nỗi ưu phiền trong lòng, nghĩ thầm: Dù thật hay giả, lời này nàng đã nói ra, sau này có hối hận cũng không dễ gì thay đổi. Huống hồ xem ra vương gia cũng chẳng mấy mặn mà với nàng… Nghĩ đến đây, bao nhiêu phiền não những ngày qua như mây tan khói nhạt.


Phương thị đích thân đỡ nàng dậy, làm ướt khăn tay đưa cho nàng, mỉm cười an ủi: “Nói gì mà trẻ con thế. Dù cô có muốn thành thân, lúc này cũng đâu thể gả đi được? Cứ tạm yên ổn mà ở lại đây. Nếu thật lòng không muốn, thì cứ nghe ta, chờ thêm ít lâu, khi vương gia lại ra ngoài, ta sẽ làm chủ thả cô đi. Về lại Kim Lăng hay tìm chốn yên thân ở Yến Kinh, đều tùy cô chọn, chẳng ai ép cô ở lại, được chứ?”


Ký Nhu áp khăn lên mắt, tức thì mỉm cười trong nước mắt, liên tục gật đầu.


Phu nhân thở dài, trong lòng âm thầm trách móc vương gia: Nam nhân luôn là phường bá đạo, thấy cô gái đẹp liền đoạt về, không cần hỏi ý. Đường đường là Lương vương, thiếu gì nữ nhân, sao cứ phải ép buộc người ta? Tự nhiên trong lòng càng thêm thương xót Ký Nhu, liền nói tiếp: “Có điều, mấy ngày này cô vẫn phải chịu thiệt chút. Vương gia tuy bề ngoài ôn hòa cười cợt, nhưng tính khí thật sự chẳng dễ gì, người trong phủ thường gọi ngài là ‘Tuấn diện Diêm La’ đấy! Cô chớ có chọc giận ngài, cứ an phận mà ở, cùng lắm một năm rưỡi sau là có thể rời đi.”


Ký Nhu nghe bà nhắc đến Lương vương, giọng tuy trách móc nhưng lại mang ý thân thiết, mắng mỏ mà chẳng giấu niềm tự hào, trong lòng liền lạnh lùng cười thầm. Song trên nét mặt lại là vẻ cảm kích khôn xiết, khiến phu nhân càng thêm thương cảm, đến mức đích thân thề hứa không giữ nàng lại.


Ký Nhu lại quỳ xuống lạy mấy cái, rồi cáo từ bước ra khỏi tẩm điện. Đúng lúc ấy, ánh tà dương cuối cùng cũng khuất sau mái ngói thú dữ giương nanh, bóng tối phủ khắp, vòm trần sơn vàng óng ánh cũng nhạt phai màu sắc, dần trở nên u tối ảm đạm. Cả vương phủ này, như một con thú nằm phục trong bóng đêm, chực chờ nuốt chửng nàng. Một luồng lạnh buốt lan khắp thân thể, Ký Nhu rùng mình ôm lấy hai vai, bước vội ra ngoài. Đi được mấy bước, chợt sực nhớ, nàng vẫn chưa biết dãy phòng lợp ngói ống mà phu nhân nói đến ở nơi nào.


Đang lúc bối rối, thì một tiểu nha đầu cầm đèn dầu chạy tới, nói: “Phùng cô nương, nô tỳ đưa người đến nơi ở.”



Ký Nhu cảm ơn, hai người trước sau lặng lẽ bước đi. Ký Nhu thì trầm mặc một mạch, nha đầu kia tự mở lời giải thích: “Hồi nãy Hồng Hạnh tỷ bảo nô tỳ dẫn đường, nhưng vì Châu tiểu gia lại đi lạc, cả phủ nháo nhào tìm người, nên mới quên mất chuyện này.”


Ký Nhu chậm rãi hỏi lại: “Là tiểu thế tử trong phủ sao?”


“Không phải thế tử, nhưng cũng sắp rồi! Dưới gối nương nương chỉ có mỗi một công tử ấy, năm nay vừa tròn tám tuổi, vài năm nữa chắc chắn sẽ được phong làm thế tử thôi.”


Ký Nhu đưa mắt nhìn con đường nhỏ phía trước, từ rộng đến hẹp, kéo dài bất tận, lòng như có nghìn tơ vạn mối, bèn hỏi bâng quơ: “Đã thân phận quý trọng như vậy, sao không có bà vú theo hầu? Cứ để trẻ con đi lạc thế à?”


Tiểu nha đầu đáp: “Có bà vú theo sát cũng vô ích, sao theo kịp được bước chân của cậu ấy? Chỉ sơ sẩy một chút là đã chẳng thấy bóng dáng đâu rồi.” Đoạn lại than, “Vả lại, Vương gia quanh năm không ở trong phủ, một năm mười hai tháng cũng chẳng gặp được mấy lần. Vương phi lại nghiêm khắc, ngày ngày ép cậu ấy học hành viết chữ, cho nên tính tình cũng trở nên kỳ quặc lắm, vừa nhút nhát, lại chẳng thích chuyện trò với ai.”


Có lẽ vì từng nhiều phen bị phạt vì việc công tử Mậu thường xuyên đi lạc, nên mỗi lần nhắc đến là trong lời nói của tiểu nha đầu không giấu nổi oán khí, cứ thế nói mãi trên đường. Bỗng nhiên nàng ta “ối” một tiếng, kêu lên: “Châu tiểu gia !”


Ký Nhu cũng bất giác khựng bước, thấy nha đầu kia buông tay thả chiếc đèn sừng dê vào tay nàng, rồi chạy vội về phía trước một đoạn tường son ngói vàng. Trên cửa sổ hoa đục lỗ nơi tường, có một đôi tay nhỏ đang bám lấy mép cửa, phía sau là một đôi mắt đen lay láy, đang nhìn chằm chằm về phía Ký Nhu. Nghe tiếng gọi, tiểu thiếu niên dường như giật mình, vội vàng buông tay khỏi cửa sổ, quay đầu bỏ chạy. Chạy được mấy trượng, đến bên một bụi phượng tiên, lại len lén quay đầu nhìn lại, dùng ánh mắt nhút nhát nhìn về phía Ký Nhu, tiện tay ngắt một nắm hoa rồi lại phóng đi.


Tiểu nha đầu sốt ruột muốn bắt kịp Mậu ca, liền nhét đèn vào tay Ký Nhu, nói: “Cô cứ theo đường này đến Diên Nhuận đường, hậu điện Diên Nhuận đường bên tay trái chính là dãy phòng mái lợp dạng lục, Vương phi nói dành cho cô ở. Diên Nhuận đường dễ nhận ra lắm, nơi nào có thị vệ cầm đao đứng gác thì chính là nó đấy.”


Ký Nhu đứng tại chỗ nhìn một lát, thấy Mậu ca và tiểu nha đầu đã đuổi nhau chạy xa khuất hẳn, lúc này mới giơ đèn lên, chậm rãi bước về phía Diên Nhuận đường.


Quả nhiên nơi ấy vô cùng dễ nhận ra, bởi khắp vương phủ cũng chỉ có chỗ này là đèn đuốc sáng trưng, chưa đến gần đã nghe trong không khí tràn ngập sự tĩnh lặng nghiêm cẩn, đủ biết là nơi người ngoài không được tùy tiện vào. Ký Nhu lần theo ánh đèn nơi hậu điện, men theo tường đi tới, mới vừa rẽ qua góc cửa liền thấy có một bóng người đang đứng đó, tựa vào khung cửa ngó nghiêng hai bên. Bất chợt người ấy vui mừng kêu lên: “Tiểu thư!”



Ký Nhu thoáng giật mình, thấp giọng gọi lại: “Vọng Nhi?”


“Chính là nô tỳ đây, tiểu thư.” Vọng Nhi từ trong bóng sáng bước ra, vẻ mặt hân hoan cảm kích.


Ký Nhu thoạt tiên còn ngẩn người, đợi đến lúc định thần lại thì nghĩ thầm: Dẫu sao có một người quen vẫn hơn không có ai, dù cho trong phủ này, dù quen hay lạ thì cũng đều là người của Vương gia cả. Nghĩ rồi liền khẽ mỉm cười với Vọng Nhi. Nào ngờ Vọng Nhi lại nhớ tới chuyện ở phủ họ Từ, bèn rụt cổ cúi đầu, chẳng dám nói gì nữa, chỉ lặng lẽ theo nàng vào trong.


Cả dãy phòng này, có lẽ là nơi các đời Lương vương trước dùng làm chỗ nghỉ sau khi xử lý công vụ. Riêng thành một viện, có cửa góc thông ra hậu điện Diên Nhuận đường. Chính phòng bỏ trống, chỉ bày bình phong và ghế lớn. Hai bên có chừng bốn năm gian phòng phụ, gian phía đông mà Ký Nhu được dẫn vào, cổ cầm, tranh họa, hương liệu, đồ chơi bằng ngọc… đều đã được bày biện chu tất. Quang cảnh tựa như lúc còn ở trong phủ họ Từ, chỉ khác là: cửa phủ đã thành cửa vương, viện càng sâu, lòng người càng khó dò.


Vọng Nhi lặng lẽ quan sát, thấy ánh mắt Ký Nhu trôi dạt, liền đoán nàng đang nhớ chuyện cũ nơi phủ họ Từ, nên cũng chẳng dám lên tiếng nhiều, chỉ yên lặng hầu hạ nàng rửa mặt chải đầu. Đến khi Ký Nhu đã vào màn, Vọng Nhi mới khẽ khàng nói: “Tiểu thư, Vương gia đối với người thật tốt. Chẳng qua là sợ cô vào phủ không quen ai, cho nên mới gọi nô tỳ từ Kim Lăng lên Kinh thành đấy.”


Ký Nhu mỉm cười: “Là Vương gia đích thân nói với ngươi, hay là ngươi tự đoán vậy?”


Vọng Nhi ngượng ngùng cười đáp: “Là… nô tỳ đoán đấy ạ.” Nói đoạn, lại thấy vẻ mặt cô nương nhà mình chẳng có chút nào gọi là vui vẻ, liền cụp mi, toan buông móc ngọc hạ màn thì thấy nàng lại ôm chăn ngồi dậy, nghiêng đầu hỏi: “Phủ họ Từ giờ ra sao rồi?”


Vọng Nhi đã đoán trước thế nào nàng cũng hỏi, gần ngừ một thoáng rồi mới đáp: “Đã bị định tội mưu nghịch. Nữ quyến đều bị đưa vào giáo phường, nam đinh trên mười lăm tuổi đều bị xử trảm…” Mới nói đến đó đã thấy sắc mặt Ký Nhu tái nhợt, lệ không trào mà mặt đã như tro tàn, bèn vội nói thêm: “Tam gia! Tam gia may mắn không chết. Hôm phủ bị xét, người đã không có ở đó. Tới giờ vẫn chưa tra ra tung tích.”


Ký Nhu khẽ thở phào, run run nói: “Ừm… ta biết rồi.” Rồi nàng tự tay buông màn, úp mặt vào gối, kìm nén tiếng nấc, âm thầm rơi lệ một trận.


Lúc này, Triệu Sắt đang ở trong điện Diên Nhuận, đem chuyện hậu sự của phủ họ Từ kể lại với Lục Tông Viễn một lượt tường tận. Khi nhắc đến việc Từ Thừa Ngọc mất tích, thần sắc y lộ vẻ phẫn nộ, liền nói với Lục Tông Viễn: “Chuyện này, tám chín phần là do thế tử phủ Khánh vương làm ra. Việc phủ họ Từ mưu nghịch, trước đó chẳng phải Khánh vương gia đã được tin rồi sao? Có khi tin tức đã truyền tới tai thế tử.”



“Mười phần thì có đến tám chín phần là hắn,” Lục Tông Viễn gật đầu, thong thả nói, “Tống Hải người này chẳng có bản lĩnh gì, duy có một điểm là trọng tình nghĩa.”


Triệu Sắt vẫn canh cánh chuyện cũ giữa y và Thừa Ngọc liền vội nói: “Vậy vương gia định cứ thế bỏ qua cho Từ Tam ư?”


“Cùng đường đừng đuổi tận,” Lục Tông Viễn thản nhiên đáp, “Bản vương và hắn không thù không oán, cần gì phí công làm gì? Cứ để mặc hắn đi thôi.”


Triệu Sắt có chút thất vọng, chỉ đành đáp “vâng” một tiếng, toan lui ra. Không ngờ vừa xoay người, chợt nghe Lục Tông Viễn khẽ cười lạnh một tiếng, vội đứng khựng lại, quay đầu nhìn thấy Lục Tông Viễn phất cổ tay, một mảnh thư tín bay rơi xuống đất. Hắn ta chống trán, lộ vẻ phiền muộn vô hạn.


Triệu Sắt trong lòng khó tránh khỏi tò mò, thấy thần sắc Lục Tông Viễn chẳng quá nghiêm trọng, bèn bước lên nhặt thư tín lên, quét mắt một lượt, chợt “ồ” một tiếng: “Chỉ vì một nữ nhân cướp được bị người khác ngủ qua, liền động sát tâm giết người? Nghe nói tướng quân Tiêu nghiêm trị quân kỷ, chẳng lẽ cũng sẽ tha mạng cho hắn?”


Lục Tông Viễn khẽ lắc đầu: “Tiêu Trạch không có gan lớn đến thế ,bởi vậy mới đích thân viết thư xin chỉ thị ta nên nặng tay hay nhẹ tay trừng phạt.”


Chàng vừa trầm ngâm, vừa dùng đốt ngón tay gõ nhẹ lên án thư hai tiếng “cốc cốc”, đoạn nói: “Ngươi thay ta hồi thư cho Tiêu Trạch.”


Triệu Sắt vâng lời một tiếng, liền ngồi xếp bằng trên đất, trước mặt đặt một chiếc kỷ nhỏ, cầm bút đợi lệnh.


Lục Tông Viễn chậm rãi nói: “Giết người thì đền mạng, là lẽ trời đất. Nhưng nay đại chiến sắp tới, vừa nổ ra huyết án e sẽ khiến quân tâm chao động. Bên chỗ Dư Thiệu, đánh cho hắn một trăm quân côn. Nếu chịu đòn xong vẫn còn sống, thì để hắn tiếp tục ra trận. Nếu chịu không nổi, thì đem xác hắn về cho ta.”


Triệu Sắt nghe đến câu cuối, giọng điệu Lục Tông Viễn ẩn hàm sát khí. Trong lòng thót lên một cái, liền vội vàng viết mấy dòng, nhanh chóng niêm lại. Ngẩng đầu nhìn ra cửa sổ, chỉ thấy bóng đêm đen đặc, vạn vật tĩnh mịch. Lại nghĩ đến lúc chạng vạng chính mắt mình thấy Lục Tông Viễn đưa Phùng Ký Nhu cùng trở về, nếu cứ dây dưa mãi ở đây, sợ sẽ bị đuổi thẳng ra ngoài. Bèn cười hì hì một tiếng, nói: “Thuộc hạ cáo lui, vương gia cũng nên nghỉ ngơi sớm…”


Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu Story Chương 46
10.0/10 từ 13 lượt.
loading...