Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Chương 12
Ký Nhu khẽ run hàng mi, chậm rãi mở mắt. Cả người tựa như mang nặng ngàn cân, tay chân tê dại không sao nhúc nhích nổi. Nàng đảo mắt, nhìn thấy phía trên đầu là một tấm màn giường màu lam biếc vô cùng quen thuộc, móc bạc treo lủng lẳng một chuỗi tơ dài, nơi đó gắn một viên hương cầu bằng ngà điêu khắc tinh xảo, to bằng quả hồ đào. Dưới giường trải ra đến tận cửa sổ là một bộ bàn ghế tử đàn đồng bộ.
Ký Nhu khẽ mấp máy môi, cổ họng khô khốc không phát ra được tiếng, nàng gắng gượng đưa tay ra, nắm lấy viên hương cầu bằng ngà khắc rỗng mà lắc nhẹ một cái.
Người kia “phịch” một tiếng, đánh rơi chiếc khay sơn đỏ trong tay xuống đất, vội vã lao tới mép giường. Ánh mắt tha thiết dừng lại trên khuôn mặt Ký Nhu, chưa kịp mở miệng, nước mắt đã tuôn như suối. Bà cúi xuống ôm chầm lấy nàng, vừa khóc vừa nói: “Tiểu thư, tiểu thư ngoan của ta, con thật sự tỉnh rồi sao!”
Ký Nhu như đang mơ màng, cảm nhận được hơi thở quen thuộc, ấm áp của vú Đỗ ngay bên mũi, nàng ngờ vực hỏi: “Bà vú?”
Vú Đỗ nghẹn ngào gật đầu: “Là vú ! vú đã ở bên con ba ngày rồi, nếu con không tỉnh lại, e rằng ta cũng theo con mà đi mất thôi!”
Ký Nhu đưa mắt nhìn quanh, dò xét bốn phía một cách lưỡng lự, rồi hỏi: “Bà vú, con chết rồi phải không? Con nhớ đây là đạo quán Tê Hà, nhưng rõ ràng trước đó con vẫn còn ở trong đại doanh của quân Chu…”
“Suỵt, đừng nói nữa.” Vú Đỗ nhẹ nhàng lấy tay che miệng nàng lại, khẽ đỡ nàng nằm xuống giường. Vì vết thương nơi ngực trúng tên, sắc mặt nàng trắng bệch, lúc này nằm ngơ ngác bất động, gương mặt nhợt nhạt nổi bật giữa mái tóc đen nhánh, hệt như con búp bê lụa, mỏng manh ,yếu ớt đáng thương. Vú Đỗ nghẹn ngào, nước mắt không ngừng rơi, lấy tay áo lau khoé mắt, dịu dàng nói: “Tiểu thư ngoan, con chưa chết, còn sống đó. Nhưng ba ngày nay, làm vú sợ đến chết đi được.”
Ký Nhu nhìn kỹ lại, quả thật không giống mộng cảnh, bởi gương mặt bà vú đã không còn giống như lần gặp cuối. Trước kia bà vốn đầy đặn, trắng trẻo, nay thì gầy rộc, đôi hốc mắt hõm sâu, chỉ có lòng bàn tay vẫn ấm như xưa.
Ký Nhu kéo tay bà lại, khẽ áp lên má mình mà lưu luyến v**t v*, hỏi:
“Bà vú, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy? Con nhớ là mình đã trúng tên…”
Vú Đỗ nhẹ giọng đáp:
“Tiểu thư ngoan, con bị thương nặng, chớ nói nhiều. Nằm yên nghe vú kể, khi trước ở trong rừng, ngựa bị kinh hoàng, con bị hất văng khỏi xe ngựa, ta và Yến Vũ cũng bị ngựa lôi theo lăn xuống núi. Tỉnh lại thì chẳng thấy con đâu. Ta và Yến Vũ liều mạng đi tìm, lục tung các thôn làng trong vòng trăm dặm quanh Phổ Dương, cũng không tìm ra con. Sau cùng đành quay về Trấn Định, định cầu lão gia xuất binh tìm kiếm. Ai ngờ đến dưới chân núi Tê Hà thì nghe tin quân Chu vây thành. Hai chúng ta bèn trốn trong đạo quán, nhờ đạo sĩ dò la tin tức, lại nghe nói trong quân Chu có một cô nương còn trẻ, xinh đẹp như tiên nữ… Ta liền biết, nhất định là tiểu thư ta, rơi vào tay đám giặc Chu thất đức đó rồi.”
Ký Nhu khẽ đặt tay lên ngực, vết thương được băng bó kỹ càng, nàng không dám động, chỉ hơi nhích là cơn đau nhói đã truyền khắp tứ chi, hô hấp trở nên gấp gáp. Nàng rưng rưng, nhẹ giọng hỏi: “Là Yến Vũ bắn trúng con sao?”
“… Là ta bảo Yến Vũ bắn.” Bà vú lệ đầy mặt, lòng đau như dao cắt, nhưng sợ làm lạnh lòng nàng, đành cố nặn ra một nụ cười:
“Tiểu thư đừng trách bà già này. Lúc đó… ta thà thấy con chết sạch sẽ còn hơn để người khác bôi nhọ làm nhục… Nhưng khi Yến Vũ kéo con về bằng ngựa, ta thấy con mình máu me đầy người, mặt trắng như giấy, hơi thở thoi thóp, ta hối hận. Con là đứa ta ôm từ khi vừa chào đời, cho con bú, dỗ con ngủ, ta sao nỡ lòng bỏ con? Là ta hồ đồ! Một đứa con gái ngoan ngoãn như vậy, sao lại phải chết? Nếu có kẻ đáng chết, thì là cái tên thế tử họ Lục kia mới phải! Chính hắn hại tiểu thư ta ra nông nỗi này…”
Thế tử của Lương vương? Phải rồi, nhất định là hắn… Ký Nhu nhớ rõ binh lính thường gọi hắn là tướng quân, Dư Thiệu thì gọi hắn là công tử, còn trên chiến trường, vị tướng họ Tiêu kia từng xưng hô với hắn là “thế tử”. Vừa nghĩ đến Lục Tông Viễn, thân thể nàng bỗng cứng lại, nét mặt trở nên vô hồn, chỉ có hơi thở dồn dập, lồng ngực phập phồng, khiến vú Đỗ nhìn mà lo cuống cuồng, sợ nàng sinh tâm ma chướng, bèn ghé sát tai nàng, vội vã dặn dò:
“Tiểu thư, ta đã giúp thay con thay y phục rồi, cũng đã xem qua con…” Bà ngập ngừng, cố nén nước mắt, thì thào: “Con vẫn còn trong trắng. Những chuyện trước đây, coi như một cơn ác mộng, hãy quên hết đi. Đợi chúng ta tới Kim Lăng, gặp nhị phu nhân, để người làm chủ, lựa cho con một người thành thật, biết yêu thương, cưới về làm rể hiền, mọi sự rồi sẽ ổn cả.”
Ký Nhu vốn vẫn mở trừng mắt, nay chợt chớp khẽ, hai hàng lệ lặng lẽ lăn dài từ khoé mi. Đầu nàng khẽ xoay trên gối, nhẹ giọng nói: “Bà vú, con không muốn lấy chồng nữa. Chúng ta cứ ở lại đạo quán này, sống thanh tĩnh qua ngày là được rồi.”
“Không được!” vú Đỗ lau vệt nước nơi khoé mắt nàng, nghiêm mặt lại:
“Con không những phải lấy chồng, mà còn phải lấy một cách đàng hoàng chính chính! Bằng không, bà già này biết ăn nói thế nào với lão gia và phu nhân dưới suối vàng?”
Tim Ký Nhu như bị ai bóp chặt, phải mất một lúc lâu mới hồi thần, khẽ hỏi: “Cha… mẹ…”
“Bà vú!” Giọng Yến Vũ bỗng vang bên ngoài cửa sổ, dường như hắn đứng dưới đó nghe rất lâu, giọng nói không lộ vẻ kinh ngạc, mà rất bình tĩnh, “Tiểu thư còn chưa bình phục, những chuyện này để sau hãy nói, đến Kim Lăng rồi tính.”
Vú Đỗ sa sầm nét mặt, hướng ra ngoài cửa quát một tiếng :“Tiểu thư đã lớn, phải hiểu chuyện rồi. Nếu vẫn mơ hồ như trước, ai biết sẽ còn chịu thêm bao nhiêu thiệt thòi?”
Rồi bà xoay lại, kéo chăn đắp cho Ký Nhu, vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán nàng, lộ ra đôi mắt ngập nước, mỏng manh như sắp vỡ. Vú Đỗ nhìn thẳng mắt nàng, chậm rãi nói: “Tiểu thư, con hôn mê ba ngày nên không biết, thành Trấn Định đã bị quân Chu công phá. Lão gia trấn thủ cổng thành suốt một ngày một đêm, cuối cùng trúng tên lạc. Sau khi quân Chu vào thành, thế tử Lương vương thả binh cướp bóc ba ngày liền. Nghe dân chạy nạn kể lại, phu nhân đã châm lửa thiêu thân, cùng cả phủ họ Phùng chìm trong biển lửa…”
Nghe xong, mặt Ký Nhu tím ngắt, cổ họng như bị ai bóp nghẹn. Bà vú hoảng hốt, vội vã xoa mạnh sau lưng nàng, đến khi nàng bật khóc nức nở, gục đầu vào ngực bà òa lên thì mới yên tâm.
Vú Đỗ nghĩ đến Phùng phu nhân, càng thêm buồn khổ, nhưng vì lo cho sức khoẻ của tiểu thư, bà chỉ dịu dàng vỗ về đầu nàng, vừa an ủi vừa dỗ dành: “Khóc đi! Khóc hết nước mắt rồi, sau này sẽ không còn điều gì khiến con đau lòng nữa. Quân Chu hiện đang mải lo đồ sát trong thành, chưa rảnh đi lục núi. Đợi con khoẻ lại, ta sẽ dẫn con lập tức xuống phía Nam về Kim Lăng. Ta đã lập mộ cho cha mẹ con trên núi rồi, con chỉ cần dâng hương một nén, coi như trọn đạo làm con. Từ nay, con sẽ sống cùng bà bà, chúng ta sẽ không bao giờ quay lại Trấn Định nữa!”
Bà vú và Yến Vũ ở lại trên núi cùng Ký Nhu thêm mười ngày. Trong đạo quán, khi quân Chu vây thành, đạo sĩ phần lớn đều đã trốn chạy, chỉ còn lại vài người. Một là nhớ đến ân huệ bố thí năm xưa của nhà họ Phùng, hai là kính trọng vợ chồng Phùng thị đã vì bảo vệ thành mà cam tâm tuẫn tiết, cho nên thường xuyên xuống núi dò la tin tức cho ba người họ, tuyệt nhiên không tiết lộ hành tung của Ký Nhu.
Nửa tháng sau, trụ trì Đạo quán được Tiêu Trạch mời xuống thành Trấn Định làm pháp sự thủy lục ba ngày để siêu độ vong linh trong thành. Mới hết một ngày, ông ta đã vội tìm cớ quay lại núi, nói với Yến Vũ:
“Trong thành đã dán cáo thị, hình như đang tìm tiểu thư nhà họ Phùng. E là chẳng bao lâu nữa sẽ lục soát lên tận núi. Các người nên lập tức khởi hành thì hơn. Mộ phần của Phùng đại nhân và phu nhân, cứ để đạo sĩ trong quán lo liệu chăm nom, khỏi cần bận tâm.”
Yến Vũ bàn bạc lại với vú Đỗ, thấy thương thế của Ký Nhu đã đỡ hơn nhiều, miễn cưỡng có thể lên đường, bèn đem con ngựa buộc vào một chiếc xe cũ trong đạo quán, thu xếp chút hành lý, chuẩn bị xuống núi.
Ký Nhu sau lần bị thương người gầy hẳn đi, tưởng chừng một cơn gió cũng đủ cuốn bay. Nàng soi gương tự mình chải mái tóc dài đen nhánh thành một bím buông qua vai, trong mặc áo vải thô sát người, ngoài khoác xiêm áo thường dân. Đợi khi Yến Vũ sửa soạn xe xong, nàng vịn khung cửa, ngoái nhìn lại đạo quán một lượt, thấy hoa đào đã rụng hết, trên cành chỉ lác đác vài quả xanh non núp dưới lá, trong lòng không khỏi bâng khuâng. Nàng khẽ nói:
“Bà vú, đưa con đi thắp cho cha mẹ nén hương nữa nhé.”
Vú Đỗ đồng ý, bèn xin quán chủ nửa vò rượu chay, một bó nhang, dẫn Ký Nhu theo tiểu đạo l*n đ*nh núi. Sau tảng đá lớn, tìm đến phần mộ của vợ chồng Phùng Nghi Sơn, đổ đầy rượu vào chén, rưới lên trước gió, vừa lau lệ vừa khấn rằng: “Lão gia, phu nhân, tiểu thư nhà ta nay phải rời đi rồi! Sau này triều đình xuất binh đánh đuổi bọn giặc Chu, lão thân nếu còn cử động được, sẽ cùng tiểu thư mang các người về an táng ở tổ phần nhà họ Phùng. Giờ hai người cứ an nghỉ nơi này, trên núi nhìn xuống phong cảnh Trấn Định ta! Phu nhân, nơi suối vàng, xin người phù hộ cho tiểu thư nửa đời sau được bình an vô sự!” Vừa nói, nước mắt lã chã rơi.
Ký Nhu cũng òa lên khóc, thắp hương, dập đầu ba cái, lạy thêm mấy lạy, thổn thức nói: “Cha, mẹ, nếu các người linh thiêng trên trời, xin hãy phù hộ cho con báo được mối thù này. Sau khi báo thù, con sẽ tìm một ngôi chùa, xuất gia làm ni, cả đời tụng kinh độ vong, siêu độ oán linh cho cha mẹ.”
“Tiểu thư!”
Dụ thị nghe nàng xưa nay ít nói, nay đột nhiên thốt ra lời bi thương đến vậy, hoảng hốt tái mặt, vội đưa tay bịt miệng nàng, khẽ trách: “Lời trẻ dại! Để gió cuốn đi hết!”
“Vâng, chỉ là lời bâng quơ thôi mà”.
Bà vú đừng lo.Trong mắt Ký Nhu lại thấp thoáng ý cười, khiến Dụ thị càng thêm thấp thỏm bất an. Chỉ nghe nàng lại khẽ thở dài: Núi cao sông rộng, trời đất bao la, con có tài cán gì mà báo được mối thù này đây…”
Bái biệt cha mẹ xong, Ký Nhu ngoái nhìn thành Trấn Định dưới chân núi một lần cuối. Trên thành đã đổi sang cờ của nước Chu, hàng liễu rủ bên sông hộ thành mà nàng từng ngắm nhìn không biết bao nhiêu lần, chắc vẫn xanh um tươi tốt. Nhưng hoa viên nhà họ Phùng trong phủ thành thủ, nay đã thành tro bụi, cũng như hai người chủ nhân của nó, đều đã về cõi thiên thu.
Tàn nắng chiều rọi lên vách đá ngàn trượng, mây đỏ muôn sắc: tầng tím, tầng lam, tầng hồng, điểm xuyết ánh vàng, đẹp đến lạ kỳ. Gương mặt trắng như ngọc của Ký Nhu đượm trong ánh tà dương, dịu dàng như tranh vẽ. Chỉ có dáng hình mảnh mai nghiêng ngả kia, phảng phất như tiên tử sắp theo gió mà đi.
Vú Đỗ giật mình, vội kéo tay nàng ôm vào lòng, giục giã: “Tiểu thư, trời sắp tối rồi, không khởi hành sẽ chậm trễ mất ”
Ký Nhu thở ra một hơi, nói: “Được rồi, mình đi thôi.”
Về lại đạo quán, Ký Nhu cáo biệt quán chủ, cùng vú Đỗ lên xe ngựa. Yến Vũ nhảy lên càng xe, vừa định vung roi, bỗng khựng lại. Bà vú những ngày qua đã quen đề phòng thấp thỏm, vội mở cửa xe hỏi: “Lại chuyện gì nữa đấy?”
Vú Đỗ lập tức dang tay che chắn trước Ký Nhu. Yến Vũ đứng cách đó một đoạn, giải thích: “Là dân chạy nạn được đạo quán thu nhận, mấy hôm nay cứ bám lấy ta đòi theo về Giang Nam.”
Người đàn bà kia vẫn cố len vào sau lưng bà vú, miệng không ngừng gọi: “Muội ngoan! Ta là tỷ Đoan Cô của muội đây! Lúc ở Phổ Dương, ta đã cứu muội mà!”
Triệu Đoan Cô! Ký Nhu nhìn kỹ lại, thấy khuôn mặt kia bị tro bụi làm đen kịt, nhưng đôi mày rậm kia, đôi mắt ngấn lệ ấy, đúng là người quen năm xưa. Chỉ là cây trâm bạc mà nàng ta luôn cầm trong tay định dùng để tự vẫn nay chẳng thấy nữa, nàng ta vẫn còn sống, vậy thì cây trâm ấy, chẳng lẽ đã đâm vào mắt một kẻ đàn ông nào rồi sao? Ký Nhu ngẫm nghĩ một lúc, rồi khẩn cầu bà: “Vú ơi, chúng ta cho tỷ ấy đi cùng nhé.”
“Không được!”
Vú Đỗ quay lưng về phía Triệu Đoan Cô, khẽ ra hiệu bằng mắt cho Ký Nhu, bảo nàng để ý bụng dưới của cô ta. Triệu Đoan Cô thì cứ nhảy nhót loạn xạ, không mảy may kiêng dè, nhưng hai tay lại luôn ôm chặt lấy bụng. Ký Nhu thì không hiểu, còn bà vú sao lại không rõ, bèn ghé vào tai nàng, thì thầm:
“Tiểu thư, cô ta… có mang rồi.”
Ký Nhu nghẹn lời. Triệu Đoan Cô cũng nhận ra sự khác thường, động tác khựng lại, quay mặt đi, Ký Nhu lại chợt bắt gặp trong mắt nàng ta ánh nhìn đầy xấu hổ, vô lực và đau đớn. Thấp thoáng ánh nước, chính là lệ.
Vú Đỗ thấy Ký Nhu cứ chăm chăm nhìn về phía Triệu Đoan Cô, trong lòng càng sốt ruột, vừa dùng ánh mắt giục Yến Vũ đánh xe, vừa thì thầm bên tai Ký Nhu: “Tiểu thư, chuyện ở Phổ Dương cô ta đều biết hết, mang cô ta về Kim Lăng, nếu lỡ miệng một câu, thì ở phủ Định Quốc công chúng ta còn sống nổi nữa không?”
Ký Nhu khựng lại, rồi nói:
“Tỷ ấy sẽ không nói đâu. Khi ở Phổ Dương, tỷ ấy đã cứu con. Ta với muội muội tỷ ấy, sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm…”
Triệu Đoan Cô đột ngột ngẩng đầu, mắt rưng rưng nhìn Ký Nhu. Rồi nàng ta ôm mặt, “phịch” một tiếng quỳ ngồi dưới đất, vừa mắng, vừa khóc nức nở:
“Muội muội đáng thương của ta! Con bé bị lũ giặc Chu khốn nạn làm hại mà chết rồi… Nó mới có mười bốn tuổi thôi… Đám lang sói súc sinh ấy, ta phải băm chúng thành trăm mảnh…”
Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Đánh giá:
Truyện Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu
Story
Chương 12
10.0/10 từ 13 lượt.
