Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
Chương 38: Điện hạ chỉ cần dọa ta là được rồi!
Trong phòng, ánh nến sáng rực chiếu lên khuôn mặt của Kỷ Vân Hành, làm mờ đi nét yếu đuối thường ngày của nàng.
Từ góc nhìn của Vương Huệ, nàng mặc áo gấm, dáng đứng thướt tha, mái tóc dài được chải thành búi tinh xảo, trên đầu chỉ cài một cây trâm vàng.
Vương Huệ vẫn còn nhớ cây trâm vàng đó, đó là thứ mà hai năm trước con gái bà ta đã cướp từ tay Kỷ Vân Hành.
Vương Huệ hiểu rõ con mình, biết rằng Kỷ Doanh Doanh vốn không thích cây trâm vàng đó mà chỉ vì muốn chiếm lấy đồ vật từ tay Kỷ Vân Hành mà thôi.
Sau khi cướp được cây trâm vàng về tay, Kỷ Doanh Doanh cũng vứt nó vào một xó không quan tâm đến, trâm vàng không được bảo dưỡng cẩn thận suốt hai năm vốn đã trở nên cũ kỹ. Nhưng ai ngờ, cây trâm vàng mà Kỷ Vân Hành cài trên đầu lúc này vẫn còn sáng mới, lấp lánh trong ánh sáng như hai năm trước.
Kỷ Vân Hành dường như đã thật sự trưởng thành.
Nàng không còn là đứa trẻ từng nắm chặt vạt áo của Bùi Vận Minh, rụt rè núp sau lưng mẹ rồi lại lén lút thò nửa cái đầu ra để ngắm nhìn thế giới xung quanh nữa.
Kể từ sau khi Bùi Vận Minh rời khỏi trần thế, Kỷ Vân Hành ở trong Kỷ gia chỉ như một người vô hình, có cũng được mà không có cũng chẳng sao.
Trong lòng Vương Huệ từ lâu đã quyết định nuôi thả nàng, để mặc nàng tự sinh tự diệt.
Mỗi ngày ba bữa cơm được người hầu đưa đến tiểu viện, thỉnh thoảng có người đến báo cáo tình hình với bà ta.
Dù Kỷ Vân Hành đã cẩn thận hết mức, không thường xuyên ăn đồ ăn bên ngoài, nhưng có lúc cơm canh đưa đến vẫn chừa lại nhiều thức ăn thừa, bởi vậy Vương Huệ đoán rằng chắc chắn nàng có thể đã lén lút trốn ra khỏi tiểu viện.
Có điều bà ta vẫn vờ như không biết, trong lòng chỉ nghĩ đến một ngày nào đó Kỷ Vân Hành lẻn ra ngoài rồi gặp chuyện chẳng lành, chết ở bên ngoài luôn để bà ta đỡ phiền.
Nhưng bà ta không ngờ vận may của Kỷ Vân Hành lại tốt đến vậy.
Nàng không chỉ không chết ở bên ngoài, mà còn may mắn kết giao được với Hoàng thái tôn.
Nghĩ đến đây, Vương Huệ cúi đầu xuống che giấu ánh mắt đố kỵ, cố tỏ ra dịu dàng nói: “Đã lâu rồi không gặp Vân Hành, ta muốn đến nói chuyện với con.”
Kỷ Vân Hành nghe thấy lời này cũng không phản ứng gì, vẫn tiếp tục dùng bút chấm mực vẽ trên giấy: “Phu nhân muốn nói chuyện gì?”
“Chỉ là… chỉ là muốn nói về những chuyện cũ thôi.” Vương Huệ gượng gạo, sắc mặt có hơi mất tự nhiên.
Kể từ khi bước vào tiểu viện này bà ta chỉ đứng ở ngoài cửa. Mặc dù ngoài miệng Kỷ Vân Hành gọi bà ta là “phu nhân”, nhưng thực chất lại đối xử với bà ta như một phạm nhân bị thẩm vấn, thậm chí còn không hề mời bà ta ngồi xuống ghế, đúng là không có chút lễ nghĩa nào.
Nhưng Vương Huệ nghĩ lại, Kỷ Vân Hành không có lễ nghĩa chẳng phải là chuyện rất bình thường sao? Mỗi lần Kỷ Vân Hành được gọi tới gian phòng trong tiền viện, nàng đều phải đứng ở góc phòng, mãi một lúc lâu mới được gọi đến gần để hỏi chuyện hoặc được cho phép ngồi.
Người lớn dạy thế nào, Kỷ Vân Hành học theo thế ấy.
Vương Huệ hiểu đây chính là quả báo do mình gây ra, bà ta nuốt trọn sự cay đắng trong lòng, dịu giọng hỏi: “Con hận cha con sao?”
“Phu nhân sao lại hỏi vậy?” Kỷ Vân Hành hỏi ngược lại.
“Ngày hôm nay ta rơi vào tình cảnh này, tất cả đều là ta đáng phải chịu lấy, ta cũng chấp nhận. Giữa ta và con không có huyết thống, con ghét ta hận ta cũng không sao, nhưng trong người con vẫn chảy dòng máu của cha con, là mối liên hệ chẳng thể nào cắt đứt. Con không thể vì những oán hận đó mà đoạn tuyệt quan hệ với cha mình.”
Vương Huệ bắt đầu hồi tưởng lại: “Lúc con mới sinh ra, bé nhỏ như một nắm tay, cha con coi con như báu vật, đi đâu cũng muốn bế theo. Sau khi trở về từ công vụ, việc đầu tiên là đến thăm con, ban đêm cũng phải ôm con ngủ bên cạnh, nói rằng nếu không nhìn thấy con, ông ấy sẽ không ngủ yên được. Những điều này con đều không hay biết.”
Kỷ Vân Hành đặt bút xuống, ngước mắt nhìn Vương Huệ: “Thật sao?”
“Những điều này ta không nói dối nửa câu, nếu có thể tìm được người hầu cũ của Kỷ gia, hỏi thăm là biết được ngay.”
Vương Huệ nhớ lại chuyện năm xưa, suy nghĩ dường như chìm đắm trong quá khứ: “Thực ra ta, A Dục và Vận Minh đều quen biết nhau từ thuở nhỏ.”
“Bùi gia và Kỷ gia vốn là thế giao. Bùi đại nhân và ông nội con khi xưa là đồng liêu, hai người có quan hệ thân thiết như huynh đệ ruột, lúc đó còn thường nói đùa rằng sau này con cái hai nhà sẽ hoặc kết thành phu thê hoặc kết làm huynh đệ. Sau đó, ông ngoại của con đỗ cao, từ đó một bước lên trời, Bùi gia trở thành danh gia vọng tộc, những lời đùa khi xưa cũng không còn được nhắc đến. Hơn mười năm trước, Bùi gia gặp đại họa, trong lúc tất cả mọi người đều tránh xa vì sợ liên lụy phải, cha con trong đêm mưa bão đã quỳ ngoài cửa suốt một đêm, chịu hình phạt gia pháp rồi sốt cao ba ngày suýt mất mạng, chỉ để xin cưới Bùi Vận Minh.”
“Dòng chính Bùi gia bị xét nhà tịch thu tài sản, nam giới trong nhà bị xử tử, phụ nữ và trẻ em bị đày đi lưu vong, mẹ con nhờ vậy mà thoát chết. Nhưng Kỷ gia vì hành động này đã đắc tội với quan chức cấp trên, ông nội con bị người trong tối ngấm ngầm mưu hại, còn cha con cũng bị liên lụy phải làm một tiểu quan Bát phẩm suốt hơn mười năm.”
Vương Huệ hạ giọng, thẫn thờ nói: “Những chuyện cũ này, không ai kể cho con nên con không biết được.”
Kỷ Vân Hành không trả lời, dường như đang suy nghĩ.
Vương Huệ chờ một lát, không thấy nàng mở miệng nói gì, bèn quay người ra sau kéo chiếc rương từ đằng sau vào.
Thân thể bà ta yếu ớt, chỉ kéo chiếc rương thôi mà đã hì hục một hồi, vừa thở hổn hển vừa mở khóa ra, bên trong là những cuộn tranh được xếp gọn gàng.
“Ông ngoại con có tay nghề hội họa tuyệt kỹ, mà Vận Minh lại không thừa hưởng được, nhưng cha con lại có thiên phú đặc biệt về hội họa, sau này Bùi đại nhân đã dốc lòng dạy dỗ ông ấy. Cha con khi đó từng nói, sau này vẽ tranh, chỉ vẽ trăng non.”
“Trăng non tức Duyệt Nha là tên tự của mẹ con. Kể từ sau biến cố của mẹ con năm đó, suốt mười mấy năm nay, cha con chưa từng cầm bút vẽ lên lần nào nữa.”
Vương Huệ cầm lấy quyển tranh trên cùng lên, mở ra cho Kỷ Vân Hành xem.
Giấy vẽ cũ kỹ đã ngả sang màu vàng, nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của mỹ nhân trong tranh.
Người phụ nữ trong tranh cầm quạt đứng dưới gốc cây hoa, dường như đang giận dỗi, trong đôi mắt đẹp lộ ra vẻ mất kiên nhẫn.
Người vẽ không ngần ngại dùng những màu sắc tươi sáng cùng những mảng trống lớn để làm nổi bật thần thái của mỹ nhân trên giấy.
Kỷ Vân Hành nhìn bức tranh đó, trái tim như bị một mũi dao đâm mạnh, cơn đau xoắn lại rồi co rút.
Đó chính là mẹ nàng.
Cách biệt đã bao năm, lúc gặp lại lần nữa lại nhìn thấy mẹ qua một bức họa sống động như thế, Kỷ Vân Hành không kịp nói một lời nào, nước mắt đã bất giác tuôn rơi.
Giọt nước mắt rơi xuống trang giấy, vang lên âm thanh rất khẽ, Hứa Quân Hách đang nằm trên góc bàn lại ngẩng đầu nhìn nàng.
Hắn chẳng mấy hứng thú với mấy chuyện tình cảm yêu đương này, nhưng những điều rối rắm tựa như vũng bùn trong đầm lầy cứ quấn chặt lấy chân tay con người, kéo họ vào mà chẳng cho phép họ vùng vẫy để thoát khỏi.
Hứa Quân Hách thấy bực bội trong lòng, thế là lập tức nhảy xuống bàn lao ra khỏi nhà chạy vút ra sân nằm dưới gốc cây.
Trên trời, ánh trăng sáng ngời màn đêm trong trẻo. Hắn gối đầu lên hai chân trước, ngẩng đầu nhìn lên trăng, mãi mà vẫn không vào giấc ngủ được, suy nghĩ chẳng biết trôi dạt đến nơi nào.
Trong thư phòng, khi Vương Huệ thấy Kỷ Vân Hành rơi lệ, trong lòng bà ta tràn đầy hy vọng, bà ta cúi người vội vã mang thêm các bức họa khác ra, mở từng bức một ra trước mặt nàng.
Tất cả đều là tranh vẽ Bùi Vận Minh với nhiều biểu cảm và dáng vẻ khác nhau.
Những bức tranh này luôn là cái gai không thể nhổ bỏ trong lòng Vương Huệ, cho dù sau này Bùi Vận Minh gặp chuyện và bị nhốt vào hậu viện, ngay cả khi lòng Kỷ Dục đã nguội lạnh, từ đau khổ đến mức sinh hận mà cũng không cho ai động đến chiếc rương chứa đầy tranh này.
Vương Huệ vốn nghĩ rằng những ngày khó khăn đã qua, tương lai sẽ là con đường bằng phẳng, nhưng không ngờ ngay cả khi Kỷ Dục đã từ thiếu niên đầy chí khí trở thành một kẻ tầm thường đắm chìm trong tửu sắc và ham mê vật chất, trong lòng ông ta vẫn giữ một khoảng trống cho những bức họa này.
Mỗi nét vẽ trên tranh đều là dấu tích của tình yêu mà Kỷ Dục từng dành cho Bùi Vận Minh.
Vương Huệ căm ghét những thứ này, chỉ muốn xé nát và đốt cháy chúng đến không còn tro tàn, nhưng hôm nay bà ta lại phải đích thân mang chúng ra rồi kể lại từng chút quá khứ về mối tình giữa Kỷ Dục và Bùi Vận Minh cho đứa con của họ nghe.
“Bất kể thế nào, năm xưa cha con đã thực lòng yêu mẹ con, thậm chí suýt nữa đánh đổi cả mạng sống để cứu bà ấy. Sai lầm có thể sửa đổi, nhưng mạng sống mất rồi thì chẳng còn gì nữa.” Vương Huệ nhìn Kỷ Vân Hành đang khóc không ngừng, bà ta thấp giọng dụ dỗ: “Cha con đã ngồi trong ngục suốt hơn ba tháng nay, hình phạt nên chịu cũng đã chịu, tội lỗi phải nhận cũng đã nhận. Dù ông ấy phạm lỗi, nhưng vẫn là cha con. Nghe nói con có quan hệ thân thiết với Hoàng thái tôn, con hãy đến cầu xin giúp cha con, nói vài lời tốt đẹp với ngài ấy để cha con được thả ra sớm.”
Kỷ Vân Hành không để ý đến lời bà ta nói, chỉ lặng lẽ cúi đầu lau nước mắt: “Ta chưa bao giờ thấy mẹ ta với dáng vẻ như vậy.”
Trong ký ức của nàng, từ khi biết đến khuôn mặt của mẹ, đôi mắt xinh đẹp kia lúc nào cũng chất chứa bi thương, chỉ có đêm dài triền miên cùng vô vàn nỗi u sầu khó nói.
Nhìn bức tranh này, nàng mới biết khi xưa mẹ cũng từng tươi tắn và yêu đời như thế.
Kỷ Vân Hành chỉ thấy sự yếu dần và cạn kiệt của mẹ, chứ chưa bao giờ thấy thời kỳ rực rỡ và tràn đầy sức sống của bà.
Nàng tiếp tục lau đi dòng nước mắt không ngừng chảy, nỗi đau trong lòng không cách nào xoa dịu được.
“Kẻ bạc tình không xứng đáng nhắc đến quá khứ!” Giọng nói của Kỷ Vân Hành chứa đầy phẫn nộ.
“Con có biết năm xưa Bùi Hàn Tùng phạm tội gì không?”
Thấy Kỷ Vân Hành có vẻ chống đối lại, giọng của Vương Huệ cũng trở nên lạnh lùng: “Con thật sự nghĩ đó là tham ô à?”
“Năm ấy ở Linh Châu xảy ra nạn tuyết lở, Thái tử đích thân đến cứu trợ thiên tai, Bùi Hàn Tùng là phụ tá đi bên cạnh ngài. Nhưng khi trên đường trở về thì gặp nạn, Thái tử không may qua đời, Hoàng Đế giận dữ ra lệnh điều tra. Khi đó, vụ tham ô của Bùi Hàn Tùng mới bị phanh phui. Người đời nói ông ta vì không muốn Thái tử mang chứng cứ tham ô về Kinh nên mới bày mưu hại Thái tử.”
Bà ta hạ giọng hỏi: “Con hiểu rồi chứ? Khi Bùi gia rơi vào tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc, chỉ có cha con không sợ chết cắn răng chịu đòn roi đến máu thịt lẫn lộn để cưới mẹ con. Nếu không có ông ấy, mẹ con chắc chắn không thoát khỏi cái chết!”
Giọng của Vương Huệ càng lúc càng lớn, vẻ mặt cũng trở nên sắc bén như đang chỉ trích: “Chỉ với ân tình đó, con cũng nên cố gắng hết sức cứu cha mình ra ngoài!”
Kỷ Vân Hành im lặng rất lâu, dường như những lời này cần nhiều thời gian để nàng suy ngẫm, trong phòng cũng duy trì sự tĩnh lặng.
Vào lúc Vương Huệ sắp mất hết kiên nhẫn, Kỷ Vân Hành mới chậm rãi ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt bà ta.
Lần này nàng không bị sự gay gắt của bà ta dọa sợ mà đã bình tĩnh trở lại.
“Năm Hi Bình thứ ba mươi tư, ngày ba mươi tháng Chạp, phu nhân có biết đó là ngày gì không?”
Vương Huệ sững sờ một lúc, lục tìm trong trí nhớ, hoàn toàn không biết ngày đó có gì đặc biệt.
Chỉ trong thoáng chốc khi Vương Huệ do dự, Kỷ Vân Hành đã có câu trả lời.
“Đó là ngày mẹ ta qua đời.”
Nàng khẽ v**t v* tờ giấy vẽ trên bàn, giọng điệu bình thản như thường lệ: “Từ ngày đó trở đi, Kỷ Vân Hành đã trở thành trẻ mồ côi, không còn người thân nào nữa.”
“Các người sẽ không bao giờ biết được dáng vẻ của mẹ ta trước khi chết, bà đã nói gì với ta, bà đã sống ra sao, đã khổ sở thế nào trong những năm bị giam cầm ở cái tiểu viện hẻo lánh này.”
“Cũng như ta sẽ không biết được họ từng yêu nhau thế nào, về sau tại sao lại phải chia xa.”
“Bây giờ dù có lật lại những chuyện cũ này cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Ta không hận các người chỉ vì ta chưa từng xem các người là người thân mà thôi. Phu nhân xin hãy về đi.”
Trong mắt Kỷ Vân Hành, nơi mẹ từng sống chính là nhà của nàng.
Mẹ mất rồi, nàng là một đứa trẻ mồ côi, không có cha.
Nàng chưa bao giờ đòi Kỷ Dục phải cho mình những thứ mà một người cha nên cho con gái, đối với nàng, Kỷ Dục chỉ là một người xa lạ.
Vì thế, nàng không hận Kỷ Dục, cũng sẽ không làm bất kỳ chuyện gì vì ông ta.
“Kỷ Vân Hành!” Vương Huệ tức giận đến phát cuồng, lớn tiếng mắng chửi: “Kỷ gia nuôi nấng ngươi thành cái loại bất hiếu này sao! Cho dù mấy năm qua cha ngươi không quan tâm đến ngươi, nhưng đồ ăn thức uống ngươi có từng thiếu thốn cái gì chưa?! Vậy mà ngươi lại không màng đến sống chết của ông ấy, thật sự là vô tình vô nghĩa!”
Thế nhưng giờ đây, Vương Huệ chỉ như một con hổ giấy không còn nanh vuốt, chẳng còn chút sức uy h**p nào, bà ta đã không còn là Kỷ phu nhân có thể khiến Kỷ Vân Hành sợ hãi co rúm cổ như trước kia.
Kỷ Vân Hành không muốn nói nhiều thêm nữa, nàng cất giọng gọi Lục Cúc vào, bảo nàng ấy đưa Vương Huệ ra ngoài.
Ai ngờ lúc này Vương Huệ bỗng nổi điên, bám chặt lấy khung cửa không chịu rời đi, còn vừa khóc vừa la hét, nói rằng nếu Kỷ Vân Hành không đồng ý đến gặp Hoàng thái tôn để xin tha cho Kỷ Dục, bà ta sẽ đâm đầu vào cột chết tại đây.
Kỷ Vân Hành nghe vậy cũng hoảng hồn, lúng túng hét lớn: “Không được chết trong nhà ta!”
Lục Cúc cũng hoảng, nàng ấy cuống cuồng dùng một tay chặn trước trán Vương Huệ, một tay ôm bà ta kéo ra ngoài.
Dù Vương Huệ trông gầy yếu, nhưng khi sức mạnh bộc phát cũng không phải chuyện đùa, một mình Lục Cúc không thể kéo bà ta ra nổi, Kỷ Vân Hành liền vội vàng chạy tới giúp đỡ, ba người giằng co ngay trước cửa thư phòng.
Tiếng ồn ào vang ra khắp sân, làm gián đoạn dòng suy nghĩ của Hứa Quân Hách.
Hắn đứng bật dậy, bốn chân ngắn cũn nhanh chóng chạy về phía cửa, chưa đến nơi đã bắt đầu càu nhàu mắng chửi.
Khi vào trong phòng thấy Vương Huệ vẫn bám lấy cửa không đi, đang cố sức lao vào cột để uy h**p Kỷ Vân Hành thỏa hiệp với yêu cầu của bà ta.
Những kẻ như bà ta, Hứa Quân Hách đã thấy quá nhiều.
Hắn lao nhanh về phía trước, ngay sau đó một tràng tiếng chó sủa vang lên dữ dội, âm thanh vô cùng hung tợn: “Gâu gâu gâu gâu gâu gâu!”
Tiếng chó sủa chói tai đột nhiên vang lên từ phía sau làm ba người giật mình, ai nấy đều dừng động tác trên tay lại, sau đó lại nhìn thấy chó con đang táp về phía Vương Huệ, nó há miệng để lộ răng nănh cực kỳ sắc bén.
Sắc mặt Vương Huệ tái nhợt đi, vừa rồi bà ta còn muốn đâm đầu vào cột chết, giờ lại bị chó đuổi đến mức ngã lộn nhào dưới đất, trầy trật một lúc mới chạy ra ngoài được.
Hứa Quân Hách đứng dưới mái hiên, đắc ý hừ một tiếng.
Người phụ nữ này nếu muốn chết thì đã chết từ lâu rồi, hà tất phải chịu đựng đến giờ? Chỉ biết dựa vào việc Kỷ Vân Hành tuổi nhỏ, ngây thơ dễ bị bắt nạt mà thôi.
Hắn đường đường là Hoàng thái tôn, cho dù có biến thành chó, cũng có thể trừng trị kẻ ác dạng này!
Kỷ Vân Hành vui mừng bế chó con lên, v**t v* nó trong lòng: “Học Học giỏi quá đi! Đã đuổi kẻ xấu chạy rồi.”
Hứa Quân Hách chưa từng bị ôm như thế này, hắn lập tức nổi giận, quay đầu giả vờ định cắn nàng.
Kỷ Vân Hành muốn né, nhưng hành động quá chậm không kịp tránh, ngón tay đã bị Hứa Quân Hách ngậm vào trong miệng.
Khi răng nanh sắc nhọn đã chạm đến đầu ngón tay mềm mại, Hứa Quân Hách lập tức kiềm chế toàn bộ sức mạnh, giả vờ cắn hai cái nhưng vẫn không nỡ làm đau nàng, hắn nhả ngón tay nàng ra rồi sủa lên một tiếng.
Kỷ Vân Hành giật mình, vốn tưởng rằng ngón tay sẽ bị cắn rách, nhưng không ngờ con chó nhỏ lại không làm nàng bị thương.
Nàng nhớ lại lời Liễu Kim Ngôn từng nói trước đây, thầm nghĩ: có lẽ lúc chó con phát điên cũng chỉ là muốn được nàng quan tâm mà thôi.
Nàng ôm Hứa Quân Hách chặt hơn nữa, bất kể hắn sủa thế nào cũng không buông tay, thậm chí còn cười hì hì: “Học Học, giọng của em ngày càng vang rồi đấy, làm tai ta ù hết rồi này.”
Hứa Quân Hách giãy giụa không thoát được thì vô cùng tức giận, sau khi ầm ĩ với nàng một hồi tự hắn cũng thấy mệt, thở hổn hển từ bỏ việc vùng vẫy.
Nợ nần từ từ tính sau, tự mình giày vò mình thì không đáng.
Kỷ Vân Hành chơi cả ngày, đến tối cũng đã mệt lử, nàng dặn Lục Cúc thu dọn toàn bộ bức tranh cất vào kho.
Nàng không muốn giữ lại những thứ đó, dù chúng từng là minh chứng cho tình yêu của mẹ nàng, nhưng cuối cùng cũng chỉ là hoa trong gương, trăng trong nước.
***
Sáng hôm sau, Lục Cúc đứng ở cửa gọi to, từng tiếng từng tiếng đánh thức nàng khỏi giấc ngủ.
“Đại cô nương, có Liễu cô nương đến tìm người.” Lục Cúc nói.
Lục Cúc lại lục tục giúp Kỷ Vân Hành rửa mặt chải đầu, nàng mặc chiếc áo khoác không tay màu vàng nhạt viền lông trắng và váy xếp ly dệt kim trắng như tuyết, đi đôi giày lót bông rồi bước ra cửa.
Nàng nhìn thấy Liễu Kim Ngôn đang ngồi dưới gốc cây trong sân, rõ ràng đã đợi rất lâu.
Liễu Kim Ngôn hôm nay ăn mặc rất giản dị, nàng ấy không đeo bất kỳ trang sức nào, búi tóc đơn giản được cài bằng một chiếc trâm gỗ, trên người mặc một bộ váy áo màu xanh lam nhạt.
Khi quay đầu lại, Kỷ Vân Hành còn nhìn thấy trên mặt nàng ấy đeo nửa chiếc mặt nạ che đi mắt và mũi, chỉ để lộ đôi môi.
“Có chuyện gì vậy?” Kỷ Vân Hành kinh ngạc hỏi.
Liễu Kim Ngôn thở dài một hơi, đứng dậy tiến đến bên cạnh Kỷ Vân Hành, tựa đầu lên vai nàng: “Đừng nhắc nữa, chuyện hôm qua ở Bão Nguyệt Trai bị ma ma phát hiện ra rồi, ta bị mắng một trận.”
“Vậy mà hôm nay cô còn dám ra ngoài à?” Kỷ Vân Hành thấp hơn Liễu Kim Ngôn một chút, nên khi Liễu Kim Ngôn tựa lên vai nàng trông tư thế của cả hai có vẻ khá buồn cười.
Nhưng Kỷ Vân Hành vẫn nghiêm túc giữ cho nàng ấy không ngã, thậm chí còn nhón chân lên để đỡ nàng ấy.
“Hôm nay không sao, ma ma ra ngoài đến ngày mai mới về, cho nên ta ra ngoài tìm cô chơi này.” Liễu Kim Ngôn sờ lên chiếc mặt nạ trên mặt rồi nói thêm: “Chỉ là phải luôn đeo cái thứ này mới được, nếu có ai nhìn thấy ta ra ngoài rồi lại mách lẻo với ma ma, ta sợ lại bị mắng tiếp.”
“Thôi, đừng nói những chuyện mất hứng này nữa.” Liễu Kim Ngôn buông thõng hai tay, hỏi: “Hôm nay cô định đi đâu?”
Kỷ Vân Hành đáp: “Đưa Lục Cúc đi nhận người thân.”
Lục Cúc hôm nay đã mặc bộ quần áo mới mà nàng ấy đã chuẩn bị từ trước để đón năm mới, tóc tai được chải chuốt gọn gàng, gương mặt cũng được rửa sạch sẽ, vẻ mặt tràn đầy mong đợi.
Trên đường đi Lục Cúc siết chặt hai tay trông rất căng thẳng, trong miệng lẩm bẩm không ngừng: “Nô tỳ đã quên mất mẹ mình trông như thế nào rồi.”
“Đại cô nương, thật sự cảm ơn người đã đồng ý đưa nô tỳ đi nhận người thân.”
“Nô tỳ từng nghĩ cả đời này sẽ không còn cơ hội tìm lại người thân nữa, không ngờ bây giờ lại có cơ hội này.”
Kỷ Vân Hành nhìn thấy sự mong đợi trong mắt nàng ấy, bèn hỏi: “Ngươi thật sự không nhớ chút nào về mẹ mình sao?”
Lục Cúc gật đầu: “Trước đây khi bị bắt cóc, nô tỳ đã chịu rất nhiều khổ sở. Mỗi khi khóc là bị họ đánh đến chết đi sống lại, hễ nói muốn về nhà là họ không cho ăn cơm. Cũng không biết tại sao, dường như sống lâu trong cái khổ đã khiến nô tỳ dần quên mất dáng hình cha mẹ, cũng không còn nhớ quê nhà ở đâu nữa.”
Suy cho cùng nàng ấy bị bắt cóc khi còn quá nhỏ, lại phải trải qua quá nhiều chuyện, việc quên đi cũng là điều dễ hiểu.
Khi con người chìm đắm trong biển khổ, điều họ quên đi đầu tiên không phải là nỗi đau, mà là những niềm hạnh phúc đã từng có.
Kỷ Vân Hành không hỏi thêm gì nữa, nhìn sang Liễu Kim Ngôn bên cạnh.
Dường như đêm qua Liễu Kim Ngôn không ngủ đủ giấc, vừa lên xe ngựa đã tựa vào vai Kỷ Vân Hành ngủ thiếp đi, cho dù xe ngựa xóc nảy thế nào cũng không làm nàng ấy tỉnh dậy. Thỉnh thoảng khi đầu nàng ấy trượt khỏi vai Kỷ Vân Hành, Kỷ Vân Hành lại nhẹ nhàng đỡ nàng ấy ngồi ngay ngắn lại.
Nửa canh giờ sau, xe ngựa đến trước cửa tiệm đậu hũ của Sở Tình, lúc này quán đang đông khách.
Trong quán chỉ có một mình Sở Tình đang bận luôn tay, thấy Kỷ Vân Hành đến bà chỉ chào hỏi vài câu rồi bảo nàng tự tìm chỗ ngồi.
Sở Tình là một người phụ nữ dịu dàng giống như cây liễu mọc trong gió xuân, nhánh liễu mềm mại mỏng manh nhưng lại rất kiên cường.
Bà ấy đã tìm con gái mình nhiều năm, đã đi qua biết bao nhiêu nơi mà không hề sợ gian khó bủa vây, đến tận bây giờ vẫn không từ bỏ.
Trên người bà ấy có một sự dịu dàng thấm đượm tình mẫu tử, ba người vừa tìm chỗ ngồi xuống, bà ấy đã bưng ba bát đậu hũ đến, cười nói: “Các con ăn đậu hũ trước đi, để ta tiếp đợt khách này xong rồi sẽ qua nói chuyện với các con.”
Lục Cúc nhìn Sở Tình mấy lần, không kìm được sự xúc động trong lòng, nhưng lại do dự không dám lên tiếng.
Kỷ Vân Hành dẫn hai người vào góc ngồi, còn mình thì xắn tay áo lên đi giúp bà ấy một tay. Thấy vậy, Lục Cúc cũng không thể ngồi yên, nhanh nhẹn chạy lăng xăng giúp việc trong tiệm.
Liễu Kim Ngôn thì lần đầu tiên đến một nơi như thế này, không quen làm những việc tay chân này, nàng ấy chỉ ngồi một chỗ ăn đậu hũ, đồng thời nhìn ngắm xung quanh.
Ở đây đông người, nàng ấy không thể tùy tiện tháo mặt nạ ra, tránh thu hút những ánh mắt kỳ quái của vài người.
May mà quán đậu hũ chỉ đông theo từng đợt, chẳng mấy chốc khách trong quán đã vơi đi, khung cảnh dần trở nên vắng lặng.
Kỷ Vân Hành rửa sạch tay tìm gặp Sở Tình, kể cho bà ấy nghe về thân thế và quá khứ của Lục Cúc.
Sở Tình nghe xong, trong lòng chấn động mạnh một hồi. Khuôn mặt vốn còn tươi cười khi nghe thấy những lời này bỗng chốc thay đổi, bà vội vàng bỏ món đồ trong tay xuống, lau nước trên người rồi lật đật hỏi: “Vậy đứa nhỏ đó đâu?”
“Ở sảnh trước đó dì Tình, chính là người vừa rồi phụ việc trong quán.” Kỷ Vân Hành đáp.
Ngay sau đó, nàng thấy Sở Tình luống cuống, không màng đến hình tượng đã nhanh chóng chạy về phía sảnh, trong miệng không ngừng lẩm bẩm: “Ngọc Nhi, Ngọc Nhi…”
Còn chưa đi đến sảnh, nước mắt đã lã chã rơi xuống.
Kỷ Vân Hành vội chạy theo phía sau, nhìn thấy bà ấy như vậy, nàng nói: “Dì Tình, dì đừng vội, có lẽ nàng ấy không phải thật, con chỉ nghe kể về thân thế của nàng ấy nên mới nghĩ đến việc dẫn nàng ấy đến gặp dì.”
Nhưng giờ khắc này đây Sở Tình đã không còn nghe lọt những lời này nữa, bà ấy bước một bước vào sảnh liền thấy Lục Cúc đang lau bàn.
Nàng ấy làm việc rất nghiêm túc, cả người cúi xuống chăm chú lau bàn, chiếc áo bông cồng kềnh đối lập với đôi cánh tay gầy guộc. Tuy vậy, Lục Cúc làm việc vừa sạch sẽ vừa nhanh nhẹn, chỉ trong chốc lát, nàng đã lau sạch sẽ mấy chiếc bàn, vắt khô giẻ rồi ném nó vào thùng nước.
Sở Tình bước chậm lại đi đến bên cạnh Lục Cúc, nắm lấy tay nàng ấy, giọng nghẹn ngào khẽ nói: “Con à, để ta nhìn con một lát.”
Lục Cúc quay đầu lại, vừa nghe thấy câu này, nàng ấy cũng bật khóc.
Nàng ấy vừa lau nước mắt vừa nói: “Người nhìn con thật kỹ nhé, con bị người ta bắt cóc lúc sáu tuổi, đến giờ con đã không còn nhớ rõ khuôn mặt của mẹ nữa, người hãy nhận con đi.”
Hai mắt Sở Tình đẫm lệ, chăm chú nhìn kỹ từng nét trên khuôn mặt của Lục Cúc, từ đôi lông mày, đôi mắt đến chiếc mũi, từng chút một như đang phác họa lại bằng ánh mắt của chính mình. Cuối cùng, bà ôm chặt Lục Cúc vào lòng, nước mắt tuôn rơi như mưa: “Con à, con đã chịu khổ rồi.”
Hai người ôm nhau khóc lớn, Kỷ Vân Hành nghe thôi đã thấy lòng mình tràn ngập bi thương, lặng lẽ lau nước mắt theo.
Vốn định tránh mặt Liễu Kim Ngôn, nàng hơi nghiêng người qua chỗ khác, không ngờ Liễu Kim Ngôn lại thò đầu qua nhìn vào mặt nàng: “Mẹ con người ta đoàn tụ, cô khóc cái gì?”
“Mắt tự ch** n**c thôi.” Kỷ Vân Hành vừa nói vừa dụi mắt.
“Kỷ Vân Hành đúng là đồ mít ướt.” Liễu Kim Ngôn khẽ gõ vào mu bàn tay nàng.
Kỷ Vân Hành không chịu thừa nhận: “Ta không phải.”
Sở Tình và Lục Cúc đi vào căn phòng ở sân sau để nói chuyện, còn Kỷ Vân Hành và Liễu Kim Ngôn thì giúp trông coi quán đậu hũ phía trước.
Liễu Kim Ngôn đeo mặt nạ, trong tay bưng bát đậu hũ thản nhiên ngồi sau quầy hàng.
Có ba vị khách bước vào nhìn thấy nàng ấy, không nói lời nào đã quay đầu bỏ đi.
Kỷ Vân Hành vội giơ tay đuổi theo ra cửa gọi: “Chờ đã, chờ đã, đừng đi mà, vào ăn một bát đậu hũ đi!”
Thấy vậy, Liễu Kim Ngôn liền bật cười khúc khích một hồi lâu.
Sau khi hai người ngồi chờ trong quán thêm nửa canh giờ, Sở Tình đã dẫn Lục Cúc ra ngoài.
Cả hai đều đỏ mắt, rõ ràng đã khóc rất nhiều. Lúc Kỷ Vân Hành đi đã nói có thể cho Lục Cúc rời khỏi Kỷ gia, sau này không cần làm công ở nhà nàng nữa, nhưng không ngờ Lục Cúc lại nói nàng ấy nguyện tiếp tục làm việc tại Kỷ gia.
Theo luật pháp của Đại Yến, không được mua bán người, vì vậy khế ước của gia nô chỉ chia thành ngắn hạn và dài hạn, không có khế ước giữ người vĩnh viễn. Khi nào Lục Cúc muốn rời đi, chỉ cần giấy tờ hết hạn thì sẽ có thể rời đi.
Quán đậu hũ của Sở Tình làm ăn cũng tốt, bà ấy sống ở Linh Châu rất thoải mái nên không cần thiết phải rời đi ngay bây giờ.
Kỷ Vân Hành ngồi trước bàn, lặng lẽ lắng nghe hai người nói chuyện, cuối cùng chỉ gật đầu chứ không đưa ra ý kiến nào.
Sau nửa ngày bên ngoài, ba người họ lại lên xe ngựa quay về phủ.
Trên đường về, Liễu Kim Ngôn trông có vẻ mệt mỏi hơn, nàng ấy không nói một lời, chỉ nhắm mắt ngủ. Kỷ Vân Hành đưa nàng ấy về trước, sau đó mới lên xe ngựa cùng Lục Cúc về nhà.
Xe ngựa mới vừa đến Kỷ gia, nàng đã bị Tô Y tóm ngay trước cửa.
Có vẻ như bà ấy đã đứng đợi rất lâu, khuôn mặt đầy vẻ lo lắng, từ xa trông thấy xe ngựa của Kỷ gia, bà đã chạy ra đón Kỷ Vân Hành.
“Hữu Hữu!”
Kỷ Vân Hành co đầu rụt cổ chầm chậm xuống xe, còn tưởng dì Tô sẽ trách tội mình, chưa đặt chân xuống đất đã bắt đầu giải thích: “Dì à, con chỉ dẫn Lục Cúc đi nhận người thân thôi, chỉ ra ngoài một lát nên con mới không nói với dì.”
Tô Y nắm lấy tay nàng, cuống cuồng nói: “Ôi dào, mấy chuyện vặt vãnh đó không quan trọng, con mau nói cho ta biết, mấy ngày nay con có đắc tội gì với Hoàng thái tôn không?”
“Đắc tội Hoàng thái tôn?” Kỷ Vân Hành ngẩn người, thắc mắc: “Sao con có thể đắc tội với ngài ấy được chứ?”
“Ta đang hỏi con đấy!” Tô Y giục gấp: “Mau nghĩ kỹ lại xem!”
Kỷ Vân Hành lập tức bắt đầu vắt óc suy nghĩ, mãi đến khi cả hai đi tới cổng lớn, nàng vẫn không nghĩ ra mình đã làm sai điều gì.
Tô Y chờ một lúc mà không hỏi ra được kết quả, bà chỉ đành nói: “Một khắc trước Hoàng thái tôn đã đến Kỷ gia, chỉ đích danh nói muốn tìm con đó!”
“Thật sự có chuyện này sao?” Đôi mắt Kỷ Vân Hành sáng lên: “Hóa ra là Lương Học đến.”
Tô Y trừng mắt lườm nàng, hạ giọng nói: “Trước đây ta đã dạy con thế nào?”
Kỷ Vân Hành lập tức sửa lời, trấn ai bà: “Dì yên tâm, con không đắc tội với Điện hạ gì cả, chắc ngài ấy đến vì chuyện khác thôi.”
“Vậy thì tốt, vậy thì tốt.”
Lúc này Tô Y mới thở phào nhẹ nhõm.
Hoàng thái tôn tổng cộng đã đến phủ Kỷ gia hai lần, lần đầu là lúc kiểm tra và tịch thu tài sản.
Lần thứ hai chính là lần này.
Khoảng một khắc trước, chiếc xe ngựa lộng lẫy sang trọng dừng lại trước cổng lớn Kỷ gia, khiến Tô Y hoảng hốt không thôi. Kỷ Dục và Kỷ Viễn vẫn đang bị giam trong ngục, còn Vương Huệ thì ẩn mình trong viện không ra ngoài. Người ra ngoài tiếp đón quý khách nên là đích trưởng nữ của Kỷ gia – Kỷ Vân Hành mới phải.
Thế nhưng, Kỷ Vân Hành lại không có ở nhà. Ban đầu Tô Y chỉ nghĩ Hứa Quân Hách chỉ đến tìm con bé, nếu con bé không ở nhà thì hắn sẽ rời đi ngay. Ai ngờ hắn lại vào trong phủ, ngồi ở chính đường chờ đến bây giờ.
Trong lòng Tô Y chỉ biết than trời, dáng vẻ thế này chẳng phải đến hỏi tội sao?
Bà lo lắng đến run rẩy, vừa dâng trà ngon cho Hứa Quân Hách, vừa vội vàng sai người đi tìm Kỷ Vân Hành về.
Cũng may không phải đợi quá lâu, Kỷ Vân Hành đã tự trở về.
Hai người nhanh chóng đi đến chính đường, người hầu ở cửa vén rèm bông lên để Kỷ Vân Hành bước vào.
Trong chính đường, Hứa Quân Hách khoác trên mình một bộ y phục màu đỏ đang ngồi chính giữa, Ân Lang đứng chếch một góc sau lưng hắn, chén trà trên bàn vẫn còn bốc hơi nóng.
Kỷ Vân Hành bước qua ngưỡng cửa đi vào giữa, cúi người hành lễ: “Dân nữ bái kiến Thái tôn Điện hạ.”
Tô Y cũng vội vàng hành lễ theo.
Hứa Quân Hách nghiêng đầu nhìn nàng, bàn tay đặt trên chén trà hơi dùng sức phát ra âm thanh một tiếng “cạch” thật vang, hắn hừ một tiếng: “Kỷ Vân Hành, cô biết ta đã chờ cô bao lâu không?”
Kỷ Vân Hành đáp: “Hôm nay dân nữ có việc phải ra ngoài, không biết Điện hạ bất ngờ đến thăm.”
Hứa Quân Hách quay đầu hỏi Ân Lang: “Ta đã chờ bao lâu rồi?”
“Hai khắc.” Ân Lang đáp.
“Một khắc rưỡi thôi.” Tô Y vội vã xen vào, giải thích: “Một khắc và thời gian nửa chén trà nữa. Điện hạ, dân phụ đã ghi nhớ rõ ràng.”
“Tốt.” Hứa Quân Hách lạnh nhạt nói: “Dám để bổn Điện hạ chờ lâu như vậy! Kỷ Vân Hành, bản lĩnh lớn thật đấy.”
Hắn vừa dứt lời, Tô Y đã sợ đến run rẩy, khóe môi khẽ giật định nói gì đó. Nhưng Kỷ Vân Hành quay đầu nói với bà: “Dì Tô, dì ra ngoài trước đi, ở đây để con là được.”
“Hữu Hữu…” Tô Y làm sao yên tâm ra ngoài cho được, tiểu bá vương này rõ ràng đến đây gây sự mà!
“Dì yên tâm đi.” Kỷ Vân Hành vỗ nhẹ lên mu bàn tay bà, nhỏ giọng an ủi: “Không sao đâu.”
Tô Y do dự một lúc, cuối cùng cũng rời đi dưới ánh mắt kiên định của Kỷ Vân Hành. Bà hành lễ cáo lui, quay người bước ra ngoài.
Rèm bông ở cửa chính đường lại được buông xuống, trong phòng chỉ còn lại Hứa Quân Hách, Kỷ Vân Hành và Ân Lang.
Kỷ Vân Hành quay đầu lại, nói với Hứa Quân Hách: “Điện hạ, đừng dọa dì Tô nữa.”
Hứa Quân Hách nhấp một ngụm trà, từ từ đứng lên, chắp tay sau lưng bước đến gần Kỷ Vân Hành.
Hắn đã ngồi đây một lúc, hương trà trên người hắn hòa quyện trong không khí, tỏa hương thơm ngát khắp bốn phía.
Hắn đứng bên cạnh Kỷ Vân Hành, hơi nhướn mày nói: “Dì cô vừa nhìn đã biết là người nhát gan. Người nhát gan thì phải dọa nhiều vào, dần dần mới sửa được thói quen đó.”
Câu nói ấy thốt ra vô cùng thản nhiên, bất kỳ ai nghe thấy cũng đều muốn chửi một câu “Vô liêm sỉ”.
Thế nhưng, Kỷ Vân Hành lại nghiêm túc suy ngẫm một hồi, sau đó mới đáp: “Điện hạ nói đúng.”
Hứa Quân Hách nghe xong cười phá lên.
Hắn lại thấy Kỷ Vân Hành ngẩng đầu, đôi mắt trong veo nhìn hắn, chậm rãi nói: “Nhưng Điện hạ chỉ cần dọa ta là được rồi, đừng dọa dì Tô.”
Nghe vậy, Hứa Quân Hách nheo mắt cười nói: “Thì ra cô biết ta cố tình dọa cô.”
Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
