Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này

Chương 106: Cũng chính vào lúc này, Kỷ Vân Hành mới hiểu ra rằng nàng không phải trận gió đông ấy!

Ngày hai mươi lăm tháng sáu, Kỷ Vân Hành nhận được thư Tô Y gửi đến. 

Bức thư được chuyển từ ngàn dặm xa xôi đến đây, trong thư viết rằng bà đã đến Kinh thành, còn được Hoàng thái tôn sắp xếp vào ở trong một ngôi trạch viện xa hoa lộng lẫy, xung quanh có rất nhiều thị vệ bảo vệ, nói chung bà hiện đang sống trong môi trường cực kỳ an toàn.

Chú chó nhỏ Học Học khi trước cũng được Tô Y mang đi cùng, giờ đây đã được chăm nuôi kỹ lưỡng nên béo tròn, hoàn toàn không còn chút dáng vẻ nào là nhớ nhung chủ nhân. 

Trong thư Tô Y chỉ đề cập sơ qua tình hình hiện tại của mình, phần lớn nội dung còn lại là hỏi han quan tâm đến Kỷ Vân Hành, lặp đi lặp lại những lời dặn dò nàng phải chăm sóc bản thân thật tốt. Ở cuối thư, bà còn đặc biệt ghi rõ rằng nàng không cần hồi âm. 

Kỷ Vân Hành tỉ mỉ đọc lá thư tận mấy lận, sau đó gấp nó lại cất kỹ vào trong ngực áo hệt như bảo vật.

Hứa Quân Hách đứng bên cạnh thấy vậy, khó hiểu hỏi: “Cất vào người làm gì? Chẳng lẽ nàng còn muốn thuộc lòng từng câu từng chữ sao?” 

Kỷ Vân Hành đặt tay lên ngực, nghiêm túc trả lời: “Bây giờ tạm thời chưa thuộc được, đợi ta xem thêm vài lần nữa, có lẽ sẽ nhớ.” 

Dáng vẻ của nàng đáng yêu đến mức Hứa Quân Hách không chịu nổi, hắn lập tức bước qua véo nhẹ hai má nàng, sau đó quay lưng bỏ đi, không nói thêm lời nào. 

Kỷ Vân Hành ngẩn ngơ xoa má, cũng không truy hỏi tại sao, chỉ cúi đầu tiếp tục làm việc của mình. 

Trước đó, Hứa Quân Hách có nói rằng tháng năm tháng sáu là thời điểm thu hoạch lúa mì vụ đông, chắc hẳn sẽ cần tổ chức ăn mừng mùa màng bội thu. Sau đó, hắn đã đến tẩm cung của Hoàng Đế một chuyến. 

Ngay ngày hôm sau, một mệnh lệnh của triều đình đã truyền khắp Linh Châu, thông báo rằng Hoàng Đế muốn tổ chức đại tiệc thiết đãi dân chúng trong vùng, hòa cùng niềm vui của dân gian để chúc mừng mùa màng bội thu. 

Nhiều năm trước khi Hoàng Đế còn trẻ, lúc tuần du Giang Nam ông cũng từng tổ chức vài buổi yến tiệc như thế này. Nghe nói đại tiệc bày dài mười dặm, còn dựng sân khấu cao, đến lúc đó Hoàng Đế cũng đích thân đến tham dự, cùng uống rượu và xem kịch với bá tánh. 

Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên Linh Châu tổ chức như vậy. 

Chỉ dụ vừa ban xuống, quan viên và thương nhân các địa phương khắp Linh Châu đều tích cực hưởng ứng, dốc sức chuẩn bị rất tích cực. Có lẽ là muốn thể hiện bản lĩnh của mình trước mắt Hoàng Đế nên chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, một sân khấu đồ sộ đã được dựng lên. Khu vực sân bãi rộng lớn, mỗi ngày đều có người vây đến xem quá trình chuẩn bị, khắp các đường lớn ngõ nhỏ cũng bàn tán rôm rả về bữa tiệc, khiến Linh Châu trở nên náo nhiệt chưa từng có. 

Những ngày này Hứa Quân Hách bận bịu vô cùng, ngày nào cũng đến tận khuya hắn mới trở về hành cung, ban ngày cũng không thấy bóng dáng đâu. Dẫu vậy nhưng trước mỗi lần xuống núi hay khi trở về tẩm điện, hắn đều ghé qua thiên điện thăm Kỷ Vân Hành. Nếu nàng tỉnh, hắn sẽ ngồi bên cạnh trò chuyện đôi câu; nếu nàng ngủ, hắn chỉ đứng bên giường yên lặng nhìn nàng, để lại những món đồ hắn mang từ ngoài về rồi mới rời đi. 

Có khi là vài miếng kẹo ngọt, lúc là bông hoa hắn tiện tay ngắt lấy, thậm chí cả những món đồ chơi trẻ con ưa thích. Có lẽ tự bản thân Hứa Quân Hách cảm thấy chúng thú vị, cũng có vẻ như muốn làm nàng vui nên có cái gì hắn cũng mang về tặng nàng. 

Dù Kỷ Vân Hành chậm hiểu nhưng cũng nhận ra sự khác lạ. Nàng chắc chắn rằng Hứa Quân Hách đang có một kế hoạch, hơn nữa kế hoạch còn đang được thực hiện, nhưng dường như hắn không có ý định nói với nàng. 

Nàng cũng từng thử hỏi vài lần, nhưng Hứa Quân Hách không hé lời. Có một lần nàng sốt ruột vô cùng, bực bội nhíu mày giận dỗi, Hứa Quân Hách gọi nàng mấy lần, nàng cũng làm bộ không nghe thấy.

Cuối cùng hắn bước tới ôm nàng vào lòng, nhỏ giọng nói: “Kỷ Vân Hành, bất kể kế hoạch là gì, nàng chỉ cần nhớ rằng, nàng là một phần quan trọng nhất trong đó. Con đường này trải quá dài, quá xa, dưới lớp bùn đất là máu xương chồng chất. Nếu chúng ta có thể đi đến cuối, đó chắc chắn là kết quả của sự cố gắng từ tất cả mọi người.”

Kỷ Vân Hành rất đồng tình với nửa câu sau, ngẩng đầu hỏi hắn: “Vậy mà vẫn không thể nói cho ta biết sao?” 

Hứa Quân Hách không trả lời, bàn tay khô ráo ấm áp xoa nhẹ vành tai nàng. Kỷ Vân Hành nhìn thẳng vào mắt hắn, mơ hồ nhận ra chút thương xót thoáng qua, không biết là dành cho ai. 

Kỷ Vân Hành nghĩ mãi vẫn không hiểu, tại sao Hứa Quân Hách lại giấu nàng chuyện hắn đang làm. Nghĩ tới nghĩ lui vẫn ôm đầu phiền não, nhân lúc Hứa Quân Hách xuống núi, nàng dứt khoát chạy đến cung điện chỗ Thiệu Sinh ở để tìm y trò chuyện. 

Nào ngờ vừa đến nơi, thái giám trong cung lại báo rằng Thiệu Sinh đã ba ngày không trở về hành cung. 

Kỷ Vân Hành ngạc nhiên không thôi, nàng biết rõ chỗ ở cũ của Thiệu Sinh vốn đã không an toàn, chính y từng mang đồ đạc lên núi cầu xin Hứa Quân Hách cho y một chốn dung thân. Vậy mà giờ lại nghe nói Thiệu Sinh ba ngày chưa về, y có thể đi đâu chứ? Chẳng lẽ đã gặp phải chuyện gì trên đường xuống núi? 

Nàng càng nghĩ càng hoang mang, lập tức xuống núi tìm Tiết Cửu, nhưng đến nơi lại thấy cửa tiệm thịt lợn của ông ấy treo khóa, trong chỗ ông ấy ở cũng không có ai, hoàn toàn chẳng rõ tung tích. 

Nhớ đến thủ đoạn ác liệt của nhóm người Tôn tướng, Kỷ Vân Hành càng nghĩ càng thấy lo lắng cho cả hai. Sau khi trở về hành cung, nàng thức đến khuya không ngủ để chờ Hứa Quân Hách trở về, vừa thấy hắn về đã vội kể lại sự việc. 

Hứa Quân Hách không hề tỏ ra ngạc nhiên, chỉ dụi đôi mắt đã mệt mỏi rồi nói: “Không cần lo lắng, đại tiệc sắp đến, ta sợ có sơ sót nên để hai người họ đi giúp việc rồi.” 

Kỷ Vân Hành nghe vậy mới yên lòng hơn đôi chút, nhưng nàng vẫn cau mày hỏi: “Vậy sao trước khi đi Thiệu Sinh ca không nói với ta một tiếng nào vậy chứ?” 

Hứa Quân Hách vừa cởi áo bào vừa trả lời: “Đáng lẽ ta phải nói với nàng, nhưng mấy ngày nay bận quá, ta quên mất.” 

Kỷ Vân Hành nhìn bóng lưng hắn, không thấy được biểu cảm nên cũng không phân biệt được lời hắn nói là thật hay giả, nàng chỉ mơ hồ cảm thấy có điều gì bất thường trong đó mà thôi. 

Nàng còn định hỏi thêm vài câu chợt nghe Hứa Quân Hách nói: “Ngày mai đại tiệc diễn ra, chắc hẳn nàng sẽ gặp được hắn thôi mà. Hôm nay nghỉ ngơi sớm đi, ngày mai chúng ta còn phải dậy sớm nữa.” 

Nghe nói ngày mai có thể gặp được Thiệu Sinh, Kỷ Vân Hành đè nén lại nghi hoặc trong lòng, gật đầu trở về thiên điện. 

Đêm nay nàng ngủ không yên giấc, không biết có phải là vì đã bất an cả ngày hay không mà giấc mơ của nàng hỗn loạn vô cùng.

Thoạt đầu, nàng mơ thấy mình đứng trong tiểu viện, tuyết trắng rơi phủ kín đất trời như đã sắp nhấn chìm nàng. Kỷ Vân Hành xoay người chạy về phía căn nhà, dùng cơ thể đâm sầm vào cửa, nhìn thấy bên trong căn nhà cũ nát chỉ có một ngọn đèn mong manh, ánh lửa lay lắt vì gió lạnh lọt qua khe cửa. Ngọn lửa nhảy nhót không ngừng tựa như có thể dập tắt bất cứ lúc nào, nhưng dù lửa cháy yếu ớt vẫn có thể thắp lên một tia sáng trong đêm đen dày đặc.

Kỷ Vân Hành nhìn thấy mẹ nàng nằm trên giường bệnh, dáng người bà tiều tụy vì bệnh tật, gầy guộc đến khô cằn, nhưng nét đẹp vẫn vương vấn trên khuôn mặt đã gần như héo úa. Bà dịu dàng gọi “Hữu Hữu”, Kỷ Vân Hành bước tới nắm lấy bàn tay khô ráp, nghẹn ngào gọi một tiếng “mẹ ơi”. 

Bùi Vận Minh giàn giụa nước mắt, giọng nói rõ ràng ở ngay bên tai nhưng âm thanh như vọng lại từ một nơi rất xa xăm: “Hữu Hữu, hôm nay mẹ mất rồi, nhà họ Bùi cũng chỉ còn lại mỗi mình con.” 

Những ngón tay gầy guộc dùng sức nắm chặt lấy Kỷ Vân Hành, như muốn truyền một chút sức mạnh cuối cùng còn sót lại từ trong cơ thể sang cho nàng, bà nghẹn ngào nói: “Những chuyện mẹ không thể làm được, giao lại cho Hữu Hữu nhé. Trời xanh có mắt, thiện ác ắt sẽ có báo ứng rõ ràng. Mẹ tin Hữu Hữu nhất định sẽ có thể… trả lại trong sạch cho Bùi gia.” 

Một tia sét chói lòa đánh tan màn đêm, âm thanh ầm ầm tựa như xé toạc đất trời.

Kỷ Vân Hành giật mình tỉnh giấc, đưa tay sờ lên mặt chỉ toàn là nước mắt.

Nàng ngồi thẫn thờ hồi lâu, trong lòng vẫn ngập tràn nỗi bàng hoàng từ giấc mộng vừa rồi. Câu nói cuối cùng của mẹ ở trong mơ cứ văng vẳng mãi bên tai. 

Thực ra trước khi qua đời, Bùi Vận Minh chỉ nắm tay Kỷ Vân Hành dặn dò nàng phải sống thật tốt, lớn lên bình an khỏe mạnh, chứ chưa từng nhắc đến đôi câu vài lời nào về nỗi oan khuất của Bùi gia. Kỷ Vân Hành thầm nghĩ, có lẽ năm đó mẹ từng rất muốn giao trọng trách ấy cho nàng. Nhưng khi ấy, nàng quá ngốc nghếch còn quá yếu đuối, cơ thể lại thường xuyên bệnh tật, dường như ngay cả việc trưởng thành khỏe mạnh cũng là điều xa vời. Vì vậy, mẹ đành chôn sâu tâm nguyện đó mang theo xuống mồ. 

Tâm trạng của Kỷ Vân Hành gần như suy sụp, nàng gạt nước mắt, dụi đôi mắt đã sưng đỏ, ngồi đó một hồi lâu mới xuống giường khoác quần áo vào.

Lục Cúc ở bên ngoài nghe thấy tiếng động bèn gõ cửa hỏi nhỏ: “Đại cô nương dậy rồi sao?” 

Kỷ Vân Hành đáp lại một tiếng, Lục Cúc lập tức bưng chậu nước vào cho nàng rửa mặt, sau đó bắt đầu giúp nàng chải tóc và chỉnh trang lại váy áo. 

Ngày ba mươi tháng sáu vốn chẳng phải dịp lễ hội gì đặc biệt, nhưng Hoàng thượng đã ra lệnh tổ chức đại tiệc chúc mừng mùa màng, mời dân chúng Linh Châu đến tham dự, thế là ngày này bỗng trở thành một ngày trọng đại. 

Kỷ Vân Hành khoác lên mình bộ váy áo tinh xảo lộng lẫy, cũng không biết may từ loại vải gấm cao quý nào mà khi mặc vào nhẹ như cánh tiên, mỗi khi ánh nắng chiếu vào lại ánh lên những sắc màu hòa quyện mềm mại, tôn lên khí sắc nàng rạng ngời. Lục Cúc búi cho nàng một kiểu tóc đơn giản, những lọn tóc đen nhánh buông thả trên vai, trên búi tóc cũng chỉ cài thêm một chiếc trâm ngọc trắng thanh nhã. 

Kỷ Vân Hành cầm chiếc quạt ngọc bích trong tay, những tua rua dài rủ xuống khẽ đong đưa theo từng bước đi của nàng.

Hứa Quân Hách ngay lập tức bị thu hút bởi món đồ này, trông hắn giống hệt mèo con nghịch ngợm, lúc thì cầm lấy chiếc quạt của nàng ngắm nghía đùa nghịch trong tay, lúc lại tựa vào vai vào người nàng như không có xương sống.

Kỷ Vân Hành nắm lấy tay Hứa Quân Hách, so sánh bàn tay nhỏ nhắn của mình với những ngón tay thon dài của hắn, buột miệng hỏi: “Lương Học mệt lắm hả?” 

“Ừm, rất mệt.” Hắn khẽ đáp, giọng đầy mệt mỏi: “Cho ta dựa vào nghỉ ngơi một lát.” 

Kỷ Vân Hành không nói gì thêm, còn chu đáo điều chỉnh tư thế để hắn dựa vào mình ngủ thoải mái hơn.

Xe ngựa một mạch chạy đến địa điểm tổ chức đại tiệc, lúc bước xuống xe Kỷ Vân Hành mới thực sự cảm nhận được, bữa tiệc hôm nay náo nhiệt đến cỡ nào.

Đại tiệc tổ chức tại một bãi cỏ rộng lớn ở ngoại ô khu Đông thành. Kỷ Vân Hành từng đến đây, nơi này trước kia từng là điểm hành quân đóng quân luyện tập của binh lính, sau này khi hành quân thay đổi vị trí, nơi này cũng không bị bỏ hoang, mỗi năm đều có người đến dọn dẹp giẫy cỏ.

Kỷ Vân Hành từng theo Tô Y đến đây đưa đồ, khi đi ngang qua đây phóng tầm mắt ra xa, bãi cỏ mênh mông tựa như không thấy điểm cuối. 

Thế mà hôm nay đến đây lại nhìn thấy trên bãi cỏ đã chật kín người, nhìn đâu đâu cũng thấy đầu người đen nghịt xếp thành lớp lớp, náo nhiệt không tưởng. 

Được diện kiến Thiên tử là niềm vinh hạnh mà bao người dân ao ước cả đời. Huống hồ còn được tham dự yến tiệc do chính Hoàng Đế thiết đãi, nếu như có thể nếm chút rau thịt, nhấm nháp chút hơi rượu, có thể khoe khoang cho con cháu đến tận ba đời sau: “Ông đây từng tham dự tiệc cùng với Hoàng thượng!”

Dù cho Hứa Quân Hách và Kỷ Vân Hành đã đến rất sớm, nhưng Linh Châu toàn là những người dân cần cù chăm chỉ, lúc này mặt trời còn chưa mọc lên cao mà bãi cỏ đã gần như không còn chỗ đặt chân.

Hàng trăm hàng ngàn cấm quân đã đứng sẵn tại các vị trí ở các góc để duy trì trật tự. Bãi cỏ lấy khu vực sân khấu làm trung tâm, ở chính giữa bày các bàn ghế xa hoa dành cho Hoàng Đế cùng với các đại thần. Ở hai bên cánh là chỗ ngồi dành cho quan viên địa phương của Linh Châu. Toàn bộ khu vực này được dựng mái che nắng, cách đó vài mét là cấm quân canh phòng, phía sau nữa mới là chỗ của người dân.

Vì để đường đi thông thoáng, ở mỗi con đường đi đều đã dựng hàng rào gỗ, cứ cách vài bước chân sẽ có cấm quân canh gác, do đó dù đông người nhưng vẫn trật tự đâu vào đấy.

Kỷ Vân Hành và Hứa Quân Hách vừa đến đã được cấm quân dẫn đến vị trí trung tâm. Lúc đến nơi, nàng đã nhìn nhấy Phàn Văn Trạm và Thiếu tướng quân Thích Khuyết đang trò chuyện với nhau, trông thấy Hứa Quân Hách đã tới, cả hai lập tức đứng dậy bước tới hành lễ với hắn. 

“Điện hạ, hôm nay trông ngài tràn trề sức sống.” Thích Khuyết tươi cười trêu chọc.

Hứa Quân Hách lười biếng nhếch môi, cũng không đáp lại bằng những lời khách sáo cho có lệ . Phàn Văn Trạm nhanh chóng chuyển sự chú ý, quay sang nói với Kỷ Vân Hành:

“Kỷ cô nương, hôm nay có rất nhiều phu nhân và gia quyến các quan viên đến dự. Cô muốn ngồi cùng với Điện hạ của bọn ta hay với các nữ quyến khác?”

Còn chưa đợi Kỷ Vân Hành trả lời, Hứa Quân Hách đã trừng mắt lườm Phàn Văn Trạm: “Từ bao giờ ngươi lại nói nhiều vậy?”

Kỷ Vân Hành còn nghiêm túc suy nghĩ vấn đề này một hồi, sau đó mới hỏi ngược lại: “Ta ngồi cùng với Lương Học, liệu có hợp quy củ không?”

Dĩ nhiên là không hợp lễ nghi. Xưa nay những yến tiệc thế này thường quy định các nữ quyến hoặc ngồi chung một chỗ với nhau, hoặc ngồi cạnh phu quân của mình. Phàn Văn Trạm vừa định lên tiếng giải thích, nhưng Hứa Quân Hách ở bên cạnh đã nhanh miệng hơn: “Hợp, tất nhiên là hợp, lấy đâu ra nhiều quy củ đến như thế chứ! Hôm nay đã là dự tiệc, sao phải câu nệ quy củ, cứ thoải mái là được rồi!”

Hắn vừa nói vừa kéo tay Kỷ Vân Hành đi vào trong, còn không quên lườm Phàn Văn Trạm một cái đầy cảnh cáo.

Hứa Quân Hách ngồi ngay bên trái Hoàng Đế, là vị trí duy nhất gần Hoàng Đế nhất trong toàn bộ đại tiệc. Chiếc bàn của hắn cũng lớn hơn hẳn những người khác, trên bàn bày biện sẵn trà bánh.

Hai người vừa ngồi xuống, Kỷ Vân Hành đảo mắt nhìn xuống bên dưới chỉ thấy biển người đông nghìn nghịt, có vô số ánh mắt đều nhìn hướng về phía này. Nàng chỉ liếc qua một cái rồi nhanh chóng quay đầu lại, nắm lấy tay Hứa Quân Hách, nhỏ giọng nói: “Nhiều người thật đó.”

“Vậy thì đừng nhìn nữa.” Hứa Quân Hách trấn an nàng một câu, cầm lấy một miếng bánh ngọt đưa cho nàng: “Nàng ăn chút đi, chắc sắp bắt đầu rồi.”

Thời tiết cuối tháng sáu đầu tháng bảy là thời điểm nóng nực nhất. Yến tiệc này chắc chắn sẽ kết thúc trước giờ Ngọ, bởi vì Hoàng Đế tuổi đã cao, không thể chịu nổi cảnh phơi mình dưới cái nắng gay gắt.

Vị trí này gần núi, trời sáng sớm gió thổi mát rượi. Kỷ Vân Hành phe phẩy chiếc quạt trong tay, thong thả ăn bánh ngọt, đảo mắt nhìn chung quanh: “Lương Học, sao ta không thấy Thiệu Sinh ca và Tiết thúc đâu cả?”

“Chắc đang bận việc.” Hứa Quân Hách đáp bâng quơ, sau đó căn dặn nàng ngồi yên rồi đứng dậy rời đi.

Ánh mắt Kỷ Vân Hành dõi theo bóng lưng hắn một hồi lâu, đợi khi hắn khuất bóng trong biển người, nàng mới quay đầu lại tiếp tục ăn bánh, thẫn thờ nhìn xung quanh.

Ngay sau đó, các quan viên ở Linh Châu cũng lục tục đến nơi. Dưới sự chỉ dẫn của cấm quân, họ ngồi vào vị trí của mình, những khoảng ghế trống cũng dần dần được lấp đầy.

Kỷ Vân Hành ngồi ở vị trí gần chỗ Hoàng Đế như thế, không tránh khỏi sẽ bị ánh mắt của mọi người soi mói. Những người đi ngang qua đều kín đáo quan sát nàng. Kỷ Vân Hành ngồi thừ người ở đó một lát, nàng cảm thấy chán ngắt, đang định đứng dậy đi đâu đó thì vừa lúc bị Hứa Quân Hách trở về bắt gặp: “Muốn đi đâu?”

Kỷ Vân Hành tỏ ra bất mãn, bĩu môi: “Sao lại bỏ ta ở đây một mình?”

“Vừa nhớ ra chuyện cần dặn dò Thích Khuyết.” Hứa Quân Hách thấp giọng dỗ dành nàng ngồi xuống, sau đó nói nhỏ bên tai nàng: “Hôm nay người đến rất đông, nàng phải luôn ở bên cạnh ta, cẩn thận có biến.”

“Biến gì cơ?” Kỷ Vân Hành bắt lấy trọng tâm hỏi vặn lại, ánh mắt vô cùng nghiêm túc: “Có phải sẽ xảy ra chuyện gì không?”

Hứa Quân Hách đáp: “Đó là đương nhiên.”

Một yến tiệc lấy cớ mừng mùa màng bội thu, nghe thế nào cũng thấy có điều vô lý, huống hồ đây không phải mùa thu hoạch. Những người tinh ý đều nhận ra điều bất thường bên trong, huống hồ là người vốn cẩn trọng và tham sống như Tôn tướng, đương nhiên cũng nhìn ra được những điều khuất tất trong yến tiệc này.

Nhưng trước đó khi ông ta cáo bệnh với Hoàng Đế, nói mình không muốn đến tham dự bữa tiệc này, lại bị Hoàng Đế bác bỏ ngay, còn quả quyết nói rằng ngày vui cùng dân chúng, ông đường đường là Hoàng Đế còn phải đến ngồi mấy canh giờ, chứ đừng nói gì đến các đại thần cấp dưới.

Thế nên, tất cả các quan viên Linh Châu đều không được phép vắng mặt, ai nấy đều tranh thủ đến sớm trước khi nắng lên.

Đột nhiên, từ phía xa truyền đến tiếng ồn ào náo nhiệt, không biết đã có điều gì khiến mọi người xôn xao. Kỷ Vân Hành ngóng cổ nhìn xung quanh, đợi một lúc sau mới thấy Hứa Thừa Ninh cùng Tôn tướng chầm chậm bước vào.

Không biết có phải là vì chân bị thương quá nặng hay không mà đến hôm nay Hứa Thừa Ninh vẫn phải chống gậy, trên người khoác một chiếc trường bào dày cộm giữa tiết trời nóng nực. Sắc mặt ông ta trắng bệch như tuyết, cả người toát ra vẻ yếu ớt bệnh tật. Tôn Tề Tranh đi bên cạnh, vẻ mặt trang trọng nghiêm túc vô cùng. Dân chúng kính yêu Hiền tướng, thế nên từ sau khi Tôn Tề Tranh xuất hiện, rất nhiều người dân hô to “Tôn đại nhân, Tôn đại nhân” không ngừng, hoàn toàn không hề che giấu sự ngưỡng mộ của mình.

Trì Tiện đi theo ở phía sau hai người, hắn ta vẫn giữ gương mặt lạnh nhạt không cảm xúc như thường lệ.

Hứa Thừa Ninh và Tôn tướng ngồi gần nhau ngay bên tay phải của Hoàng Đế, cách vị trí của Kỷ Vân Hành một đoạn khá xa.

Nàng lặng lẽ quan sát từ lúc Hứa Thừa Ninh đi vào đến lúc ngồi xuống ghế, từ trên nét mặt của ông ta nhìn ra được vẻ mệt mỏi không thể che lấp. Có lẽ khoảng thời gian này ông ta đã sống không thoải mái cho lắm, dáng vẻ yếu ớt tiều tụy đến lạ, cho dù hôm nay ông ta có chết ngay tại đây, Kỷ Vân Hành cũng không cảm thấy quá bất ngờ.

Mới vừa nhìn một lúc đã bị Hứa Quân Hách rướn người sang chắn ngang, hắn xụ mặt hỏi: “Cứ nhìn chằm chằm vào ngực ta làm gì thế?” 

Kỷ Vân Hành sững sờ: “Ta đâu có! Lương Học, ngài chắn mất tầm nhìn của ta rồi.” 

Hứa Quân Hách chẳng hề động đậy, còn tiện thể đưa tay kéo cổ áo xuống để lộ ra da thịt phần cổ trắng ngần, hừ một tiếng: “Nếu đã muốn nhìn ta như vậy thì cứ nhìn thêm một lúc nữa đi, ta cũng không phải người nhỏ mọn đâu.” 

Kỷ Vân Hành chỉ nhỏ giọng đáp lại: “Ta đang nhìn Ninh Vương gia cơ mà.” 

Hứa Quân Hách tức giận, hắn thầm nghĩ, Kỷ Vân Hành là cái đồ không biết tốt xấu, đã cho đường lui mà còn không chịu xuống, vậy đừng trách hắn không khách sáo! 

Hứa Quân Hách cúi sát xuống, nhe răng trợn mắt làm bộ hung dữ: “Còn nhìn nữa ta sẽ cắn đứt miếng thịt trên má nàng đó, chỉ được nhìn ta thôi.” 

Kỷ Vân Hành bị dọa sợ, không hiểu vì sao hắn lại nổi nóng bất chợt như vậy, nàng lập tức dời ánh mắt nhìn chằm chằm vào cổ hắn, hỏi nhỏ: “Vậy ta phải nhìn bao lâu mới có thể đảm bảo được gò má an toàn?”

Hứa Quân Hách nghe vậy bỗng phì cười, cảm thấy nàng đáng yêu vô cùng, bèn đưa tay véo nhẹ lên má nàng đầy thích thú.

Nửa canh giờ sau, Thánh giá đã đến.

Kỷ Vân Hành nhìn thấy biển người trước mặt đồng loạt cúi rạp xuống như sóng lúa khi gió thổi qua đồng. Tiếp đó, các quan viên ngồi dưới mái lều cũng lần lượt đứng dậy, vén áo bào quỳ xuống đất. Kỷ Vân Hành cũng bắt chước quỳ xuống theo, chỉ nghe thấy một tiếng hô vang dội như sấm bên tai: 

“Ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” 

Âm thanh đó vang vọng rất lâu khắp núi đồi, mạnh mẽ và hùng hồn như triều dâng sóng dậy.

Hoàng Đế bước xuống kiệu, đứng trên ngai cao chính giữa, cất giọng uy nghiêm: “Bình thân.” 

Tiếng xôn xao không dứt bên tai, dân chúng nhao nhao đứng dậy. Hứa Túc Dụ nói vài câu khách sáo với các quan viên bên cạnh rồi hạ lệnh ban ngồi. Sau đó tất cả mọi người đều lần lượt trở về chỗ ngồi một cách trật tự. Đến lúc này, bữa tiệc mới chính thức bắt đầu.

Mười tám chiếc trống lớn đồng loạt gõ vang, kèn lệnh kéo một hơi dài, một loạt các món ăn được lần lượt được bưng lên bàn. Hàng ngàn kẻ hầu người hạ nối đuôi nhau đi vào, chia thành nhiều hướng dâng lên các món ăn trong tay đi đến các bàn tiệc. Bãi cỏ này dù có lớn thế nào đi nữa cũng không thể chứa hết dân chúng Linh Châu, huống hồ nơi này còn bày biện rất nhiều thứ, cho dù nơi này đã chật kín người cũng chỉ là một phần nhỏ so với số người dân đang đứng bên ngoài.

Trên sân khấu đã được kéo màn, các diễn viên trong phục trang lộng lẫy bước lên biểu diễn. Tiếng kèn trống, sáo nhịp dồn dập hòa với giọng hát hí khúc vang vọng.

Cảnh tượng tiệc tùng hết sức náo nhiệt, dân chúng đều vô cùng phấn khích, nhưng dường như họ không hề đến để xem kịch, tiếng ồn ào bên dưới sân khấu thậm chí còn lấn át tiếng hát của các diễn viên trên đài. Nhưng Hoàng Đế lại làm như không nghe thấy, trên gương mặt ông vẫn tươi cười, vừa uống rượu và chuyện trò cùng với người bên cạnh, dáng vẻ trông rất thoải mái.

Kỷ Vân Hành nghe không hiểu những lời hát khúc trên sân khấu, bên tai nàng chỉ còn vọng đến những lời tán gẫu của những người xung quanh, nàng cảm thấy chẳng thú vị chút nào.

Nàng quay sang Hứa Quân Hách, hỏi nhỏ: “Lương Học, chẳng phải ngài nói hôm nay sẽ có thể gặp được Thiệu Sinh ca hay sao? Sao đến giờ ta vẫn chưa thấy huynh ấy đâu?” 

Đôi mắt Hứa Quân Hách không rời khỏi sân khấu như đang xem kịch rất chăm chú. Hắn cầm chén rượu lên thong thả nhấp một ngụm rồi trả lời nàng: “Đừng vội, sắp gặp được rồi.” 

Kỷ Vân Hành nghe vậy liền ngóng cổ nhìn xung quanh, cố tìm bóng dáng Thiệu Sinh trong đám đông nhưng nhìn mãi mà chẳng thấy đâu.

Nàng tiu nghỉu rụt cổ lại, nghĩ rằng Hứa Quân Hách chỉ thuận miệng nói qua loa như vậy để dỗ dành nàng, có lẽ hôm nay nàng sẽ chẳng gặp được Thiệu Sinh.

Nàng chống cằm, ngón tay gõ nhẹ trên mặt bàn, bên tai nàng là đủ loại âm thanh ồn ào khiến đầu nàng ong ong quay cuồng. Nàng thở dài một hơi chán chường, trong lòng chỉ muốn trở về nghỉ ngơi.

Nhưng đúng lúc Kỷ Vân Hành mặt ủ mày chau định mở miệng nói với Hứa Quân Hách mình muốn về, tiếng nhạc khúc trên sân khấu đã đột ngột dừng lại.

Khung cảnh vốn ồn ào náo nhiệt cũng vì tiếng nhạc dừng mà dần dần lắng xuống, mọi người cứ tưởng rằng vở diễn đã kết thúc, ai nấy đều ngước mắt nhìn về phía sân khấu. Nhưng lúc này lại nhìn thấy có một người hóa trang theo kiểu đàn ông trung niên bước ra giữa sân khấu, trên người chỉ mặc một chiếc y bào cũ nát, ăn mặc khác biệt với những diễn viên khác, người này không mặc trang phục cầu kỳ, không đeo râu giả mà trên mặt cũng chẳng trang điểm đậm nét. 

Kỷ Vân Hành vô thức ngẩng đầu lên nhìn thoáng về phía người đó, cả người lập tức sững lại. Nàng không nhìn rõ khuôn mặt của người diễn viên đó, chỉ cảm giác bóng dáng đó rất quen mắt.

Sau đó đã thấy người nọ bước hai bước về phía trước, giọng điệu trong trẻo cất lên:

“Lửa dựng ngút đầu, tựa lan can, trận mưa vừa dứt!”

Toàn bộ người bên dưới chợt ồn ào náo động, tiếng vỗ tay hô hào bỗng vang lên không ngờ như làn sóng nhấn chìm người trên sân khấu. Cũng nhờ một câu hát đó, Kỷ Vân Hành đã nhận ra đó là giọng của Thiệu Sinh. Nàng kinh ngạc mở to mắt nhìn chằm chằm vào người nọ, càng nhìn càng thấy giống Thiệu Sinh.

Đợi đến khi những tràng vỗ tay dần thưa, âm thanh trên sân khấu trở nên rõ ràng hơn, tiếng kèn xô na đột ngột vút cao hòa cùng tiếng chiêng trống vang dội, nhạc khúc đồng loạt cất lên.

“Chẳng an nhàn, thiếu niên đầu sớm bạc, bi thiết không nguôi.”

Gió lớn đột ngột nổi lên, mây mù dày đặc che khuất mặt trời, bầu trời không phút chốc trở nên u ám, đám đông ồn ào bên dưới sân khấu bỗng im bặt, chăm chú lắng nghe tiếng ngâm nga du dương đầy nhịp điệu trên đài.

Cũng chính vào lúc này, mọi người mới phát hiện ra vở diễn đầu tiên hát trên sân khấu chính là…

“Tận trung báo quốc.” Kỷ Vân Hành thấp giọng lẩm bẩm.

Hát đến câu cuối cùng của bài Mãn Giang Hồng, các nhạc cụ khác trên sân khấu đã dừng lại, chỉ có kèn xô na là vẫn còn đó, thổi lên một khúc bi tráng.

Chợt thấy Thiệu Sinh vén áo bào quỳ xuống sân khấu, cất cao giọng nói: “Hoàng thượng, thảo dân có oan tình, khẩn cầu Thánh minh!” 

Mọi người bên dưới sân khấu ngạc nhiên vô cùng, tiếng bàn tán xì xào bắt đầu vang lên như sóng dữ cuồn cuộn không ngớt, bởi vì ở nơi này quá đông người, khiến cảnh tượng ầm ĩ tột cùng.

Thứ sử Linh Châu nhìn khung cảnh trước mắt đã sợ đến tái mặt, lớn tiếng quát: “To gan! Nếu ngươi có oan tình gì cứ việc đến gõ trống báo án, hà cớ gì lại quấy nhiễu yến tiệc của Hoàng thượng? Người đâu, mau lôi hắn xuống!” 

Thiệu Sinh quỳ thẳng lưng, dõng dạc nói: “Án oan này người ngoài không thể giải quyết nổi, chỉ có thể giao cho Hoàng thượng định đoạt.” 

Tôn Tề Tranh lập tức đứng dậy, khom mình hành lễ với Hoàng Đế: “Hoàng thượng, đây chẳng qua chỉ là điêu dân gây rối, kéo xuống dạy dỗ một trận là được.” 

Ông ta quay đầu, lớn tiếng quát đám cấm quân bên cạnh: “Sao còn chưa ra tay?” 

Cấm quân nghe lệnh hành động, nhanh chóng xông lên sân khấu. 

Thiệu Sinh không hề tỏ ra hoảng hốt, trước hết y dập đầu trước Hoàng Đế, sau đó mới nói: “Thảo dân hôm nay đến bẩm báo một vụ oan tình xảy ra mười chín năm trước. Đó là vụ án nhà họ Bùi bị vu oan tham ô hối lộ, mưu hại Thái tử. Những tang vật kếch xù được tìm thấy năm ấy trong nhà riêng Bùi gia đều do kẻ gian dựng lên để vu oan giá họa!” 

Hoàng Đế đột nhiên đập mạnh xuống bàn, phát ra tiếng “rầm” chấn động, trên gương mặt lộ rõ vẻ giận dữ: “Làm càn!” 

Thiên tử nổi giận, tất cả quan viên lập tức bước ra quỳ xuống, ngay cả dân chúng cũng nháo nhào cúi người khuỵu gối, đồng thanh hô lớn: “Hoàng thượng bớt giận…” 

Lúc này Hứa Quân Hách cũng đứng ra lên tiếng: “Vụ án năm xưa đã lục soát ra nhiều chứng cứ rõ ràng như vậy, sao có thể nói là bị oan được? Hoàng thúc, người nói có phải không?” 

Hứa Thừa Ninh bị điểm mặt gọi tên, lúc này cũng bước ra: “Lương Học nói rất đúng. Phụ hoàng, kẻ này rắp tâm gây rối, kéo ra ngoài xử trảm là xong, chớ tức giận làm tổn hại sức khỏe.” 

Nơi này vừa nãy vốn ồn ào giờ đây bỗng im lặng lạ thường, không một tạp âm nào vọng lại. Chợt nghe Hoàng Đế lạnh lùng hỏi: “Rốt cuộc ngươi là ai?” 

Câu hỏi này nhằm vào Thiệu Sinh ở trên đài, Kỷ Vân Hành hồi hộp lén ngẩng đầu lên nhìn về phía sân khấu.

Thiệu Sinh vẫn quỳ thẳng trên sân khấu ở vị trí trung tâm, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn thẳng về phía Hoàng Đế, cất tiếng dõng dạc: “Thảo dân họ Bùi, tên Thiệu Sinh, gia phụ là Bùi Diên Văn. Ông nội của thảo dân là huynh đệ ruột với Bùi Hàn Tùng đại nhân.” 

Lời này vừa nói ra như sấm sét đánh ngang tai, không chỉ với những người có mặt ở đây, mà còn giáng một cú thật mạnh vào trái tim Kỷ Vân Hành.

Hứa Thừa Ninh giật mình, lập tức quát lớn: “Không thể nào!” 

Gương mặt ông ta đỏ bừng, vì quá kích động nên ho khan liên tục, sau đó vội vã quay sang thưa với Hoàng Đế: “Phụ hoàng, năm đó khi Bùi gia chịu tội, tất cả nam đinh trực hệ đều đã bị xử tử! Tuyệt đối không thể có người sống sót!” 

Bùi Hàn Tùng tuy có nhiều đường đệ thứ đệ, nhưng chỉ có một người đệ đệ ruột. Dòng chính Bùi gia ít ỏi, đệ đệ của ông ấy cũng chỉ có một người con trai, tên là Bùi Diên Văn. Năm ấy khi Bùi gia gặp nạn, Bùi Diên Văn có một đứa con trai nhỏ chỉ mới sáu tuổi. Những người này đều là đối tượng bị xử lý nghiêm ngặt nhất, mà chính Hứa Thừa Ninh là người trực tiếp phụ trách việc này nên cũng đã xem xét rất kỹ lưỡng. 

Hứa Thừa Ninh nhớ rất rõ, năm đó đứa trẻ ấy đang chơi trong ngôi nhà riêng của Bùi gia ở ngoại ô, đã bị thuộc hạ của ông ta g**t ch*t cùng những đứa trẻ mồ côi khác, thi thể của nó còn được mang về. Lúc đó Hứa Thừa Ninh còn xác nhận hết lần này đến lần khác, thấy trên người nó mặc áo gấm, lại mang theo ngọc bài của Bùi gia, ông ta còn gặng hỏi thuộc hạ mấy lần, sau khi xác nhận không có sai lầm gì mới ném thi thể vào đống lửa thiêu cháy toàn bộ, vì vậy ông ta tự cho rằng tuyệt đối sẽ không còn sơ suất gì nữa.

Nhưng không ngờ Thiệu Sinh lại nói: “Năm đó, thảo dân đang ở trong ngôi nhà ngoại ô thì xảy ra vụ thảm sát, có một đứa trẻ mồ côi là bạn thân của thảo dân, vì cảm kích công ơn nuôi dưỡng của gia phụ đã đề nghị đổi quần áo với thảo dân, để thảo dân trốn thoát qua lỗ chó, nhờ đó mới giữ được mạng sống.” 

Hứa Thừa Ninh nghiến răng căm phẫn đến cực độ, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh, quay sang Hoàng Đế nói: “Phụ hoàng, người này chỉ nói miệng không có bằng chứng, rõ ràng là đến cố ý phá rối đại tiệc. Chuyện năm đó, nhi thần không dám có chút sơ sót nào, đảm bảo đã xác nhận thân phận của từng tội nhân một, nam đinh dòng chính của Bùi gia tuyệt đối không thể có người nào sống sót.” 

Hoàng Đế liếc nhìn sang Hứa Thừa Ninh bằng ánh mắt lạnh lẽo, sau đó quay sang nhìn về phía Thiệu Sinh: “Ngươi có chứng cứ gì không?” 

Thiệu Sinh liền thò tay vào trong ngực áo lấy ra một phong thư, y cẩn thận mở thư trải ra ba trang giấy giơ lên cao, gió thổi làm những trang giấy lay động phần phật, nét chữ bên trên đỏ như màu máu. 

“Đây là bức huyết thư mà ông bác của thảo dân đã để lại năm đó khi bị giam trong ngục, ông ấy đã dùng máu của mình viết thành lời, muốn bày tỏ rõ ràng nỗi oan khuất với Hoàng thượng, với người trong thiên hạ.” 

Năm đó khi Bùi Hàn Tùng bị giam vào ngục, trên khắp đường phố từng có tin đồn nói rằng ông từng để lại một bức huyết thư, viết đầy những nguyện vọng của mình. Chỉ là chưa có ai từng nhìn thấy bức thư đó, đến nay khi Thiệu Sinh giơ cao trong tay để mặc cho gió thổi, những nét chữ đỏ rực bằng máu chi chít trên đó nhìn thôi cũng khiến người ta thấy ám ảnh.

Thiệu Sinh nói lớn: 

“Tổ huấn của Bùi gia xưa nay là ‘Tận trung báo quốc’, bản thân thảo dân từ khi sinh ra đời, bốn chữ ấy đã khắc sâu vào trong xương cốt. Ông bác cả đời tận trung vì nước, chưa từng có suy nghĩ hai lòng với Hoàng thượng! Đáng tiếc ông ấy lại bị kẻ gian gài bẫy hãm hại, ngậm oan mà chết, hại cả Bùi gia phải chịu cảnh diệt môn! Thảo dân giấu họ giấu tên sống tạm bợ cho đến ngày hôm nay là để chờ được trình bức huyết thư này lên Hoàng thượng!”

“Hoàng thượng, Hoàng thượng,…” Thiệu Sinh nghẹn ngào khóc nức nở, nước mắt giàn giụa chảy xuống, y dùng hết sức bình sinh để gào thét như muốn để từng người có mặt ở đây đều phải nghe thấy: “Bùi gia trong sạch!”

Kỷ Vân Hành nghe đến đây đã ngã quỵ, nàng khóc không thành tiếng, trong lòng chấn động vô vàn như không có lời nào có thể diễn tả được.

Hứa Quân Hách tiến lên hai bước, quát to: “Bùi Thiệu Sinh, ngươi chỉ mặt gọi tên ai?” 

Thiệu Sinh dõng dạc đáp: “Kẻ gian năm đó hãm hại Bùi gia chính là Thừa tướng đương triều, Tôn Tề Tranh! Trong tay thảo dân đã thu thập được đủ bằng chứng của từng sự việc một, nguyện đem tội ác của Tôn Tề Tranh trình lên Hoàng thượng!” 

“Hoàng thượng, vi thần bị oan!”

Mặt mày Tôn Tề Tranh biến sắc, vội quỳ xuống dập đầu: “Lão thần vì nước tận tâm tận lực nhiều năm nay, thanh danh trong sạch, sao có thể để cho kẻ này ngậm máu phun người!” 

Cũng đúng vào lúc này, âm thanh huyên náo lại vang tới. Dân chúng ở bên dưới đài bàn tán nhốn nháo cả lên, mơ hồ còn có vài lời to tiếng, nói rằng Tôn tướng cả đời liêm khiết, hết mình vì dân, không thể bị vu oan như vậy. Tiếng hô hào lan nhanh như quả cầu tuyết càng lúc càng to, chẳng mấy chốc mọi người đồng thanh hô lớn như muốn nhấn chìm Thiệu Sinh, cũng vang vọng bên tai Kỷ Vân Hành.

Nàng ngẩng đầu lên, đôi mắt nhập nhèm nước mắt nhìn qua đám đông người trước mắt, trong tai chỉ còn tiếng kêu đòi công lý cho Tôn tướng. 

Các quan viên cũng đồng loạt dập đầu cầu tình cho Tôn Tề Tranh, Hứa Thừa Ninh cũng vác cái thân bệnh tật quỳ xuống, thế cục như đang nghiêng hẳn về một bên. Chỉ có Hứa Quân Hách vẫn đứng yên bên cạnh Hoàng Đế.

Đúng lúc cảnh hỗn loạn xảy ra, bỗng một mũi tên từ đâu lao tới đâm thẳng vào xương bả vai của Thiệu Sinh. Chỉ nghe thấy tiếng hét thảm thiết của y vang lên, máu tươi tuôn trào, cơ thể loạng choạng ngả về sau, nhưng chẳng mấy chốc y đã gượng bò dậy, cắn răng hô lớn: “Hoàng thượng!” 

Kỷ Vân Hành kinh hoàng đến thất thần, bật khóc gọi lớn: “Thiệu Sinh ca!” 

Trước đó, Tôn Tề Tranh vẫn còn khá ung dung, dù trên mặt trông có vẻ căng thẳng nhưng không có vẻ gì là bí bách sắp bị dồn vào đường cùng.

Thế nhưng khi nhìn thấy Thiệu Sinh ở trên đài bị trúng tên, sắc mặt ông ta lập tức trắng bệch, cơ thể run rẩy không ngừng như bị một gáo nước lạnh dội thẳng vào người. 

Một mũi tên khác lại lao tới cắm thẳng vào bụng Thiệu Sinh, khiến y phun ra một ngụm máu, cho dù khuôn mặt đã được hóa trang cũng không thể che giấu vẻ đau đớn và bi thương, nhưng y vẫn há miệng đầy máu tiếp tục hô lớn: “Hoàng thượng!” 

Mũi tên thứ ba tiếp tục bắn tới lại lần nữa bắn trúng vào người Thiệu Sinh, y ôm vết thương cố gắng từ trên đất gượng đứng dậy, bước chân lảo đảo không vững, giọng nói pha lẫn khẩn cầu và phẫn nộ vang vọng trời đất: “Trả lại sự trong sạch cho Bùi gia ta…!” 

“Có thích khách! Hộ giá! Bảo vệ Hoàng thượng!” Hứa Quân Hách lớn tiếng hô lên, thuận tay túm lấy Kỷ Vân Hành đang ngã ngồi trên mặt đất, gấp gáp gọi: “Thích Khuyết!” 

Tiếng thét kinh hoàng vang lên khắp nơi, mọi người bắt đầu chạy trốn trong sợ hãi. Các quan viên càng thêm hoảng loạn, cấm quân nhanh chóng tràn đến, tản ra mọi hướng để duy trì trật tự. 

Kỷ Vân Hành đã khóc đến mờ mắt, thơ thẩn để mặc Hứa Quân Hách kéo vào vòng bảo vệ của cấm vệ quân. Thị vệ trái phải ba lớp bao quanh Hoàng Đế tạo thành lá chắn kiên cố. 

Trên bãi cỏ người đông như kiến, chỉ việc duy trì trật tự đã tiêu tốn không ít công sức. Song, ngoài ba mũi tên ban đầu nhắm vào Thiệu Sinh ra, hoàn toàn không có bất kỳ cuộc tấn công nào khác xảy ra. Dường như thích khách xuất hiện chỉ nhằm mục đích giết Thiệu Sinh mà thôi. 

Hoàng Đế xanh mặt, không nói lời nào. Các quan viên kinh hồn bạt vía chỉ biết run rẩy cúi đầu, không dám hé môi nửa lời. Sắc mặt Tôn Tề Tranh và Hứa Thừa Ninh đều tái nhợt như tro, cố tỏ vẻ bình tĩnh nhưng trong lòng rõ ràng đã rối loạn. 

Ngay sau đó, Thích Khuyết đẩy đám đông ra hai bên sải bước đi đến, hắn ta quỳ xuống trước mặt Hoàng Đế, hai tay dâng ba mũi tên trong tay lên, bẩm báo: “Hoàng thượng, người trên sân khấu đã tắt thở, đây là những mũi tên rút ra từ cơ thể hắn.” 

“Có ý gì?” Hoàng Đế cau mày, trầm giọng hỏi. 

“Thần không dám đoán bừa, kính xin Hoàng thượng tự mình xem xét.” Thích Khuyết cung kính đáp. 

Hứa Quân Hách tiến lên, cầm một mũi tên trong số đó lên kiểm tra. Đầu tên đã được lau sạch, nhưng sau khi thấm máu chữ khắc trên đó càng trở nên rõ ràng hơn. 

Hắn ngẩng đầu, lạnh lùng nhìn về phía Tôn Tề Tranh: “Đây chẳng phải là mũi tên của Tôn đại nhân sao?” 

Tôn Tề Tranh lập tức quỳ rạp xuống, dập đầu đập mạnh xuống đất, giọng run rẩy: “Hoàng thượng, lão thần bị oan! Tất cả chỉ là vở kịch của tên tiểu tử không rõ lai lịch kia bịa đặt dựng nên! Lão thần làm sao biết hắn sẽ đột nhiên xuất hiện ở đây nói mấy lời này, chứ đừng nói chi đến việc dàn xếp người giết hắn ngay giữa thanh thiên bạch nhật? Làm thế chẳng phải là tự chuốc họa vào thân hay sao! Hoàng thượng, lão thần thực sự bị vu oan!” 

Hoàng Đế đập mạnh xuống bàn, giận dữ quát: “Vậy những mũi tên này từ đâu mà có? Chẳng lẽ cũng do tên tiểu tử đó chạy đến phủ nhà ngươi trộm chắc? Việc quản lý binh khí tư nhân trước nay nghiêm ngặt, làm sao hắn có khả năng vượt qua canh phòng để lấy được những vật này từ trong tay ngươi? Trẫm thấy, e rằng vụ án Bùi gia năm đó thực sự có khuất tất, ngươi sợ hắn vạch trần tội trạng của mình trước mặt mọi người nên mới bất đắc dĩ bắn chết hắn ngay tại chỗ! Tôn Tề Tranh, ngươi đúng là gan to bằng trời! Người đâu, cách chức, bắt giam Tôn Tề Tranh vào trong lao! Trẫm muốn xem xem, rốt cuộc vụ án Bùi gia năm xưa có oan khuất gì!” 

Tôn Tề Tranh mặt cắt không còn giọt máu, toàn thân mềm nhũn như bột mì, lúc bị cấm vệ lôi đi mà cũng chỉ biết khóc lóc chứ không cầu xin thêm nữa. 

Trong lòng ông ta hiểu rõ, mọi lời giải thích và cầu xin tha thứ lúc này đều vô ích, cảnh tượng vu oan trước mặt dù ông ta có biện hộ thế nào cũng không nói rõ được. Bởi vì vở kịch này không phải chỉ diễn cho Hoàng Đế xem, mà là cho dân chúng Linh Châu chứng kiến. Diễn viên không chỉ có Thiệu Sinh trên đài, mà còn có Hứa Quân Hách ở dưới đài và cả Hứa Túc Dụ trên ngai. 

Họ nhắc lại vụ án oán hơn mười năm trước chỉ nhằm mục đích bắt giam Tôn Tề Tranh. 

Cũng chính vào lúc này, Kỷ Vân Hành mới hiểu ra rằng nàng không phải trận gió đông đẩy câu chuyện tiến lên. 

Mà Thiệu Sinh mới phải. 

Bùi Thiệu Sinh. 


Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này Truyện Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này Story Chương 106: Cũng chính vào lúc này, Kỷ Vân Hành mới hiểu ra rằng nàng không phải trận gió đông ấy!
10.0/10 từ 24 lượt.
loading...