Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên
Chương 117: Thiên Ảnh
Lâm An vừa trải qua một trận mưa phùn giăng mắc, mờ ảo.
Khúc Du lúc ấy đang ở dốc Hạnh Sơn, phía sau đình Thiên Ảnh, thỉnh giáo nương tử bán rượu trong điền trang về cách ủ rượu hoa hạnh. Xuống núi vừa lúc gặp mưa rơi, nàng đành lấy tay che chắn, vội vàng chạy mấy bước trông có phần luống cuống.
Chẳng bao lâu sau, từ đằng xa nàng đã trông thấy một bóng hình thanh nhã trong xiêm y màu trắng. Châu Đàn cầm một chiếc ô giấy dầu màu vàng úa, ngước nhìn nàng trong màn mưa bay lất phất.
Khúc Du khẽ khựng lại, rồi vội vàng vén váy chạy tới, đón lấy chiếc ô giấy dầu, trong miệng cằn nhằn trách móc: “Sao chàng lại ra đây? Lỡ nhiễm lạnh thì biết làm sao?”
Châu Đàn sắc mặt trắng bệch, nói dăm ba câu đã phải ho khan, dẫu vậy, chàng vẫn khẽ nhếch môi, điềm nhiên đáp: “Ta nhớ nàng lại quên mang ô.”
Hai người đi thêm mấy bước, chàng lại tiếp lời: “Lâm An này chẳng khác gì Biện Đô, mưa nói đến là đến, đây đã là lần thứ ba nàng quên mang ô rồi.”
Khúc Du bực bội: “Dốc Hạnh Sơn chỉ cách mấy bước chân thôi, cần gì ngày nào cũng phải mang theo?”
Châu Đàn “ừm” một tiếng thật khẽ, chàng chỉ cười chứ không nói thêm lời nào.
Chỉ trong chốc lát, trận mưa phùn triền miên kia đã như dẹp cờ im trống, gần như tan biến.
Trong biệt viện nơi hai người ở có một chiếc đình cổ kính tinh xảo. Lúc mới đến, biệt viện được đặt tên là biệt viện Hạnh Hoa, xa xa lại có người tấu khúc Hạnh Hoa Thiên Ảnh, vì vậy Châu Đàn đã tự tay đề hai chữ ‘Thiên Ảnh’ để đặt tên cho chiếc đình này.
Trên cột hành lang đình Thiên Ảnh vẫn còn sót lại câu thơ Khúc Du tùy tiện đề lên lúc bấy giờ: “Nhật mộ, cánh di chu, hướng thậm xứ” (Trời chiều, lại rời thuyền, biết sẽ về đâu?).
Hai người bước vào sân, Châu Đàn liếc nhìn cánh hoa hạnh rụng tơi tả do mưa làm rụng trong sân, chợt cất lời: “Chúng ta vào đình ngồi lát, ngắm cảnh vật sau cơn mưa, được không?”
Thân thể chàng ngày càng suy yếu, thật không nên nán lại lâu trong tiết xuân lạnh lẽo thế này. Khúc Du vừa định mở miệng từ chối, lại đột ngột nhớ đến chiếc khăn tay nhuốm máu mà sáng nay nàng tìm thấy dưới gối.
Đời người ở thế gian, tuổi thọ nên có được là bao, mà niềm vui lại có được là bao?
Nàng nhớ đến câu nàng đã viết tặng Châu Đàn: “Cạn rượu chẳng đề chừa vơi. Chống gậy rong ruổi, cất lời ca vang.”
Thế là Khúc Du khẽ mỉm cười với chàng, đáp lại một tiếng: “Được.”
Châu Đàn dùng chiếc áo choàng bằng lông thú ôm nàng vào lòng, dứt khoát không để ý đến cả phiến đá kê trong đình mà trực tiếp ngồi xuống bậc thềm của đình Thiên Ảnh.
Từ góc nhìn của hai người ngước lên, có thể thấy bầu trời bị những cánh hoa hạnh chia cắt thành những mảnh vụn.
Mưa bay gió nhẹ, Châu Đàn hiếm khi thất thần, chàng ngắm nhìn làn mưa thưa thớt trước hiên, chỉ tĩnh lặng ngồi yên.
Trên cây hạnh có buộc một dải lụa đỏ, giờ đã thấm mưa, không phất lên được, rủ xuống nửa sống nửa chết. Khúc Du không hề quấy rầy Châu Đàn, nhìn chằm chằm vào dải lụa đỏ một lúc, chợt nhớ ra điều gì, bèn quay sang nhìn mái tóc mai của Châu Đàn.
Tóc mai của chàng thanh niên vẫn đen nhánh óng ả, hệt như ngày xưa. Không hề bạc trắng sớm như trong giấc mộng của nàng.
Nàng khẽ yên lòng, tiện miệng hỏi: “Chàng đang nghĩ gì vậy?”
Châu Đàn lỡ lời nói ra sự thật, hiếm khi nào chàng lại thiếu thận trọng như vậy: “Ta đang nghĩ… sau khi ta chết, trên bia mộ nên khắc câu gì đây?”
Vừa dứt lời, dường như chàng nhận ra mình không nên nói, nhưng cũng chẳng biết phải nói gì để bù đắp, đành im lặng. Khúc Du ngẩn người giây lát, cố gượng cười: “Chẳng lẽ đây không phải là chuyện mà thiếp, người lập bia phải nghĩ hay sao?”
Nàng chợt nhớ đến chuyện từ rất lâu về trước: “Thiếp nhớ chàng ở ngoại ô kinh thành hình như cũng đã lập sẵn mộ phần cho mình?”
Châu Đàn gật đầu: “Trước khi rời Biện Đô, ta đã nhờ người mang theo một vốc đất vàng từ sau mộ song thân về đây, coi như chút lòng tưởng nhớ. Còn mộ của chính ta… ta đã cho phá đi rồi.”
“Vì sao?”
Châu Đàn đan hai tay vào nhau, dứt khoát nằm ngửa ra phía sau: “Không muốn chết ở Biện Đô.”
Chàng ngừng lại một chút: “Đến lúc đó, hãy chôn ta trên dốc Hạnh Sơn là được, ta rất thích nơi ấy.”
Khúc Du mím môi, chấp thuận: “Được.”
Một cánh hoa khẽ khàng theo làn mưa cuối cùng bay xuống, đậu trên mí mắt chàng, Châu Đàn cũng lười chẳng buồn đưa tay phủi đi, chỉ hỏi: “Vậy nàng đã nghĩ ra nên khắc câu gì trên mộ bia của ta chưa?”
Khúc Du không lên tiếng.
“Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt, bất phế giang hà vạn cổ lưu.” (Thân danh các ngươi đều tiêu vong, chỉ còn sông núi ngàn thu vẫn chảy hoài).
Châu Đàn nhắm mắt, khẽ khàng ngâm nga, rồi lại tự phủ định: “Không được, tục, tục quá. Ta nghĩ xem còn câu gì khác…”
Khúc Du chống tay lên đầu, nằm nghiêng xuống bên cạnh chàng, nghe Châu Đàn tiếp tục nói: “Nghê huynh kia của nàng có cao kiến gì không? Ta nhớ trước đây mỗi lúc như thế này, nàng đều phải viện dẫn vài câu của ông ấy…”
Châu Đàn ghen tuông vô cớ khiến Khúc Du bật cười: “Nghê huynh phải một ngàn năm sau mới ra đời, Châu đại nhân e rằng không thể gặp được ông ấy rồi.”
Châu Đàn khẽ hừ lạnh một tiếng: “Lần trước nàng còn bảo ông ấy đã sớm thành tiên rồi mà.”
Nói xong câu này, chàng ho khan hai tiếng không rõ nguyên do, Khúc Du lập tức lật mình ngồi dậy, thấy Châu Đàn lấy khăn che mặt, vẫy tay ra hiệu với nàng, có máu tươi theo chiếc khăn thấm xuống nhỏ giọt trên mu bàn tay nàng.
Thấy vẻ mặt nàng, Châu Đàn khẽ th* d*c mấy hơi, đứt quãng mở lời: “Ta nhớ… cây đàn cầm của ta đặt trên bàn sách, nàng đi… lấy giúp ta có được không?”
Nàng biết chàng không muốn nàng nhìn thấy bộ dạng hiện giờ của mình, bèn nén nỗi đau trong lòng đứng dậy, làm theo lời chàng đi tìm cây đàn.
Khi ôm đàn trở về, Châu Đàn đã cất chiếc khăn đi, như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.
“Thôi vậy, giờ mà cứ nghĩ những chuyện này thì có ý nghĩa gì.” Châu Đàn đón lấy cây đàn cầm, đặt ngang trên đùi: “Hãy quý tuổi xuân đừng để nhạt. Hoa nở nên hái chớ ngại ngần”. Ta vì phu nhân đàn một khúc Kim Lũ Y có được không?”
“Được!” Khúc Du nhận lời ngay: “Vậy thiếp sẽ đi hâm nóng một bầu rượu.”
Khúc Du tửu lượng kém, chẳng mấy chốc đã say mềm, nàng lắng nghe tiếng đàn, lười biếng nằm trên đùi Châu Đàn, chợt sinh ra vài phần cuồng ngạo, chỉ lên trời hô lớn: “Mắt ngẩng trời xanh rộng thăm thẳm,
Lòng mang muôn thuở chuyện xưa cũ.
Chẳng thèm tranh luận ân oán mọn,
Để mất bao la chí lớn vừa!” — Tít dịch thơ.Giơ tầm mắt vời trời biếc, ôm muôn cổ chí kim sầu,
Dám chăng kẻ trẻ ôm ân oán, giữa ta với bạn chỉ kể nhau?
Tiếng đàn chuyển gấp, Khúc Du nâng chén rượu trong tay, uống cạn.
“… Nâng chén lớn, nghe Kim Lũ Khúc!”
Châu Đàn đàn xong một khúc, nhẹ nhàng v**t v* khuôn mặt nàng, gạt những sợi tóc mai trên trán nàng sang một bên. Động tác của chàng rất nhẹ nhàng, nhưng Khúc Du lại cảm thấy có thứ gì đó lạnh buốt nơi tay chàng.
Thế là nàng nắm chặt lấy tay chàng, phát hiện trên tay chàng quả nhiên đeo chiếc nhẫn nhẫn ban chỉ bạch ngọc kia.
Nàng bỗng dưng bật khóc nức nở.
Châu Đàn luống cuống tay chân, chỉ biết dịu giọng dỗ dành: “Sao lại khóc rồi, A Liên, ta làm gì khiến nàng buồn lòng sao?”
Khúc Du chỉ nắm chặt tay chàng, xoa đi xoa lại chiếc nhẫn ban chỉ bạch ngọc ấy, mơ hồ thốt lên: “Thì ra… chàng nhìn nó là đang nghĩ về thiếp ư? Chàng đơn độc một mình dưới gốc cây kia là đang… nhớ đến thiếp sao?”
“Nhưng chuyện thiếp cần làm… vẫn còn chưa xong.”
Khúc Du gối đầu bên đùi chàng chìm vào giấc ngủ sâu. Những lời nàng nói, chàng có điều hiểu được cũng có điều không.
Hiểu hay không, dường như cũng không còn quá quan trọng nữa.
Trong tình cảnh này, được nhìn nhau thêm một khắc, mới là điều đáng quý hơn cả.
—
Ngày hôm sau, Khúc Du tỉnh giấc khi mặt trời đã lên cao.
Nàng xoa xoa cái đầu nặng trĩu, tùy tiện khoác một chiếc ngoại bào rồi bước ra cửa. Vừa đẩy cửa, nàng đã thấy Châu Đàn ngồi một mình ở cuối hành lang dài, trên gối đắp một chiếc chăn mỏng giữ ấm, chàng đang ngẩn người nhìn những đóa hoa hạnh trước mặt.
Cảnh tượng cứ như một giấc mộng. Ngay sau đó, Khúc Du nghe thấy hai giọng nói từ phía tường biệt viện vọng đến, tuy nhỏ nhưng lọt vào tai nàng lại vô cùng rõ ràng.
“… Nghe nói vị ở biệt viện Hạnh Hoa này xưa kia là một đại ác nhân, nay bệnh nặng chỉ còn thoi thóp, thế mà chẳng có y quan nào chịu đến thăm khám.”
“Làm nhiều điều ác, trời sẽ không dung!”
Nào phải y quan không chịu đến, nàng đã tìm hết mọi danh y ở Lâm An rồi, nhưng tất cả đều bó tay không biết làm sao.
Sau khi Bách Ảnh mất, cả Thái Y Viện đều đã bắt mạch cho Châu Đàn, không một ai bước ra mà không lắc đầu.
Lâu dần, nàng cũng đành lòng buông xuôi, không dám tìm đại phu nữa, chỉ sợ tìm đến lại là một thất vọng mới.
Nhưng lúc này nàng không kịp nghĩ nhiều.
Sắc mặt Khúc Du chợt trắng bệch, nàng vội vã tăng tốc chạy về phía cuối hành lang, hình như chỉ khi ở bên Châu Đàn, nàng mới cảm thấy an lòng hơn.
Cảnh tượng trong mộng tái hiện.
Nếu nàng nhớ không nhầm, Châu Đàn sẽ qua đời vào đúng lúc này.
Trên đầu là hoa hạnh nở rộ, bên đầu gối là tấm chăn mỏng giữ ấm, bên tai là lời đàm tiếu hiểu lầm của thế nhân, chàng cô độc một mình, tay siết chặt chiếc nhẫn ban chỉ bạch ngọc, tĩnh lặng như vĩnh hằng.
Nàng còn chưa kịp đến bên Châu Đàn thì đã nghe thấy tiếng quát mắng từ bên ngoài tường vọng vào.
Hình như là nương tử bán rượu mà nàng hay đến thỉnh giáo: “Phì, hai người các ngươi đứng ở góc tường này nói càn nói bậy gì đó! Còn dám nói thêm vài câu, coi chừng thối miệng!”
Ngay sau đó là tiếng kêu đau của một người trong số họ: “Nhị nương, sao bà lại không phân biệt phải trái! Nhà này chẳng phải người tốt gì, bà không nghe họ nói sao, người này ở Biện Đô làm điều ác quá nhiều, là một tên cẩu quan!”
Nhị nương mắng lớn, giọng đầy nội lực: “Cái thói ác quỷ chó má gì! Lão nương chỉ biết phu nhân nhà này hiền lành, đại nhân cũng thường xuyên bố thí, quanh quẩn đây mấy dặm, có điền trang nào chưa từng nhận ơn huệ? Hai kẻ vô lại thị phi, nghe gió đoán mưa, nghe lỏm bậy ba vài câu rồi đi rêu rao khắp nơi, còn để ta nghe thấy lần nữa, coi chừng ta cho các ngươi biết tay!”
Khúc Du sững sờ dừng bước.
Châu Đàn dường như hoàn toàn không nghe thấy gì, chỉ quay đầu nhìn về phía nàng nở một nụ cười, tuy nụ cười ấy vẫn trắng bệch nhưng không hề có vẻ yếu ớt của người sắp chết: “Nàng chạy cái gì, cẩn thận một chút.”
Nàng từ từ bước thêm vài bước, chợt nghe có tiếng gõ cửa tiền viện. Người mở cửa lại chính là Nhị nương vừa rồi mắng người ngoài kia, bên tay dắt theo một đứa trẻ tóc còn búi chỏm.
Khúc Du chưa kịp phản ứng, ngơ ngác hỏi: “Nhị nương sao lại đến đây?”
Nhị nương mặt tươi rói cười xòa, không còn chút vẻ đanh đá lúc ở ngoài cổng: “Hôm qua từ biệt phu nhân thì trời đổ mưa, lo phu nhân bị ướt mà sinh bệnh nên ta đặc biệt đến xem một chút, thấy phu nhân không sao là tốt rồi. Đây là con trai ta, Phúc Sinh, nghe nói ta đến đây nên nó đòi theo để dập đầu tạ ơn đại nhân.”
Khúc Du xoa đầu đứa bé, Phúc Sinh liền nhảy chân sáo chạy đến trước mặt Châu Đàn. Nó có chút rụt rè, nhưng vẫn đưa chiếc chong chóng yêu quý trong tay ra: “Tặng cho ngài.”
Châu Đàn không vội nhận, mỉm cười hỏi nó: “Vì sao lại tặng cho ta?”
Phúc Sinh đáp gọn gàng, trong trẻo: “Phụ thân ta nói, mùa xuân này gia gia* bệnh rất nặng, mùa màng lại thất thu, ngay cả tiền mua thuốc cũng không có, may nhờ đại nhân nhân từ… Nay gia gia đã qua khỏi rồi, mẫu thân ta cũng tìm được chỗ bán rượu, cuộc sống của chúng ta ngày càng tốt hơn. Ta đặc biệt làm chiếc chong chóng này, muốn cảm ơn đại nhân.”
*Gia gia là cách gọi ông nội thời cổ đại.
Châu Đàn vừa đưa tay đón lấy chiếc chong chóng giấy của cậu, liền nghe cậu thì thầm: “Đại nhân thật đẹp mắt, giống như tiên ca ca trong truyện kể vậy, ta gọi ngài là ca ca được không?”
Châu Đàn bật cười: “Đương nhiên là được.”
Phúc Sinh thổi chiếc chong chóng trong tay chàng, thấy chong chóng quay tít thì cười chạy về. Nhị nương thấy cậu chạy tới, vội vàng gọi: “Phúc Sinh, lại quên những gì a nương dạy con rồi sao?”
Phúc Sinh lập tức dừng lại, quay người đứng thẳng lưng, hai tay chắp lại, cung kính hành lễ với Châu Đàn một cách trịnh trọng.
Lòng bàn tay cậu chắp sai vị trí một chút, hành lễ có phần xiêu vẹo, chốn sơn dã thôn quê này chẳng có ai biết cách hành lễ thế này, chắc là học theo cũng không dễ dàng.
Nhị nương cũng bắt chước Phúc Sinh hành lễ rồi cáo từ.
Khúc Du đóng cửa lại, quay đầu thấy Châu Đàn đang nhìn chằm chằm vào chiếc chong chóng giấy trong tay, đôi mắt không hiểu sao hơi đỏ hoe.
Nàng hiểu ý đi tới đỡ lấy vai chàng, nói vô cùng chân thành: “Cho dù ẩn cư nơi rừng núi, bá tánh chưa từng tiếp xúc cũng bằng lòng vì chàng mà học một lễ nghi quân tử.”
“Làm bậc quân tử, nên là như thế.”
Châu Đàn ngẩng đầu nhìn nàng, trong vành mắt ngấn lệ, nhưng trên mặt chàng vẫn nở nụ cười.
“Nói như vậy, kiếp này cũng không quá tệ.”
Khúc Du nắm lấy tay chàng, vừa định đáp lời, chợt nghe thấy tiếng “rầm” phía sau – nàng vừa rồi đóng cửa không kỹ, lúc này chẳng biết là ai đã đạp mạnh tung cánh cửa lớn của biệt viện Hạnh Hoa!
Người xông vào là một ông già râu tóc bạc phơ, nhưng tinh thần quắc thước, đôi mắt sáng rực, vừa vào đã hỏi thẳng thừng không chút khách khí: “Ngươi chính là Châu Đàn?”
Khúc Du đứng chắn trước Châu Đàn, cảnh giác hỏi: “Tiên sinh đây là…”
Lão già vỗ mạnh vào đùi: “Cuối cùng cũng tìm thấy, hai phu thê ngươi khiến ta tìm muốn chết!”
Lão lập tức giũ chiếc hộp thuốc giấu trong tay áo xuống, bực bội nói với Khúc Du: “Nào nào nào, tránh ra một chút, ta phải bắt mạch cho hắn!”
Khúc Du vẫn đứng yên: “Tên sinh, ngài…”
“Ồ, ta?” Ông lão nhíu mày, rút ra một cây châm bạc, thổi một cái, miệng lẩm bẩm không ngừng: “Ta họ Lý, tên thì không nhớ rõ, mọi người đều thích gọi ta là Quyết Minh Tử. Ta nhận được thư do tên đồ đệ xui xẻo của ta gửi tới trước lúc chết nên mới đến tìm hai người. Ngươi không biết ta tìm vất vả thế nào đâu, người ta nói con cái là món nợ kiếp trước, lão già ta không con không cái, lại còn bị tên đồ đệ xui xẻo kia sai bảo, cái số thật là khổ quá đi…”
Mí mắt Khúc Du giật nảy: “Quyết Minh Tử?”
Lý Quyết Minh, là vị thần y nổi tiếng trong Đại Dận Phong Tục Chí*, sử sách cũng từng ghi ‘Quyết Minh’ chỉ là tên một vị thuốc ông tiện tay đặt, không phải tên thật. Quyết Minh thần y từng viết cuốn Nam Sơn Thảo Lục, cho đến mấy thế kỷ sau vẫn mang lại lợi ích to lớn cho giới y học.
*Phong tục chí là một loại thể tài trong sử học và văn hiến cổ Trung Hoa, dùng để ghi chép, khảo cứu tập tục, tín ngưỡng, văn hóa, sinh hoạt, lễ nghi, y phục, hôn tang tế tự, v.v… của một vùng đất hay một thời đại cụ thể.
Nàng lờ mờ nhận ra điều gì, không còn màng đến lễ nghi, run rẩy hỏi: “Đệ tử của tiên sinh có phải là…”
Quyết Minh Tử một tay đã nắm lấy cổ tay Châu Đàn. Châu Đàn không còn sức phản kháng, đành thuận theo.
Lão sờ mạch Châu Đàn hai lần, huýt sáo một tiếng, tiện miệng đáp: “Đồ đệ ta chẳng phải là người quen cũ của hai người sao, họ Bách tên Ảnh, không có tự, hồi đó ta nhặt nó về nó còn chưa có tên cơ. Số khổ quá, khó khăn lắm mới dạy dỗ được một đồ đệ, lại là một kẻ nghĩ quẩn…”
Khúc Du mềm nhũn đầu gối, suýt nữa quỳ sụp xuống trước mặt lão: “Thưa tiên sinh, bệnh tình của phu quân ta…”
Quyết Minh Tử quay đầu lại, nhướng mày nhìn nàng, lão có vẻ rất thích nói chuyện: “Bệnh, bệnh tật gì? Hắn chẳng qua là bị tên đồ đệ xui xẻo kia của ta hạ độc thôi, hạ rồi lại hối hận, đến lúc chết còn phải gọi lão già ta đây đến dọn dẹp cái mớ hỗn độn này…”
“Độc?” Khúc Du lẩm bẩm lặp lại, như thể vừa nắm được cọng rơm cứu mạng: “Vậy… độc này có thể giải được không? Sau khi giải độc, chàng có thể sống được bao lâu?”
“Sống không được bao lâu đâu.” Quyết Minh Tử thuận miệng đáp, nhưng lão vừa thu kim lại, ngẩng lên thấy sắc mặt Khúc Du trắng bệch, giật mình, vội vàng bổ sung: “Ây da, ây da, đừng gấp gáp thế chứ, ta đùa ngươi thôi mà. Nếu không giải được độc, ta tốn công sức lớn thế này tìm các ngươi làm gì? Sống được, sống được, sống đến chín mươi chín tuổi luôn đấy, được chưa… À mà, ta đói rồi, có bánh kẹp thịt không?”
Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên
Đánh giá:
Truyện Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên
Story
Chương 117: Thiên Ảnh
10.0/10 từ 11 lượt.
