Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên

Chương 103: Dây leo


“Thường xuyên xiểm nịnh quân thượng, mê đắm mỹ sắc, hám tài vật, ham quyền vị… Khi xưa có La thị lộng quyền, triều thần đều dâng tấu lên, riêng Châu Đàn từ chối không chịu nói thẳng, là kẻ gian nịnh. Sau này Tô tướng liệt vào hàng mười tội ác, hả dạ lòng người…”


“... Thuở nhỏ là công tử bột, đắm say trà đạo, cờ nghệ, mọt sách ma thơ, nửa đời lao lực, cuối cùng tất thảy đều hóa hư ảo mộng tưởng, thứ còn lại chỉ là giường nát bàn đổ, chân kiềng gãy đàn hỏng, thật tựa cách biệt một đời.”


Trước khi Khúc Du mở lời lúc nãy, kỳ thực nàng vẫn còn ý niệm cuối cùng là khuyên can chàng một chút…


Dẫu nàng biết tất cả những việc Châu Đàn làm đều có lý do bất khả kháng, nàng không có lý do để ngăn cản, nhưng nàng là thê tử của chàng, lại càng không thể lấy “đáng giá hay không” hay “nên hay không” để cân nhắc.


Nàng muốn nói với chàng, chàng đã tận tâm vì thiên hạ đến thế, nhưng thế nhân lại phụ bạc chàng.


Giá như chàng quả thực có làm những việc ô uế ấy, dù chỉ là một việc. Giá như chàng quả thực có những tâm tư dơ bẩn, dù chỉ là một lần. Vậy thì nàng đã chẳng vì chàng mà cảm thấy oan ức, quặn lòng đến vậy.


Nhưng Châu Đàn lại nào đâu cành lá sum suê, nào đâu vướng bận bụi trần. Chàng tuy sinh trưởng trong băng giá sương tuyết thê lương, nhưng suốt những năm tháng qua vẫn ngay thẳng đoan chính, là bậc quân tử khiêm nhường.


Sao chàng lại có thể là một người tốt thuần khiết đến nhường ấy? Là thế nhân đã phụ chàng rồi!


Chỉ bằng câu thơ chàng vừa ngâm lên, câu thơ nàng từng mơ hồ nhớ lại trong chiếu ngục của Tống Thế Diễm, nàng đã hiểu rõ tất cả.


Nói thêm cũng vô ích.


Châu Đàn ngay cả khi quyết định làm những việc này đã sớm lường trước sử sách sẽ viết về chàng ra sao. Chàng hỏi Tống Thế Huyên, hỏi Tô Triều Từ, hỏi về Yên Phục và Bạch Sa Đinh, nhưng lại chẳng mảy may tò mò về chính mình. Không phải là chẳng chút tò mò, mà là từ ngàn năm trước chính Châu Đàn đã tự mình định ra lời công bút của sử quan về định luận cuối cùng dành cho chàng.


Những lời nàng phê chú bên lề trang sách căn bản không phải do nàng viết mà là trong cõi vô hình, chính Châu Đàn đã nắm tay nàng, từng nét từng nét viết ra.



Tựa như ngày trên thuyền năm xưa, Châu Đàn nắm tay nàng, vì nàng mà tạo ra tiếng tăm ph*ng đ*ng, đoan chính viết nên câu: “Tay nâng hương sắc, phủ màn say”… Thật vô lý, hoang đường, nhưng chàng lại cam tâm như uống thứ mật ngọt.


Hai người kề sát nhau đến thế, nàng có thể nghe thấy hơi thở của chàng, nhịp tim của chàng, mùi hương tịch tĩnh, trầm uất mà lay động lòng người của chàng.


“Chàng…”


Chưa đợi nàng run rẩy nói hết lời, Châu Đàn đã nghiêng đầu sang, khẽ khàng ngắt lời nàng: “Nàng đã xem những điều ấy, vậy thuở ban sơ, vì cớ gì…”


Chàng không nói hết, nhưng Khúc Du hiểu rõ ý ngoài lời của chàng: — Nàng đã thấy những điều tồi tệ của ta trên sử sách, vậy ban đầu khi gặp ta, vì cớ gì vẫn nguyện lòng cứu giúp?


Câu hỏi này ngay cả nàng cũng không biết phải đáp lời chàng ra sao? Có lẽ từ ánh mắt đầu tiên nhìn thấy chàng ở kiếp này, trong lòng nàng đã có một thanh âm mơ hồ rằng dẫu cho lương duyên của họ ở mỗi kiếp đều tan vỡ, sầu muộn, chưa bao giờ trọn vẹn, nhưng chỉ cần thấy chàng một lần, thì mọi chuyện trong quá khứ đều trở nên có ý nghĩa.


“Ta nhớ khi xưa nàng từng nói, ước nguyện cả đời nàng là được nhìn thấy sự chân thật của lịch sử.” Giọng Châu Đàn rất khẽ, như đang nói với nàng, lại như đang tự thì thầm: “… Thì ra là ý này. Xin lỗi, được nhìn thấy sự thật, chưa chắc đã là điều tốt.”


Sử sách che trời lấp đất, hà cớ gì phải khổ công thăm dò dòng chảy ngầm đáng kinh hãi, đau đớn phía dưới đó?


Chàng đưa tay v**t v* gò má nàng, mi mắt khẽ động, một giọt lệ trượt xuống má, nhưng vẻ mặt chàng lại bình tĩnh đến vậy, khóe môi thậm chí còn thoáng nụ cười: “… Nàng hãy để ta đi. Nàng có điều nàng mong, ta cũng có điều ta nguyện. Xưa kia ta cũng từng mong được cùng nàng đầu bạc răng long, chỉ là ông trời không công bằng, ước vọng này đã tan thành mây khói, ta không thể để mất thêm một ước vọng nào khác nữa.”


“Chàng cứ tự mình đi là được, hà tất phải hỏi thiếp?” Khúc Du đưa tay lau đi khóe lệ. “Chàng đã suy tính chu toàn, tại sao còn muốn có được sự đồng thuận của thiếp? Chẳng lẽ thiếp không bằng lòng thì chàng sẽ từ bỏ sao?”


“Nàng là thê tử của ta. Mạng ta được nàng cứu ngày ấy thì thân này đã không còn là của riêng ta nữa… Ta cùng nàng chia sẻ thân thể, máu xương, thất tình lục dục, mà nay chúng không thể tránh khỏi sự tàn lụi. Ta chỉ muốn nàng biết, nàng và giang sơn xã tắc đối với ta quan trọng như nhau. Lựa chọn này không phải là bỏ nàng mà lấy thiên hạ, chỉ là… ta không còn cách nào khác. Và sự hy sinh này là có ý nghĩa.”


“Nhưng cớ sao lại phải là chàng?” Khúc Du tránh đi ánh mắt chàng, ngây dại hỏi, rồi nàng lại như chợt nhớ ra điều gì, vội vã nói: “Vậy thiếp sẽ nói với chàng điều này… Chàng có biết không, Đại Dận cuối cùng vẫn bị hủy diệt bởi chính nạn bè phái mà chàng một lòng muốn ngăn chặn. Sự hy sinh của chàng, nhiều nhất chỉ đổi được trăm năm thái bình… Nhân sinh khổ đoản, cho dù Bách y quan nói chàng chẳng còn sống được bao lâu, nhưng chưa chắc đã…”


Châu Đàn vịn cột hành lang đứng dậy, chẳng hề kinh ngạc vì lời nàng nói về ‘hủy diệt’, chỉ bình tĩnh hỏi lại: “Trăm năm chẳng lẽ rất ngắn sao?”



“Triều đại rồi sẽ qua đi, còn trăm năm trước mắt… So với ngàn năm, nó chỉ là chớp mắt, nhưng so với nàng, với ta, với những người nơi đây, nó lại quá đỗi dài lâu. Dài lâu đủ để bách tính toàn Biện Đô bình an vô sự, không chiến hỏa, không tranh chấp, không bất công mà sống trọn một đời, an lạc nhắm mắt trên giường, con cháu đầy nhà,… chứ không phải chết vì đói kém, vì loạn lạc, không bị dùng làm công cụ của quyền lực, làm quân cờ của những nhân vật lớn.” Châu Đàn không dám nhìn nàng, nói: “Điều chúng ta muốn, chẳng phải là một cuộc sống như vậy sao? Không thành toàn được cho chính mình, thì phải cố sức thành toàn cho người khác. Trăm năm thái bình… thực sự đã là quá nhiều. Ta đã tận lực rồi.”


Nói đoạn, chàng giẫm lên vũng nước đọng trước đình mà rời đi, chậm rãi nhưng kiên định. Khúc Du bật cười khẽ phía sau, giọng nghẹn ngào: “Nhân sinh biết chữ, ưu hoạn bắt đầu. Chàng nào hay, giờ đây thiếp khao khát đến nhường nào được làm một mụ đàn bà chốn chợ búa chẳng hiểu sự đời, chỉ biết lăn lộn gào thét bắt trượng phu thuận theo ý mình… Chàng nói muốn thành toàn, vậy chàng có nguyện ý thành toàn cho thiếp không? Chàng chết đi, thiếp thề…”


Nàng nói đến đây, đột nhiên dừng lại, sau đó chuyển giọng, mang theo vẻ bực tức giận hờn: “Chàng tốt nhất nên bảo trọng. Nếu chàng chết đi, thiếp liền cải giá cho người khác, từ nay về sau quên chàng sạch sẽ không còn mảy may nào.”


Châu Đàn rõ ràng biết nàng nói lời giả dối, nàng là một nữ tử thông tuệ đến thế, lời qua tiếng lại lúc này giữa họ chẳng qua là vì cả hai đều đã rõ lựa chọn của chàng không thể ngăn cản. Nàng không thể tha thứ cho chính mình vì thậm chí không nói nổi một lời can ngăn nên mới cố chấp làm khó chàng.


Chàng đã nghĩ thông suốt mọi ngọn ngành, nhưng vẫn không tránh khỏi cảm giác đau đớn sắc lẹm, dai dẳng vì câu nói kia của đối phương. Nỗi đau ấy chân thật đến mức chàng phải dừng bước, ôm lấy ngực đứng yên một lúc, thật lâu sau mới bàng hoàng tỉnh lại từ cảm giác như rơi xuống hầm băng, nhìn thấy một đóa linh lan còn vương mưa bên vệ đường.


“Ta chết đi, nàng quên ta… chẳng phải cũng là ước vọng lớn nhất của ta sao?”


Thế rồi chàng cười, cố gắng để giọng mình nghe có vẻ bình tĩnh, dẫu chàng biết đối phương sẽ không tin lời chàng nói, nhưng vẫn phải cố sức diễn kịch, mong sao cho thật giống.


“Nếu đã như vậy… thật tốt.”


Chàng rời khỏi Lâm Phong Đình nơi hậu viên, chỉ còn lại một mình Khúc Du ngồi trong đình, lặng lẽ nhìn bóng lưng chàng biến mất trong màn đêm sâu. Nàng ôm lấy cột hành lang, nhắm mắt lại, hơi lạnh còn sót lại của mưa đêm từ sau lưng men theo xương sống nàng bò lên, lan rộng ra, lạnh lẽo đến tận xương tuỷ.


“Chàng có điều chàng nguyện, thiếp cũng có điều thiếp mong…” Nàng ngây dại lặp lại: “Nói dối suốt một đêm, chung quy vẫn còn một lời là chân thật. Được nhìn thấy sự thật không hề đau đớn, nó đối với thiếp quá đỗi quan trọng. Đã như vậy, vậy thì chàng cũng… hãy để thiếp đi đi.”



Sau khi Châu Đàn bãi Tướng, Minh Đế vẫn chần chừ chưa định người kế nhiệm.


Văn võ bá quan không một ai dám thúc giục, chỉ bởi sau cuộc tranh cãi giữa Minh Đế và Châu Đàn trong Ngự Thư Phòng hôm đó, hoàng đế chịu gió lạnh nơi hậu viên, kinh nộ quá độ bỗng lâm bệnh nặng, ngay cả chầu triều cũng phải bãi bỏ đến ba ngày.



Cách lớp lớp màn che, nàng ta nghe thấy Tống Thế Huyên hỏi: “A La, nàng sống có vui vẻ không?”


La Giang Đình không hề hay biết chuyện về A La năm xưa, chỉ biết Tống Thế Huyên từng rất yêu thương con mèo ấy và đau buồn rất lâu sau khi nó chết. Ban đầu nàng ta chỉ nghĩ hắn gọi “A La” là xem nàng như một món đồ chơi nhỏ, nhưng sau này thường thấy ánh mắt sâu lắng, u buồn và đầy thâm tình của đối phương, nàng ta mới hiểu cái tên này chẳng qua chỉ là sự yêu mến đơn thuần mà thôi.


Một người thuần phác, nồng nhiệt như hắn, sao lại thích hợp để làm hoàng đế cơ chứ?


La Giang Đình quỳ trên tấm thảm dày mềm mại, áp mặt vào lòng bàn tay hắn.


Nàng ta nhắm mắt lại, nhớ về ngày đầu tiên hai người gặp nhau. Nàng ta giả vờ hoảng hốt, cùng đường, chặn kiệu của hắn lại.


Thiếu niên vén rèm lên, nhìn nàng một cái.


Nàng ta hoàn toàn không ngờ lại thuận lợi đến thế, chỉ cần một ánh mắt.


Trong lòng nàng ta dâng lên một nỗi oan thán xen lẫn day dứt, nhưng chỉ thoáng chốc đã tan biến, nàng ta chỉ ngoan ngoãn đáp: “Bệ hạ, thần thiếp được ở bên cạnh người đã là điều vui vẻ và mãn nguyện nhất rồi.”


Bách Ảnh gần đây được Tô Triều Từ mời tới, người trong Thái Y Viện cũng đã đến vài lần. Cơn sốt của tiểu hoàng đế đã không còn gay gắt như trước, vừa rồi Thái y trước khi đi còn dặn dò kỹ lưỡng, uống xong thang thuốc cuối cùng này ngủ một giấc ngon, ngày mai có lẽ sẽ khá hơn nhiều.


Không biết có phải vì tác dụng của thuốc hay không, Tống Thế Huyên mê man, có phần không tỉnh táo, dù nàng ta ở ngay bên cạnh, La Giang Đình cũng không phân biệt được hắn đang nói chuyện với nàng hay đang nói mê: “Vậy sao? Nhưng trẫm luôn cảm thấy, có lỗi với nàng… Năm đó… nàng không có gì, trẫm cũng không có gì, nhưng trẫm lại cảm thấy thật tốt. Nếu thực sự có thể như một đôi phu thê bình thường…”


Hắn nói năng lộn xộn, mơ hồ không rõ. La Giang Đình quỳ bên giường thất thần lắng nghe, bất chợt một giọt nước mắt rơi xuống.


Nàng ta bị chính nước mắt của mình làm cho giật mình, vội vàng đưa tay lau đi, ép mình bình tĩnh lại, hắng giọng nói: “Bệ hạ, Thái y nói bệnh của người cũng là do tâm bệnh. E rằng mấy hôm trước trước thư phòng, người thực sự bị cựu Tể phụ chọc giận rồi chăng? Thần thiếp biết người và hắn từng có thâm tình, nhưng một người đầy mưu quyền như hắn, thì làm sao có thể là…”


Nói đến đây, nàng ta không nói tiếp nữa. Tống Thế Huyên im lặng rất lâu, một lúc sau mới đơn giản đáp: “… Phải.”



Tống Thế Huyên hạ giọng: “Trẫm… không biết hắn đang nghĩ gì.”


La Giang Đình liền nói: “Bệ hạ lo lắng như vậy, thần thiếp cũng vô cùng ưu sầu. Hay là ngày mai thần thiếp mời Châu phu nhân vào cung một chuyến, hỏi nàng ta xem sao.”


Tống Thế Huyên bèn đáp: “Được.”


Chưa dứt lời thì có cung nhân vào bẩm báo, nói Hoàng hậu đã đến.


Hoàng hậu đã đến, nàng ta không thể ở lâu. Thế là La Giang Đình đứng dậy cáo từ, cúi mình lui lại vài bước. Nàng nghe thấy Tống Thế Huyên gọi nàng từ phía sau: “A La…”


Giọng nói vô cùng dịu dàng, triền miên, dường như còn mang theo một hai phần ý lệ luyến không nỡ chia xa.


Nàng ta không dám quay đầu lại, chỉ đáp: “Bệ hạ?”


Giọng thiếu niên trong màn trướng khẽ khàng: “Ngoài kia gió lớn, khoác áo bào của trẫm rồi hẵng đi.”


Thế nên khi Hoàng hậu bước vào điện, chỉ thấy La Giang Đình khoác chiếc áo choàng thêu kim tuyến, mắt đỏ hoe vội vã chạy ra khỏi điện. Nàng ta dường như có chút mất kiểm soát, thấy Hoàng hậu cũng không kịp giữ lễ thường ngày, chỉ vội cúi đầu, rồi luống cuống rời khỏi.


Hoàng hậu bước vào điện, lập tức có cung nhân khép lại cánh cửa nặng nề.


Nàng đi vài bước, ngẩng mắt lên thì thấy thiên tử thiếu niên đã vén rèm lụa lên, ngồi trên giường với vẻ mặt lạnh nhạt. Ngoài khuôn mặt hơi ửng hồng, hoàn toàn không thấy bất cứ dấu vết nào của bệnh nặng.


Hoàng hậu rủ mắt, tiến lên vài bước: “Bệ hạ, gió lạnh, không nên rời giường.”


Tống Thế Huyên nhân tiện nắm lấy tay nàng, ôn hòa nói: “Trẫm biết. Nàng mấy ngày nay tụng kinh cầu phúc, gầy đi không ít. Ngồi xuống nói chuyện với trẫm đi.”


Hoàng hậu quay đầu nhìn quanh, thấy trong điện không có ai, mới mỉm cười với hắn, hoàn toàn không còn vẻ câu nệ, cung kính trước mặt người ngoài, ngược lại như rất thân thuộc với hắn: “Thiếp theo lời bệ hạ dặn, sốt sắng đến Nhiên Chúc Lâu quỳ lạy ba ngày, bệ hạ định sẽ tạ ơn thiếp thế nào đây?”


Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên Truyện Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên Story Chương 103: Dây leo
10.0/10 từ 11 lượt.
loading...