Phong Hà Cử – Đào Tử Nhi

Chương 164: Gương vỡ (1)


Cuộc chiến cam go chưa từng có ấy kéo dài mãi cho đến tháng mười một, tiết Hoàng Chung.


Đại Lương đánh mất ba châu phía Giang Bắc mà trước kia bắc phạt mới nhọc nhằn đoạt được, nhưng chí ít cũng còn giữ vững được phòng tuyến bên dòng Đại Giang. Đôi bên qua lại giao tranh mấy lượt nơi Bắc Dương Châu và Tây Từ Châu. Bắc Ngụy có lần từng vượt qua thiên hiểm, đáng tiếc cuối cùng vẫn bị đẩy lùi về phương bắc. Mọi thứ, như thể lại bắt đầu lại từ đầu.


Cũng vào tháng mười một ấy, Thẩm Tây Linh cuối cùng được thả khỏi Thượng Phương ngục, đồng thời hay tin mình sắp phải gả xa sang Bắc Ngụy.


Người đến đón nàng là Thanh Trúc. Hắn nói với nàng rằng, nàng đã được đại xá. Bởi vì thánh thượng muốn khôi phục địa vị cho công tử nên chuyện cũ không thể để lưu lại dấu tích. Bên ngoài đã truyền rằng việc của nàng vốn là do Lục Chinh hãm hại Tề Anh, thánh thượng đã cách chức Lục Chinh, lại thay cả quan tư mã chưởng quản hình ngục.


Nay nàng phải đến Lang Gia, trở về cố quận bên nương gia, rồi từ đó xuất giá. Từng tin ấy, tin nào cũng đủ khiến người chấn động, song khi ấy Thẩm Tây Linh đã chẳng còn biểu lộ gì. Nửa năm trong lao ngục dường như đã mài mòn hết thảy mọi cảm xúc của nàng. Nàng chỉ hỏi Thanh Trúc hai điều: Thứ nhất, công tử vẫn bình an chứ? Thứ hai, Những việc này… chàng có hay biết không?


Thanh Trúc đều gật đầu. Thẩm Tây Linh bấy giờ không nói gì thêm. Nàng không hỏi mình sẽ gả cho ai, khi nào thành hôn, cũng chẳng hỏi vì sao lại phải gả đi. Nàng chỉ lặng lẽ cùng Thanh Trúc ngồi xe ngựa, xuôi về phương bắc.


Không khóc, không oán. Thanh Trúc khi ấy nhìn nàng, lời nghẹn nơi cổ họng, chỉ cảm thấy lòng chua xót, dường như muốn rơi lệ. Nhưng nàng còn chưa khóc, hắn mà khóc thì thật chẳng ra thể thống gì, huống hồ hắn cũng sợ nếu mình rơi lệ, e nàng sẽ vì thế mà càng thêm bi thương. Vậy nên hắn cố nhịn, đưa nàng đến Lang Gia.


Đến nơi, Vi gia ra tận cửa nghênh tiếp, thái độ cung cung kính kính. Nghe nói bọn họ đều đã bị răn đe một phen, nhiều lời xưa cũ phải sửa miệng. Như trước kia họ từng quả quyết rằng Vi thị từng bỏ trốn theo Thẩm Khiêm, giờ lại đổi lời nói rằng đó là do Lục đại nhân của hình bộ ép cung. 


Kỳ thực tuy Vi thị đúng là từng bỏ trốn theo một nam tử Thẩm gia, nhưng người ấy không liên quan gì đến Thẩm tộc danh môn. Họ chỉ vì bị uy h**p mà buộc phải vu hãm Thẩm Tây Linh là nhi nữ ngoài giá thú của Thẩm Khiêm.


Tất nhiên, những lời ấy chẳng qua là để che mắt thiên hạ mà thôi. Triều thần chốn kinh kỳ ai nấy đều hiểu rõ cục diện hôm nay, tương lai của tiểu Tề đại nhân còn mù mịt vô định, hoặc là vạn kiếp bất phục, hoặc là đông sơn tái khởi. Bởi thế mà kẻ nào cũng chọn thái độ chờ xem, đối với lời giải thích do chính thiên tử hạ chỉ, ngoài mặt đều làm ra vẻ tin là thật.


Kỳ thực họ tin hay không cũng chẳng hệ trọng. Bởi lẽ, đây vốn chẳng phải chuyện người ngoài có thể hỏi đến hay chen vào. Họ chỉ có thể chọn hoặc là lặng im, hoặc là thuận theo mà thôi.



Hôm ấy, người nhà Vi gia nghênh đón nàng nơi cửa lớn, dáng vẻ cung kính như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhưng ai nấy đều nhớ rõ ngày xưa tại đại điện, bọn họ từng hung hăng tàn độc ra sao. Như đại cữu của Thẩm Tây Linh, khi ấy một mực đòi đem nàng cùng Tề Anh trừ khử cho bằng sạch, lời lẽ cay nghiệt, sắc mặt dữ tợn.


Vậy mà chỉ qua nửa năm, ông ta đã đổi hẳn sắc mặt, dẫn theo toàn tộc ra tận cửa nghênh tiếp nàng, lời nói ân cần, săn sóc chu đáo, ngay cả mấy vị di mẫu từng cay nghiệt năm xưa cũng trở nên hòa nhã, chẳng còn chút gì dáng vẻ kiêu căng lạnh lẽo như năm xưa nàng về Lang Gia cầu xin họ thu liệm di thể của mẫu thân.


Thế thái nhân tình, đổi thay như gió, người lòng lang mặt thú, thật khiến người chua xót mà cười khổ. Song Thẩm Tây Linh chẳng hề để tâm, nàng cũng chẳng buồn cùng họ đối thoại. Nàng chỉ lặng lẽ vào phòng mình, nơi mọi thứ hôn sự đã được sắp xếp chu tất, trang sức trâm vòng, hỷ châu hồng lạp*, phượng bào gấm vóc, thậm chí cả một bộ giá y tinh xảo tuyệt luân.


*hỷ: niềm vui, hỷ sự – thường chỉ việc cưới gả
châu: ngọc, hạt trân châu – ở đây có thể chỉ hạt trang sức hoặc vật trang trí tượng trưng cho may mắn, hạnh phúc
hồng: màu đỏ – màu của hỷ sự, may mắn, cát tường
lạp: nến, sáp – thường là nến đỏ dùng trong lễ cưới, cúng bái hoặc tế lễ


Những vật ấy, thoạt nhìn đã biết chẳng phải đồ ở Lang Gia, thậm chí không giống phong vật Giang Tả. Nàng hỏi Thanh Trúc, quả nhiên được biết tất cả đều là sính lễ do phủ Yến Quốc Công bên Bắc Ngụy đưa tới, do chính vị hôn phu của nàng là Cố tướng quân Cố Cư Hàn sai người chuẩn bị.


Lúc ấy nàng mới biết, người mà nàng sắp gả cho là ai.


Nàng chẳng có phản ứng gì, chẳng mừng cũng chẳng bi, chỉ như một khôi gỗ mục còn lại là vỏ xác rỗng tuếch.


Thanh Trúc ở lại vài ngày để giúp nàng an bày mọi việc. Hắn còn đưa đến hai nha hoàn lạ mặt, nói rằng trước ngày xuất giá sẽ ở bên nàng, hầu hạ ăn uống y phục.


Thẩm Tây Linh không từ chối, chỉ hỏi đến tình hình mấy người Thủy Bội, ngày ấy từng bị bắt cùng nàng, không biết giờ sống chết ra sao. Thanh Trúc nói họ đều bình an, đều đã quay về Phong Hà Uyển. Nghe vậy, Thẩm Tây Lịn khẽ gật đầu, chẳng nói thêm lời nào.


Sau khi sắp xếp vẹn toàn, Thanh Trúc cũng đến lúc phải cáo biệt. Mười ngày sau là đại hôn. Cố tiểu tướng quân không đến tận Giang Tả đón dâu, hắn sẽ chờ ở Đông Bình quận, bên kia bờ sông. Người nhà Vi gia sẽ đưa nàng sang đó.


Thẩm Tây Linh đối với tất cả mọi an bài đều không chút phản kháng, chỉ đến lúc tiễn Thanh Trúc đi, mới nhẹ nhàng hỏi một câu: “Trước khi ta đi… còn có thể gặp lại ngài ấy một lần không?”


Khi ấy, nàng tái nhợt đến dọa người, thanh âm nhẹ như gió thoảng, không nghe ra nỗi oán hờn, nhưng trong mắt lại chất chứa nỗi sầu u thăm thẳm khiến người ta không dám nhìn lâu.



Thanh Trúc nhất thời cay xè nơi hốc mắt, vội vàng quay mặt đi, đáp: “Chỉ e… không thể nữa. Công tử, người… rất bận.”


Lời vừa ra miệng, hắn cũng chẳng dám ngẩng đầu nhìn nàng. Chỉ nghe thấy nàng khẽ cười một tiếng, không vui chẳng buồn, lại khiến lòng người càng thêm nhức nhối.


Nàng đáp: “Vậy cũng được.” Rồi nói tiếp: “Về sau… làm phiền các người khuyên ngài ấy nên nghỉ ngơi nhiều hơn một chút.”


Lời ấy có phần như biệt ly vĩnh viễn. Có lẽ nàng cũng hiểu, kiếp này… không còn cơ hội gặp lại chàng nữa.


Thanh Trúc cuối cùng không nhịn được, nước mắt tuôn rơi. Hắn luống cuống lau nước mắt, rồi nghẹn giọng dặn một câu: “Cô nương, xin… bảo trọng.”


Sáu ngày sau, Thanh Trúc trở về bản phủ. Từ sau biến cố Tề gia vào tháng ba, công tử chưa từng trở lại Phong Hà Uyển. Lần này hồi kinh sau chiến sự cũng vẫn ở trong bản phủ, biệt viện kia vẫn vắng lặng, chưa từng đón chủ nhân trở về.


Nơi đó, từng có một nữ chủ nhân. Nhưng nàng… cũng sẽ không quay lại nữa. Nghĩ đến những chuyện này, lòng người dễ sinh phiền não, nhất là khi Thanh Trúc nhớ đến nụ cười cuối cùng của Thẩm Tây Linh lúc chia tay, tiếng cười nhẹ tênh mà như khắc sâu trong lòng, càng nghĩ càng thấy đau. Tại sao… kết cục lại phải như vậy?


Hắn cố nén bi thương, vội vã bước vào phủ để hồi bẩm. Công tử đang ở Gia Hỉ Đường cùng Nghiêu thị. Khi Thanh Trúc vào, trong đó vàn tiếng cười đùa rộn rã.


Hóa ra là đại công tử cùng phu nhân mang theo hai đứa bé đến thăm Nghiêu thị.


Thái Nhi vừa tròn nửa tuổi, mập mạp trắng trẻo như ngọc khắc khiến mọi người đều yêu thích không dứt.


Huy Nhi lại đang tranh giành với đệ đệ, khiến người lớn cũng bị chọc cười. Tựa như phong quang năm xưa của Tề gia lại có phần hồi phục.


Thanh Trúc vừa bước vào liền nhìn thấy công tử nhà mình. Người vừa hồi triều không lâu, nửa năm chinh chiến khiến dáng người thêm phần gầy guộc, khí sắc cũng lạnh lẽo âm trầm hơn trước. Dù đang ngồi trong khung cảnh ấm áp ấy, lại vẫn lộ vẻ lạc lõng, như thể chỉ là kẻ ngoài cuộc, dõi nhìn người khác hưởng lạc mà chính mình không thể hòa nhập.



Trầm ngâm chốc lát, chàng mới nghiêng đầu nói với Nghiêu thị: “Mẫu thân, con ra ngoài một lát.”


Nghiêu thị đang ôm Thái Nhi nựng nịu, thấy nhi tử có ý muốn tránh người liền thoáng biến sắc. Bà đã quá sợ hãi bởi biến cố suốt nửa năm qua, nghe gió thì sợ mưa, thấy lá rụng cũng kinh tâm.


Tề Anh mỉm cười trấn an: “Không sao.”


Rồi rời khỏi Gia Hỉ Đường, trở về thư phòng. Trong phòng chỉ có nước trà đã nguội và văn thư chất đầy, nhưng dường như chàng thấy thoải mái hơn nơi ấy, như thể cảnh đoàn viên ban nãy khiến chàng cảm thấy không yên lòng.


Hoặc cũng có thể cảnh ấy đã gợi nhắc đến một người chăng?


Chàng ngồi xuống sau án thư, hỏi: “Nàng đã an ổn ở Vi phủ rồi chứ?”


Nàng, người từng thân mật đến độ xương tủy hòa làm một nay lại không dám nhắc tên, chỉ có thể dùng một chữ ‘nàng’ thay thế.


Chàng… là sợ đau sao?


Thanh Trúc cúi đầu đáp: “Dạ, an ổn rồi.”


Rồi kể lại tỉ mỉ tình hình của Thẩm Tây Linh trong mấy ngày qua. Chàng chăm chú lắng nghe, nghiêm túc hơn cả khi nghị sự triều đình.


Khi lời đã dứt, chàng lại lặng thinh hồi lâu, tựa như thất thần. Rồi cuối cùng, chàng mới nhẹ nhàng hỏi: “…Nàng có khóc không?”


Nàng có khóc không? Trên đời có bao chuyện chàng phải lo, từ việc quốc gia đại sự, đến sinh tử của hàng vạn người. Vậy mà vào khoảnh khắc đó, chàng chẳng nghĩ gì cả. Chàng chỉ muốn biết nàng… có rơi lệ hay không?



Thẩm Tây Linh đương nhiên là không khóc. Nhưng khi bị hỏi câu đó, Thanh Trúc lại không kìm được mà bật khóc. Hắn tự thấy mình thất thố, vội lau nước mắt, vừa lau vừa lắc đầu, khẽ đáp rằng nàng không khóc.


Nàng chỉ hỏi… có thể gặp công tử thêm một lần nữa hay không.


Tề Anh nghe xong những lời ấy, sắc mặt chẳng hề biến đổi, thậm chí còn có phần bình thản hơn trước.


Nhưng người thân quen đều hiểu rõ, đó chính là lúc chàng đang âm thầm chịu đựng cơn đau đớn tận cùng. Chàng rất thống khổ. Càng bình tĩnh, lại càng thống khổ 


Chàng chẳng thốt thêm lời nào, như thể đã hoàn toàn mất hết hứng thú với việc này, chỉ khẽ động ngón tay ra hiệu cho Thanh Trúc lui ra. Thanh Trúc hiểu ý, không dám quấy rầy thêm liền khom lưng lui bước ra ngoài.


Hắn biết lúc này, điều công tử cần nhất chính là Thẩm Tây Linh, nhưng nàng đã không còn bên cạnh, vì thế công tử lúc này chỉ cần một chốn yên tĩnh mà thôi.


Ngay khi cánh cửa khép lại, Tề Anh bỗng nhiên cơn ho dữ dội, lấy tay ôm chặt vùng bụng giữa, cơn đau khiến lưng chàng hơi khom lại, sau cơn ho ấy, tay áo chàng đã nhuốm đỏ máu tươi.


… Chàng đã ho ra máu.


Dù trông thấy những vệt máu ấy, sắc mặt chàng không hề ngạc nhiên, như đã quen với nỗi đau này. Cơn đay thắt nơi ấy dường như không khiến chàng ghét bỏ mà trái lại còn đem lại cho chàng chút an ủi. Chàng rất cần cơn đau ấy, vô cùng cần.


Chàng ngồi trong thư phòng từ ban ngày cho đến khi màn đêm buông. Chàng… muốn được gặp nàng. Cứ như bao sớm tối kể từ khi chia tay hồi tháng ba, chàng khao khát được thấy nàng.


Sự mong mỏi ấy trong tháng ba, tháng tư dâng lên mãnh liệt, cuồng nhiệt và rõ ràng, sau đó dần lắng xuống, trở nên âm thầm sâu sắc. Có lẽ bởi chính chàng cũng biết, mong muốn riêng tư ấy không thể thành sự thật, vậy nên chỉ còn cách càng ngày càng ép chặt nó xuống tận đáy lòng. Cuối cùng biến thành một vết thương bí mật, chẳng ai thấy, chẳng ai hay.


Chàng cũng chẳng cần ai nhìn thấy. Nỗi đau là chuyện riêng tư nhất, cũng là sợi dây cuối cùng kết nối hai người mà chàng còn có thể trao cho nàng. Chàng chẳng còn gì để cho nàng nữa, chỉ có thể lặng lẽ từ xa mà cùng nàng chịu đựng nỗi đau, chỉ thế mà thôi.


Chàng hiểu rõ, mình không thể đến gặp nàng, dây tơ vương vấn chỉ khiến hai người đau đớn hơn, chia ly cũng thêm phần khó khăn. Kết cục tốt đẹp nhất giữa họ có lẽ là như lúc này. Không còn gặp nhau nữa, cũng không một lần thốt được lời chia xa.


Phong Hà Cử – Đào Tử Nhi
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Phong Hà Cử – Đào Tử Nhi Truyện Phong Hà Cử – Đào Tử Nhi Story Chương 164: Gương vỡ (1)
10.0/10 từ 12 lượt.
loading...