Long Hương Bát - Tú Miêu
Chương 78: Phần 4: Son Phấn Điểm Phai (78)
Hoàng Phủ Cật bước qua ngưỡng cửa, thấy Tiết Hầu đang ngồi dưới song cửa viết kinh Phật.
Nét bút của y đã qua khổ luyện, tròn trịa mà dày dặn, chẳng giống người quen vung đao múa thương. Nghe tiếng động, Tiết Hầu trước tiên liếc nhìn chén trà vừa được bưng vào, hơi nóng hãy còn lượn lờ chưa tan, xem chừng phụ tử họ Hoàng Phủ vừa rồi lời lẽ chẳng tương thuận, nửa câu cũng thành dư. Đặt bút xuống, ông quay lại, mỉm cười vừa ý với Hoàng Phủ Cật: “Ngươi, hơn một năm qua, rất khá.”
Hoàng Phủ Cật ngẫm nghĩ: “Thần đến, là để cáo biệt với Ngạc công.”
“Ồ?” Tiết Hầu có phần bất ngờ, “Về kinh đô, hay về Ô Lão thành?”
Nhớ đến kinh đô liền sinh ý thảnh thơi , Hoàng Phủ Cật đáp: “Ô Lão thành.”
“Cũng được. Kinh đô, chẳng yên ổn.”
Cả hai rơi vào trầm mặc. Tiết Hầu ung dung chép xong một tờ kinh, thấy kẻ đến từ biệt vẫn đứng bên án, mắt dõi nhìn tia nắng ngoài song, trong vẻ trầm tư. Chàng thiếu niên vốn phóng khoáng tiêu sái, giữa lông mày nay cũng vương chút u hoài. Kiếm Xuyên so với Lũng Hữu, ít gió cát mà nhiều sương khí, khiến da thịt người ta cũng mịn màng hơn. Đêm đến không nghe tiếng giáp trụ ngựa hí rộn ràng, lại khiến ông ngủ chẳng yên.
“Nhà ngươi, chưa định thân ư?” Tiết Hầu chợt hỏi vu vơ.
Hoàng Phủ Cật kinh ngạc: “Thần vẫn chưa.”
“Người tài như vậy, cớ sao mãi chưa thành gia?” Ông cười: “Hung Nô chưa diệt, hà dĩ gia vi?’”
Hắn đáp hờ hững: “Chuyện hôn nhân, đều theo ý song thân.”
“Xem chí hướng của Hoàng Phủ công tử, e rằng chẳng gả cho một vị công chúa thì cũng khó cam lòng.” Tiết Hầu cười đầy ẩn ý, “Bất quá, làm rể nhà Tiết gia, chưa hẳn đã kém làm rể nhà hoàng đế đâu.”
Hoàng Phủ Cật hiển nhiên không muốn dây dưa chuyện này, liền nói thẳng: “Nhỏ bé như Ô Toản, cớ gì bệ hạ phải triệu Ngạc công đến Kiếm Xuyên? Giết gà đâu cần dao mổ trâu!”
Tiết Hầu không hề tỏ ra phẫn nộ như hắn. Vòng tràng hạt mun trên cổ tay, ông thong thả đứng dậy, xốc lại tay áo: “Kiếm Xuyên, Lũng Hữu, chẳng đều là đất của thiên tử sao? Giết gà hay giết trâu, đều là tận trung với thánh thượng. Còn hơn để dao kiếm bỏ trong rương báu mà gỉ sét.” Ông xoay ánh mắt thâm trầm nhìn Hoàng Phủ Cật: “Ngươi là kẻ luyện võ, một thanh đao quá sắc, nếu không dùng khéo, ắt sẽ đứt tay.”
Lời đã thấu. Hoàng Phủ Cật liếc ra ngoài cửa sổ, hạ giọng: “Bệ hạ sai Ngạc công bình loạn, lại không điều Lũng Hữu quân. Triều đình giục nam chinh gấp gáp, ta với Kiếm Xuyên quân lại chẳng quen, trong doanh quân trung gian khó phân, đao thương vô tình, lỡ một phen sơ suất…”
“Lỡ một phen sơ suất, ngựa sẩy vó, e rằng ta sẽ từ lưng chừng núi Thương Sơn mà rơi chết.” Tiết Hầu khẽ gật đầu mỉm cười, “Ấy là ta phụ lòng trọng thác của bệ hạ, chết cũng đáng tội.” Trên án bày chiếc chén tê giác chạm rồng do phủ Thục vương gửi tới, ông tùy ý cầm lên, đôi mắt từng trải hẹp lại: “Thục vương kia thật là có chủ ý, ngỡ rằng không có Lũng Hữu quân, ta sẽ e ngại hắn sao? Chớ nói còn có giáp trụ đao thương, dẫu tay không, ta không dẹp nổi một bộ man nhỏ bé, thì còn làm chi Đại nguyên soái binh mã Tây Bắc đạo làm gì nữa? Khi ấy, theo hầu hắn dắt ngựa cho xong!”
Lông mày tuấn khí của Hoàng Phủ Cật nhướng lên: “Ngạc công, ta theo người ở Giao Châu!”
Tiết Hầu ngắm hắn, rồi lắc đầu: “Tự cổ chí kim, trung hiếu khó vẹn đôi đường. Ngươi nên về Ô Lão thành thì hơn.” Không đợi Hoàng Phủ Cật mở miệng, ông đã nhàn nhạt nói thêm: “Ngươi theo ta, thì phải giữ quân luật Lũng Hữu. Ta bảo ngươi giết giặc, bất kể là binh tốt hay vương hầu, dẫu là song thân của ngươi, cũng phải tuân lệnh, ngươi làm được không ?”
Hoàng Phủ Cật ngập ngừng.
Tiết Hầu không trách, chỉ khoan hòa vỗ vai hắn: “Đi đi. Nếu ta thật sự ở Kiếm Xuyên mà ngựa sẩy chân, ngươi thay ta lập một ngôi mộ áo mũ là đủ.”
Dẫu là Tiết Hầu, trong giọng cũng ẩn tia ngờ vực chưa từng có. Hoàng Phủ Cật khẽ liếc bản Vô Lượng Thọ Kinh trên án — ấy là ông đang cầu Bồ Tát ban thọ kéo dài.
Man di phương nam đã chiếm Duyệt Tô. Chốn này núi cao rừng rậm, tiến khả công, thoái khả thủ. Biết người Hán giỏi tập kích, bọn chúng cũng cảnh giác, chẳng dễ ra khỏi thành. Trên đường tiến về Giao Châu, người Hán lo sợ trẻ con bị bắt, nên bọn hào phú cùng dân thường đều bỏ chạy hết; chẳng còn trâu bò gặm cỏ, hoa giấy trên núi càng mặc sức nở đỏ rực rỡ.
Mộc Ngáp dẫn một đám người đi trong núi, vừa nhét quả rừng chín mọng vào miệng, vừa quất lưng dao vào bụi hoa giấy, cánh hoa bay tán loạn. Bị giam ở Tuỳ Châu hơn tháng, bọn chúng nóng ruột, xúi giục A Phổ Đốc Mục trực tiếp đánh Giao Châu: “Đã dò hỏi cả rồi, binh giữ cửa ải và bến đò đều rút cả. Chẳng chừng trong thành Giao Châu cũng sớm bỏ trống, gan người Hán, còn nhỏ hơn hạt cải.”
A Phổ Đốc Mục lắc đầu, cảnh giác như dã thú: “Ắt có phục binh. Không thấy dân chạy vào núi, tức là trong thành chưa loạn.” Huống hồ, một mẩu tin cũng chẳng lọt ra ngoài. Quân Hán hẳn đang âm thầm chuẩn bị một cuộc báo thù hiểm độc. Hắn buộc mảnh vải vào chân diều hâu, đợi ngày mai, con chim này sẽ vượt mười chín đỉnh Thương Sơn, đáp xuống tay Cát La Tố.
“Giao Châu đô đốc là Thục vương, lúc ở kinh chưa từng thấy y kéo dây cung. Con trai hoàng đế, chẳng sợ bị thiến ư?” Mộc Nga cười khẩy. Hắn chưa từng thiến bò ngựa, nhưng rất thích lấy lời ấy dọa người Hán.
A Phổ Đốc Mục chẳng cười, chỉ nói gọn: “Chớ vọng động.”
Về đến Tuỳ Châu, hắn ngó vào trại nhà Thi Lãng vài lượt. Trong trại yên ắng, mấy tên thổ binh vung thương chơi chốc lát rồi lại chui vào nhà tránh nóng. A Phổ Đốc Mục lấy làm lạ: “Có thấy A Xá không?”
Mộc Ngáp lắc đầu. Chỉ cần không đánh người Hán, sáu bộ mỗi bên lo một ngả, nhà Thi Lãng là khó trị nhất. “Gà Đa đi với nàng ta, hắn dữ tợn lắm.”
“Đêm nay chú ý động tĩnh của chúng.” A Phổ Đốc Mục trầm giọng.
Bọn Ô Toản từ Điền Nam quen ở nhà sàn trải chiếu mây, không thích ở nhà đất kín bưng của người Hán. Vừa chập tối, sân trong ngoài trại chật kín chiếu cỏ, binh Ô Toản gối đầu lên đao thương, phanh ngực mà ngủ ngáy. Mùa này hoa mã anh thơm nức, ánh trăng rọi sáng sân, khiến A Phổ Đốc Mục nhớ đêm xưa trước khi hắn và A Xá “thành hôn”, hai người kề đầu, nghe tiếng hổ gầm và trống chiêng ngoài kia, náo nhiệt vô cùng.
Không ổn! A Phổ bật ngồi dậy, vầng nguyệt cô liêu lại bò lên sống lưng hắn. A Phổ quả quyết: “Nàng đi Giao Châu rồi.”
“Nàng còn nhớ đường về Giao Châu không?” Mộc Ngáp lẩm bẩm nghi hoặc.
A Phổ cúi đầu trên lưng ngựa, trầm ngâm một lát: “Không có A Xá, người nhà Thi Lãng sẽ chẳng nghe ta.”
Mộc Ngáp đành theo cùng. Ra khỏi thung, vượt suối cạn, càng về phía bắc, Y càng thấy bất an, hối hận vì không đem thêm nhân mã. Qua vùng giáp danh, Mộc Ngáp vung cây đuốc tùng sắp tàn, ghé tai lắng nghe tiếng nước xa xa, liền kéo cương ngựa A Phổ: “Đến Gia Chi Y Đạt rồi, không thể đi tiếp.”
Gia Chi Y Đạt, trong miệng người Ô Toản, tức sông Lô. Tương truyền đó là dải khăn quấn đầu của Chi Cách A Lỗ biến thành đại giang, qua sông ấy tức đã vào Trung Nguyên. Mộc Ngáp lại khuyên: “Bến đò tất có quân giữ, đủ để bắn chúng ta thành nhím.”
A Phổ cũng dừng, ngẩng nhìn bầu trời tối mịt: “Chờ đến sáng, nếu không có động tĩnh, ta sẽ đi.”
Mộc Ngáp xuống ngựa, tựa gốc cây, mặt hướng con đường mờ sương phía trước, thỉnh thoảng ngoảnh lại nhìn A Phổ. Sương dâng trong khe núi, nhớ thuở Ô Toản còn cúi đầu xưng thần với Hán triều, từng có đoàn thuyền cống vượt sông trong ánh hừng đông, và người chèo đò thả bè tre ở bãi cạn.
Trong làn sương trắng, lờ mờ hiện bóng pháo đài bên kia, tịch mịch đến nghẹt thở, khiến tim Mộc Ngáp như nhảy lên tận cổ: “Chúng ta về thôi?”
Nước sông bị khuấy động, hai người tai thính, lập tức ngoảnh lại. Từ kẽ núi chật hẹp, một chiếc bè tre chen ra, A Xá và Gà Đa lộ diện. Tới bãi cạn, hai người nép sát vách đá phủ rêu xanh, nhảy xuống nước, đẩy bè ra xa.
A Phổ hạ cung tên, đứng chờ bên bờ, đưa tay kéo A Xá lên. Cả hai nói rất khẽ, sợ kinh động quân Hán trên vách đá: “Đêm nay sóng lớn, suýt lật bè.” A Xá mệt mỏi, vắt tà áo ướt sũng, vuốt mái tóc đen mướt như mực.
Mộc Ngáp hỏi: “A Xá, ngươi vào thành Giao Châu chưa?” Giọng mang ý trách móc.
A Xá không đáp. Nàng và Gà Đa tới dưới chân thành, chỉ nhìn vào cảnh sáng rực trong cổng. Không kể binh lực điều đi phương Nam, Kiếm Xuyên còn hai vạn quân thủ. Người Hán có chỗ dựa, trong thành đèn kết hoa treo, ca hát thâu đêm; binh lính tuần tra khoác gấm, nồng nặc mùi rượu, toàn là ban thưởng của phủ Thục vương.
Họ không dám lẻn vào, ngồi suốt đêm dưới chân vách núi. A Xá bảo Gà Đa xem những vết đao khắc thơ trên đá: “Đây là A da ta khắc, ngươi tin không?”
“Nhìn này, là chữ Đoàn.” A Xá dí đuốc lại, sờ vào vết khắc rõ rệt, ngoái nhìn tòa thành hân hoan kia: “Nhà ta ở ngay phủ Đô đốc Giao Châu, thế mà ta chẳng thể bước vào, chỉ có thể đứng xa mà nhìn.”
Mắt Gà Đa rực căm hận, hắn là con chó trung thành của Đạt Nhã: “Chúng nó, cùng nhà Cát La Tố, hại chết gia chủ.”
Sóng lặng, họ nhân lúc trời vừa rạng, chống bè trở lại. Thấy A Phổ và Mộc Ngáp, A Xá ra hiệu suỵt, Gà Đa mới ngậm miệng.
Ngựa buộc bờ sông đã chạy mất, Gà Đa thà dùng đôi chân trần đi bộ về Tuỳ Châu. A Xá lên ngựa A Phổ, vó ngựa tung bọt hồng trong ráng sớm. Nàng tựa má lạnh lên lưng hắn, tay luồn vào áo đối khâm, chạm vào cơ thể rắn chắc, nóng ẩm mồ hôi. Đến giáp danh, A Phổ gạt tay nàng, xuống ngựa.
“Ngươi đến Giao Châu gặp Lý Linh Quân?” Hắn cau mày.
“Hắn đang ở Thục quận bận cưới vợ.” A Xá rõ ràng không cam lòng, “Tiết Hầu đắc tội với hoàng đế, bị giáng từ Lũng Hữu xuống Kiếm Xuyên. Triều đình giục y xuất binh từ Giao Châu, y chẳng chịu.” Mắt nàng u ám, “Giao Châu, ta là không thể về nữa rồi.”
Nghe đến tên Tiết Hầu, A Phổ không tỏ ý gì. Mộc Ngáp trên ngựa thi thoảng ngoảnh lại, tìm bóng dáng cố chấp của Gà Đa.
“Ngươi phải giao Gà Đa cho ta.” A Phổ bỗng nói, giọng sắc lạnh.
“Vì sao?” A Xá hỏi dồn.
“Ta sẽ dùng quân pháp xử trí hắn. Không giết, chỉ đánh roi trăm lượt.” A Phổ bình thản, quất roi trẻ con là chuyện thường của quý tộc Ô Toản, huống chi Gà Đa là nô lệ Thổ Phiên, giết cũng chẳng kể tội.
A Xá hiểu, hắn muốn dùng Gà Đa để lập uy ở nhà Thi Lãng: “Không được!”
“Vậy thì ngươi hãy dẫn người nhà Thi Lãng quay về.” A Phổ lạnh lùng liếc nàng một cái, dắt ngựa bỏ đi.
Long Hương Bát - Tú Miêu
Đánh giá:
Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu
Story
Chương 78: Phần 4: Son Phấn Điểm Phai (78)
10.0/10 từ 25 lượt.
