Long Hương Bát - Tú Miêu
Chương 36: Phần 4: Vén Tuyết Tìm Xuân (36)
Sau mấy chục ngày dầm mình trong mưa dầm tầm tã, cuối cùng trời cũng quang đãng trở lại. Mây mỏng, không khí trong lành, tầm mắt trải rộng, trong thung lũng nơi dòng nước lặng như gương, rặng ngân hạnh ửng vàng sáng rực như ráng sớm. Không còn phải khoác áo ẩm ướt, giày dính bùn, ai nấy đều thấy lòng khoan khoái, thi nhau nhảy xuống khỏi xe, khỏi ngựa.
“Đến Hà Hoàng rồi,” Hồng Lô Khanh Lữ Doanh Trinh cũng vừa vươn vai vừa cười hiền hòa, “Nơi đây vào thu sớm hơn Trường An.”
“Giờ mới gọi là vào thu sao?” Từ khi rời kinh, Lý Linh Quân đã cởi bỏ mũ miện, đổi sang chiếc trường bào màu điều bó tay, vạt ngắn, chân mang ủng đen giẫm lên thảm cỏ mềm mượt, còn tay thì cầm roi ngựa, mắt dõi theo dãy núi nhuốm sắc vàng sẫm lẫn đỏ nhạt. Có đám mục dân cưỡi ngựa băng qua rừng lá, lùa đàn cừu tựa như mảng mây đen mênh mông, từ từ lướt sâu vào lòng thung lũng.
Lữ Doanh Trinh lặng lẽ ngắm gương mặt sáng rỡ của Lý Linh Quân. Người đã có tuổi thì thấy thời gian như tên bắn, luôn mong vó ngựa chậm lại đôi chút. Trái lại, kẻ trẻ tuổi mới rời khỏi hoàng thành lại giống như chim non mới mọc cánh, lời nói cũng mang theo sự nôn nóng chẳng thể che giấu.
Lữ Doanh Trinh mỉm cười ôn hòa: “Lang quân chớ vội, chỗ này là núi Nhiệt Bạc Hãn, phía đông là Thản Châu, thuộc địa giới Lũng Hữu, phía tây là Hà Châu, nơi Đông đạo tiết độ sứ của phiên quốc đóng binh xây thành. Xưa kia hai nước mỗi lần nghị hòa đều gặp nhau ở núi Nhiệt Bạc Hãn, chỉ là lần này, ta sẽ tiếp tục vòng về phương nam, tiến sâu vào Lô Tư.” Ông chỉ tay về phía chân trời khói lam lượn lờ: “Đi thêm hơn mười dặm nữa, là đến biệt quán của Thổ Phiên, sẽ có người của Đông đạo tiết độ sứ ra nghênh tiếp.”
Hai bên đóng binh nặng nề, mà cự ly chỉ hơn trăm dặm, kỵ binh chỉ mất một đêm là đã đến thành địch. Dao kề cổ, sao an lòng ngủ yên? Lý Linh Quân bỗng nhớ lại lời Hoàng Phủ Cật từng nói: “Có khi phải m*nh tr*n mà đánh trận.” Khi ấy còn tưởng hắn chỉ khoác lác. Giờ đây, gã bất giác ngoảnh về hướng Thản Châu, xuất thần.
“Ngạc quốc công hiện đóng quân ở Ô Hải, không thể đến tiễn, mong lang quân lượng thứ.” Giọng Lữ Doanh Trinh thấp xuống, “Trước kia, mỗi lần nghị hòa đến nửa chừng, phiên quốc lại nuốt lời, hoặc tập kích sứ đoàn, hoặc tấn công biên trấn. Lần này, ta phải càng cẩn trọng.”
Lý Linh Quân cũng nghiêm túc gật đầu. Ngoảnh đầu nhìn lại, mục dân cùng bầy cừu đã khuất bóng, trong khe núi còn vang vọng tiếng ca réo rắt, là ngôn ngữ hắn chẳng hiểu.
“Dân nơi đây thường bị quân phiên quấy nhiễu sao?”
“Người Hán ở đây rất ít, dù là hậu nhân người Hán cũng không còn nói tiếng Hán. Phần nhiều là di dân của Đột Quyết Hồn. Đột Quyết Hồn, Tượng Quần, Tô Bì, Bạch Lan, bao nhiêu hãn quốc ngoài Tuyết vực đều bị thiết kỵ Thổ Phiên dẫm nát rồi.” Giọng Lữ Doanh Trinh đầy thê lương, “Đàn cừu kia, e rằng cũng là do biệt quán Thổ Phiên nuôi dưỡng, nên trông thấy ta mà không hề né tránh.”
“Lang quân, mấy người chăn cừu hát gì vậy?” Một giọng nữ vang lên.
“Chuyện này thì tại hạ biết,” nghe tin Ngạc quốc công không đến nghênh đón, Ông Công Nhụ vươn đầu ra khỏi xe, cười bảo: “Ai từng sống ở Thản Châu đều từng nghe qua . đó là khúc hát của người Đột Quyết Hồn còn sót lại.”
Ông cất giọng Hán ngữ ngâm nga, giọng đọc trầm thấp mà bi tráng phẫn uất chẳng hề vơi:
“Hỡi người Đột Quyết Hồn, hỡi người Đột Quyết Hồn, gió bấc thổi mãi cớ sao chí khí suy tàn?
Muôn vàn chiến mã rơi vào tay nô lệ, mạnh yếu theo người, hà tất than thân.
Hỡi người Đột Quyết Hồn, hỡi người Đột Quyết Hồn, băng tan hồ Thanh Hải, cỏ mềm như tơ.
Minh đường thiên tử triều bái chư hầu, ngựa rồng thần đảo sẽ thuộc về ai?”
Mọi người nghe mà tâm trí mông lung. Ông Công Nhụ chợt ngưng bặt, nói: “Khi xưa, Trường công chúa Kim Hà theo Hãn vương Đột Quyết Hồn chạy về Trường An, từng hát khúc này trước mặt Thánh thượng. Lữ tướng quân, ngài còn nhớ không?”
Lữ Doanh Trinh vuốt râu gật đầu. Ông Công Nhụ lại chỉ vào con tuấn mã phía sau Lý Linh Quân: “Chính là Hãn vương Đột Quyết Hồn dâng lên Thánh thượng đó. Ngựa quý bản địa, gọi là Thanh Hải Thông.”
“Thì ra là vậy.” Tạng quốc biệt quán đã ở ngay trước mặt. Lý Linh Quân thu hết hỷ nộ vào trong, mặt không biểu lộ gì, chỉ lặng lẽ cất túi nước, cùng Hoàng Phủ Nam mỗi người cưỡi một con Thanh Hải Thông. Hoàng Phủ Nam mặc áo vải thô, vành mũ trùm thấp, đi sát bên Lý Linh Quân, chẳng khác gì một tiểu đồng không đáng chú ý. Lúc này, nàng bỗng ngẩng đầu, thoáng liếc về hướng Thản châu.
“Lang quân chậm đã.” Một tiếng huýt gió sắc nhọn vọng từ phương xa. Quân sĩ đi đầu vội bẩm: “Có người từ Thản châu đuổi tới.”
Cả đoàn khẽ căng thẳng, rồi dần thả lỏng. Lý Linh Quân cùng Lữ Doanh Trinh thúc ngựa tiến lên, chỉ thấy mười mấy tướng sĩ mặc giáp trụ, đội khôi đồng phi nhanh tới. Sau khi hành lễ, một người lên tiếng: “Đây là năm trăm tù binh Tạng quốc, bắt được trong trận chiến tại thạch khẩu Tích Hà. Mỗ phụng mệnh Tiết Tướng quân đem toàn bộ trả lại cho Tạng quốc, tiện thể hộ tống Lữ tướng quân và Đông Dương quận vương vào Lô Tư.”
“Thế thì tốt quá.” Lữ Doanh Trinh mừng rỡ.
Lý Linh Quân thoáng liếc Hoàng Phủ Nam, rồi mỉm cười hỏi người lĩnh binh: “Hoàng Phủ Lục lang ở Thản châu vẫn khỏe chứ?”
“Hoàng Phủ Cật đã phụng mệnh đến Ô Hải rồi.”
Tính theo tốc độ hành quân của Hoàng Phủ Cật, e rằng hắn chỉ kịp dừng chân ở Thản châu thở lấy một hơi. Quả thật là tình hình biên cương khẩn cấp. Lý Linh Quân thầm cảm kích: “Đa tạ Tiết tướng quân.”
Hắn liếc qua năm trăm tù binh ăn mặc rách rưới, thân thể gầy còm, rồi quay sang Lữ Doanh Trinh: “Lữ tướng quân, vậy thì chúng ta đi gặp Tiết độ sứ Đông đạo thôi.”
Khi tới được tòa biệt quán của Thổ Phiên, hai vị sứ giả chính phó của triều đình liền nghe lệnh vào trướng ra mắt chủ nhà, dâng lên quốc thư và lễ vật do hoàng đế ban tặng. Văn thư cùng phù bài của toàn bộ đoàn tùy tùng cũng được trình nộp cho lính trạm để kiểm tra. Khi nhận đến danh sách năm trăm tù binh, viên lính trạm lập tức cảnh giác, nói: “Những người man này, đại soái cần tra xét kỹ lưỡng, lại phải gửi danh sách về Lô Tư để đối chiếu cùng thân tộc bản quán, xác minh xong mới có thể thả đi.”
“Lẽ tất nhiên.” Lữ Doanh Trinh không chút biểu cảm, chắp tay hành lễ rồi dẫn mọi người lui khỏi trướng.
Liễu quang nơi khóe mắt Lý Linh Quân lướt qua, chỉ thấy vị tù trưởng an nhiên ngồi trong trướng, đầu đội miện đỏ sắc triều vân, thân mặc cẩm bào thêu hoa tròn sắc vàng, gọi là “Luân Ba Thiết”, trên tay đeo kim bài ngự tứ, đang mỉm cười gật đầu nhìn họ.
“Người này là Thượng Dung Tạng của tộc Mạt Lô, một trong bốn bộ tộc lớn của Thổ Phiên.” Bước ra khỏi trướng của Thượng Dung Tạng, Lữ Doanh Trinh không khỏi đưa tay lau vội giọt mồ hôi nơi trán.
“Thượng?” Lý Linh Quân dọc đường đã nghe Ông Công Nhụ kể nhiều về phong tục Tây Tạng, lập tức hiểu ra. Trong triều đình Thổ Phiên, ngoại thích gọi là “Thượng”, quyền tướng gọi là “Luận”.
“Không sai. Y là huynh đệ của Thái hậu Xích Mã Long Trác, kẻ đối đầu sống chết với Giai Nhĩ Luận Hiệp Sát.”
Thái hậu này chính là vị Tán Mông trong lời đồn, người từng nhận nuôi một nô lệ Tô Bì, rồi dùng đứa trẻ đó giả làm hậu duệ của vua cũ.
Lý Linh Quân dường như đã ngộ ra điều gì, khẽ nói: “Thổ Phiên phái Thượng Dung Tạng đến đón, chứng tỏ Tán Phổ cũng có thành ý cầu hòa?”
“Chỉ mong là thế.” Lữ Doanh Trinh lời lẽ thận trọng, nhưng trong lòng cũng thầm thở phào nhẹ nhõm, mỉm cười cùng Lý Linh Quân trở về biệt quán. Vào phòng, thấy nơi đây được quét dọn sạch sẽ, ngọc bút, bút nghiên đều bày ngăn nắp trên án. Đám thị vệ đi cùng cũng đã cởi bỏ giáp trụ, đem ngựa giao cho lính trạm biết nói tiếng Hán chăm sóc. Bọn quân sĩ từ Thản Châu thì theo lệnh quân, dựng trại ngoài biệt quán. Năm trăm tên tù binh kia đành phơi mình gió sương, chẳng ai ngó ngàng.
Ông Công Nhụ phủi áo đi ra đón, mỉm cười nói: “Đưa thêm năm trăm tù binh như vậy, chỉ e lại thêm nhiều phiền nhiễu. Ta đã báo trước với mọi người, chỉ sợ phải ở lại Hà Châu dăm bữa nửa tháng, không biết công tử có trách ta tự ý quyết định không?”
Ông là mưu sĩ thân cận của Lý Linh Quân, Lữ Doanh Trinh nào dám làm khó, chỉ cười lắc đầu: “Nào dám?” Rồi lại chăm chú nhìn ông mấy lượt, thầm thán phục: “Các hạ quả là người có con mắt thần, chẳng hay từng đảm nhiệm chức vụ gì?”
Ông Công Nhụ tùy tiện đáp vài câu, đánh trống lảng cho qua. Đợi Lữ Doanh Trinh vén tay áo ngồi xuống bàn, bắt đầu soạn biểu chương tấu trình, ông lặng lẽ lui ra, bước chân vào phòng Lý Linh Quân thì không thấy ai. Ông liền quay phắt lại, bước sang gian bên, nơi ở của Hoàng Phủ Nam, cũng vắng tanh không người.
Một tên tiểu đồng của phủ Thục vương, lại được ở riêng một phòng, há chẳng khiến người ta ngứa mắt? Đúng là ra vẻ. Khóe môi Ông Công Nhụ khẽ nhếch lên khinh miệt.
Dưới bóng ngân hạnh, hai con Thanh Hải Thông đang ung dung gặm cỏ. Lý Linh Quân ngồi xếp bằng trên thảm cỏ, đầu gối nhô lên, một chiếc lá ngân hạnh xoay nhẹ rồi rơi xuống búi tóc hắn, mà hắn chẳng hề hay biết, chỉ lặng lẽ nhìn về phía bờ sông, nơi Hoàng Phủ Nam đang đứng.
Nàng tháo mũ, thả tóc, đang thong thả chải tóc bên bờ nước.
Tiết trời thu ở Hà Hoàng vẫn còn dư âm xuân ấm, ánh tà dương nghiêng nghiêng rọi xuống, dát lên cỏ cây và thân ảnh con người một tầng hào quang mơ hồ. Lý Linh Quân đứng dậy, nhẹ nhàng bước đến gần, thấy chiếc khăn tay trong tay nàng theo dòng nước trôi đi, vội vàng nhúng tay vớt lấy, đưa trả nàng, trầm ngâm nói: “Ngựa qua tuyết phủ, ngựa về hoa đào. Nếu ngoài quan tái đâu đâu cũng như Hà Châu, xuân ý dạt dào, yên ổn an hòa, thì việc bệ hạ cắt Tứ trấn, bỏ Cửu khúc, cũng chẳng phải kế dở.”
Hoàng Phủ Nam chăm chú nhìn hắn. Trong đôi mắt xưa nay rạng rỡ như mặt trời ấy, dần dần lộ ra nét thâm trầm, có khi còn ẩn ẩn vẻ khó đoán. Về Thổ Phiên, Hoàng Phủ Cật thì chẳng hề giấu ghét bỏ, còn Lý Linh Quân lại thản nhiên ung dung.
Hoàng Phủ Nam chợt hỏi: “Huynh không thấy Trưởng công chúa Kim Hà đáng thương sao?”
Câu hỏi ấy như vẫn còn văng vẳng từ hôm nào trong màn trướng nơi chùa Sùng Tế. Lý Linh Quân trầm mặc hồi lâu, cuối cùng chân thành nói:
“Là công chúa, dùng hôn nhân để đổi lấy hòa bình cho muôn dân, vốn đã là sứ mệnh trời sinh.” Hắn mỉm cười nhìn nàng: “Trước kia cứ thích vung kiếm bừa bãi, có phải là quá dại dột không?”
Hoàng Phủ Nam cũng đang trầm ngâm suy nghĩ, khẽ hỏi: “Nếu Kiếm xuyên và Tây Xuyên cũng giống như dân Hà Hoàng, đồng lòng ca lên khúc Thoái Hồn nhi, bệ hạ liệu có khoanh tay đứng nhìn chăng?”
“Triều đình Tây Phiên tranh giành quyền lực, ngày tàn tất đến, không cần đánh cũng tự diệt. Còn Kiếm Xuyên…” Sắc mặt Lý Linh Quân trở nên nghiêm nghị, “Hoàng Phủ Cật từng nói một câu rất đúng: chia mà trị, trong trước ngoài sau, ổn rồi mới đánh, yếu rồi mới tiến.”
Hoàng Phủ Nam không đáp, đang định vấn tóc lên, thì bị Lý Linh Quân ngăn lại: “Chớ vội.”
Hắn đưa tay vuốt mái tóc đen bóng như gấm lụa của nàng, khẽ vén ra sau vai, ngắm nhìn một hồi, mỉm cười nói: “Để vậy đẹp hơn… giống như vừa mới bước xuống giường.”
Trên đường bắc tiến, hai người tuy luôn kề cận không rời, nhưng vì có mặt Lữ Doanh Trinh cùng người khác, vẫn chưa có lúc nào thân mật quá mức. Giờ phút này, tay trong tay tựa nhau bên bờ sông, lòng Lý Linh Quân cũng khẽ rung động, cúi xuống hôn lên đôi môi mềm tươi tắn của nàng, rồi thì thầm bên tai: “Nàng cải nam trang quả thật khéo léo, Lữ Doanh Trinh còn tưởng ta có tình ý với nam nhân, đến ngồi cũng lánh xa ta.”
“Y chưa từng gặp ta, sao mà nhìn ra được”. Hoàng Phủ Nam khẽ nghiêng người ra khỏi vòng tay hắn, ánh mắt liếc về phía hạ lưu khúc sông uốn lượn, nơi vài dãy lều trại lưa thưa thấp thoáng, là doanh địa của quân Thản Châu. Nàng khẽ hỏi: “Năm trăm tù binh kia…”
“Trong đó e là có người của Tiết Hầu cài vào.” Lý Linh Quân cũng đang suy đoán, không rõ đám người kia là gây rối hay bảo vệ ngầm: “Hắn tính toán điều gì, có khi ngay cả bệ hạ cũng không biết rõ, giao cho Ông Công Nhụ đi cân nhắc là hơn.”
Hoàng Phủ Nam bật cười: “Ông tiên sinh nhìn ta, ánh mắt như thể muốn đâm thủng hai lỗ trên người.”
“Ông ta chẳng có gan ấy đâu.” Lý Linh Quân cởi áo khoác, nhẹ phủ lên vai nàng, rồi đội mũ choàng che kín mái tóc xõa, “Gió nổi rồi.”
Hắn ngoái đầu nhìn tán ngân hạnh đang lay động. “Không phải gió.”
Cả hai cùng sững người. Chỉ thấy từ trong rừng ngân hạnh, một toán kỵ binh đột nhiên phi ra, miệng cao giọng hô tiếng Phiên. Lúc rời biệt quán, Lý Linh Quân không mang theo cung đao, bèn siết chặt nắm tay, đứng chắn trước mặt Hoàng Phủ Nam.
Người đi đầu chính là Mãng Tán. Từ khi vào đến Hà Hoàng, hắn đã đổi lại trang phục thanh niên Thổ Phiên: thắt khăn trán, đeo khuyên tai, áo gấm vạt chéo trễ khỏi một bên vai, dùng thắt lưng vải buộc ngang hông. Bọn họ đang rượt theo một con hươu đực, phấn chấn vô cùng. Vừa thấy Lý Linh Quân, Mãng Tán lập tức ghìm cương, thúc ngựa đến trước hai người.
Thiếu chủ nhà Cát Nhĩ, con trai của đại tướng Luận Hiệp Sát. Hắn không xuống ngựa, chỉ cao cao tại thượng, nghiêng đầu cười nói: “Đông Dương quận vương, ngài giấu con mồi của ta ở đâu rồi?”
Lý Linh Quân đáp: “Nó đã thoát khỏi tay ngươi, còn tính là của ngươi sao?”
Mãng Tán giương giương cây cung cong trong tay, chậm rãi nói: “Những nơi vó ngựa và móng dê của Đại Phiên từng giẫm qua, đều là đất của người Phiên. Gia súc thất lạc trong nhà ta, chẳng lẽ người khác có thể tùy tiện nhận làm của mình?”
Biệt quán tiếp theo của Thổ Phiên cách đây hai trăm dặm, hiển nhiên Mãng Tán quay ngược lại chỉ để kiếm chuyện. Lý Linh Quân chẳng buồn để tâm đến lời ngạo mạn của hắn, nhàn nhạt đáp: “Con hươu ấy đã lẩn vào rừng phía bên kia sông, ngươi cứ đuổi theo mà bắt.”
“Ai bảo con thú ta mất là hươu đực?” Mãng Tán bỗng vung ngọn giáo nơi tay kia, như thiểm điện xuyên qua vai Lý Linh Quân, định vén mũ choàng của Hoàng Phủ Nam. Lý Linh Quân lập tức gạt phăng ngọn giáo, kéo nàng sang một bên, chiếc lược rơi xuống cỏ.
Mãng Tán bật cười: “Thì ra là một con hươu cái.”
Nét mặt Lý Linh Quân thoáng trầm xuống, đang định lên tiếng thì Hoàng Phủ Nam đã giơ đôi tay trắng ngần, ung dung vén chiếc mũ, mỉm cười hỏi Mãng Tán: “Ta là vật lạc từ nhà ngươi sao?”
Ánh mắt Mãng Tán lập tức nghiêm lại, vẻ giễu cợt trên mặt tan biến. Sự xuất hiện bất ngờ của Hoàng Phủ Nam tại Hà Hoàng khiến hắn sinh nghi. Hắn thu giáo lại, lạnh nhạt nói: “Đi.”
Chẳng thèm liếc Lý Linh Quân, hắn thúc ngựa vượt sông, những kẻ theo sau cũng nối đuôi mà đi. Khi đã đến bờ bên kia, hắn lại quay đầu nhìn Hoàng Phủ Nam, ánh mắt có chút lưỡng lự.
Hoàng Phủ Nam dõi theo bóng Mãng Tán, đến khi đám người Thổ Phiên kia săn được hươu, cắt lấy nhung rồi rút lui, Lý Linh Quân mới thả tay nàng ra, dắt Thanh Hải Thông lại gần.
Hoàng Phủ Nam nhẹ nhàng lên ngựa, mặt trời vừa khuất núi, gió mới bắt đầu nổi. Lá cây xào xạc, lá ngân hạnh bay lượn, lướt qua gò má. Nàng khéo léo vấn tóc lên, nét mặt ánh lên ý cười dịu dàng.
Lý Linh Quân đưa mắt liếc nhìn nàng, khẽ hỏi: “Hắn hình như có phần kiêng dè nàng?” Phải chăng là vì Hoàng Phủ Cật?
Dưới lớp áo thô màu xám mộc, Hoàng Phủ Nam mắt long lanh, ánh nhìn khẽ lay động: “Hắn sợ ta sao? Kỳ lạ thật. Ta lại rất thích người sợ ta.”
Nàng khe khẽ thúc ngựa, vó câu vui vẻ tung bay lao về phía trước.
Long Hương Bát - Tú Miêu
Đánh giá:
Truyện Long Hương Bát - Tú Miêu
Story
Chương 36: Phần 4: Vén Tuyết Tìm Xuân (36)
10.0/10 từ 25 lượt.
