Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
Chương 26: “Lương Học gạt ta.” Kỷ Vân Hành ôm giỏ nhỏ, quay người rời đi, lẩm bẩm nói: “Đáng ghét.”
Thoạt nhìn vẻ ngoài, Thiệu Sinh sẽ khiến người ta cảm thấy y là một người có tính cách ôn hòa.
Khi y nói chuyện mang theo nụ cười, tốc độ nói không nhanh không chậm, giọng nói trong trẻo, rất có phong thái của một văn nhân.
Tô Y mang theo Kỷ Vân Hành đi cùng y, hai người trò chuyện, Kỷ Vân Hành đi theo bên cạnh, thỉnh thoảng lại ngẩn ngơ, nhưng cũng từ miệng Thiệu Sinh mà biết thêm đôi điều về y.
Thiệu Sinh xuất thân từ một gia đình thư hương, cha và ông nội y đều thi cử cả đời, nhưng cũng không thể đậu được công danh gì.
Trong nhà y tuy không tính là giàu có, nhưng cũng đủ điều kiện để y đọc sách, chỉ là lần trước khi tham gia khoa thi, cơ thể y bị bệnh nên chỉ đỗ được Tú tài. Sau khi Thiệu Sinh không đỗ thì đến Linh Châu, vừa chăm chỉ học tập khổ luyện, vừa làm tiên sinh tư thục kiếm thêm chút bạc dùng riêng, chờ kỳ thi Hương lần tới.
Sau khi Tô Y nghe xong thì gật đầu liên tục, tuy ngoài miệng không nói, nhưng nhìn biểu hiện của bà ấy hình như là rất hài lòng.
Thiệu Sinh chỉ độ đôi mươi, trẻ trung lại tuấn tú, học thức cao còn biết cầu tiến, dù gia cảnh không mấy giàu có cũng không vấn đề gì.
Tiền bạc có thể kiếm được, mà tình hình hiện tại của nhà họ Kỷ, Kỷ lão gia có thể sống ra ngoài hay không còn khó nói, sau này Kỷ Vân Hành nắm giữ gia nghiệp của Kỷ gia và tửu lâu của bà ấy, chắc chắn không đến nỗi thiếu tiền.
Tô Y suy tính trong lòng, sau đó dắt tay Kỷ Vân Hành đến giữa, cười nói: “Nghe vừa rồi tiên sinh nói, hai người trước đó đã gặp mặt rồi?”
Thiệu Sinh nhìn thoáng qua Kỷ Vân Hành, trong mắt mang theo ý cười nhè nhẹ: “Đúng vậy, lần trước cũng ở chỗ này, nhưng mà lúc ấy chỉ nhìn thoáng qua từ xa, chắc là Kỷ cô nương đã quên rồi.”
“Ta không quên.” Lúc này Kỷ Vân Hành mới từ tốn mở miệng: “Có phải lúc đó huynh đang đứng cùng một chỗ với Triệu công tử không?”
“Triệu công tử?” Tô Y nghe cái tên này, sắc mặt lập tức thay đổi: “Không phải là Triệu công tử, nhà buôn gỗ ở Tây thành chứ? Gã còn đến nhà họ Kỷ? Sao con lại chạm mặt gã được?”
Tô Y chỉ tùy tiện nghĩ cũng biết là tình hình gì, chẳng qua là Kỷ lão gia và Vương Huệ mời người đến, để Triệu công tử gặp mặt Kỷ Vân Hành, sau đó định đoạt hôn sự.
Gã họ Triệu kia không chỉ người béo đầy mỡ, còn từng ra tay đánh chết vợ mình, lại là một kẻ háo sắc, thông phòng nhiều đến mức có thể tụ thành hai bàn đánh mã điếu.
Nếu gã nhìn thấy Kỷ Vân Hành thì không cần phải nói, chắc chắn khi trở về sẽ chuẩn bị sính lễ ngay lập tức.
“Súc sinh đoản mệnh.” Tô Y nghĩ đến đó thì lửa giận đầy mình, dù đang ở trước mặt Thiệu Sinh cũng không ngần ngại mà mắng thẳng.
Những uất ức mà Kỷ Vân Hành phải chịu ở nhà họ Kỷ trước đây, chính là sổ sách càng tra càng nhiều, từng khoản nợ căn bản là tính mãi không hết.
Bà ấy xắn tay áo, nói với Thiệu Sinh: “Vân Hành nhà ta từ nhỏ đã thích đọc sách, chỉ là trước đây chưa từng mời thầy dạy dỗ, đều tự mình đọc chơi mà thôi. Nếu Thiệu tiên sinh có thời gian rảnh, có thể đến sảnh trước uống vài chén trà, chỉ bảo con bé đôi chút xem ngày thường nên đọc sách gì, ta sẽ trả thù lao đúng ngày.”
Thiệu Sinh hành lễ nói: “Bà chủ Tô khách sáo rồi, chỉ là chút việc nhỏ thôi.”
Tô Y khẽ nói với Kỷ Vân Hành: “Con dẫn tiên sinh đến sảnh trước ngồi đi, bảo hạ nhân dâng trà ngon nhất cho y, con có vấn đề gì về mặt học thức đều có thể hỏi y, ta đi một chút sẽ quay lại.”
Kỷ Vân Hành nghe dặn dò thì gật đầu, sau đó nhìn theo bước chân rời đi nhanh như gió của Tô Y, nàng đoán chắc là bà ấy muốn đi tìm Vương Huệ.
“Tiên sinh, mời theo ta.” Kỷ Vân Hành đứng ra tiếp đón Thiệu Sinh.
Trong thời gian này, nàng luôn học cách quản lý gia đình với Tô Y, tuy rằng phần lớn mọi chuyện đều do Tô Y quyết định, nhưng hiện giờ người quản lý vẫn là đích trưởng nữ Kỷ Vân Hành. Những mối quan hệ xã giao thường ngày là không thể thiếu, Tô Y không thể thay thế để đại diện Kỷ gia được, cho nên đôi khi vẫn cần Kỷ Vân Hành đích thân đi tặng quà.
Chỉ là từ nhỏ Kỷ Vân Hành đã bị nhốt ở sân sau của Kỷ gia, đích nữ Kỷ gia mà người ngoài biết đến cũng không phải nàng. Về việc này, Tô Y đã cân nhắc lấy danh nghĩa Kỷ gia mở một buổi tiệc rượu, công bố thân phận đích trưởng nữ của Kỷ Vân Hành ra bên ngoài, chẳng qua do vẫn luôn bận rộn nên bà ấy chưa có thời gian chuẩn bị việc này.
“Ta cũng không phải tiên sinh tư thục của cô, Kỷ cô nương không cần phải gọi ta như vậy.” Thiệu Sinh mỉm cười nói với nàng.
Kỷ Vân Hành gật đầu, ngơ ngác hỏi lại: “Vậy ta nên gọi huynh là gì?”
Thiệu Sinh đi cùng nàng một đoạn, bỗng nhiên mở lời: “Ta có một người muội muội cũng xấp xỉ tuổi cô nương, ta ở bên ngoài mưu sinh và chuẩn bị cho kỳ thi nên đã lâu chưa về nhà thăm muội ấy, nhìn thấy cô ta lại nhớ đến muội ấy.”
Kỷ Vân Hành tò mò hỏi: “Nàng ấy trông giống ta lắm sao?”
Thiệu Sinh bèn cười khổ: “Tất nhiên không phải, chỉ là hai người đều là những cô nương trẻ tuổi, lại có tính tình điềm đạm, nên nhìn thấy cô ta mới nhớ đến muội ấy.”
Kỷ Vân Hành không tán đồng những lời này: “Ta nghĩ rằng, mỗi người trên đời này đều không giống nhau.”
Cũng như tuy là dì Tô đối xử với nàng vô cùng tốt, xem nàng như con mình mà chăm sóc, nhưng Kỷ Vân Hành chưa bao giờ cảm thấy bà ấy giống mẹ mình, lúc đang nhìn dì Tô cũng sẽ không nghĩ đến mẹ mình.
Thiệu Sinh nghe vậy thì cho rằng nàng tức giận, vội nghiêng đầu nhìn sắc mặt nàng, thấy vẻ mặt nàng vẫn bình tĩnh, lúc nói chuyện cũng nghiêm túc, không giống như tức giận, bèn nói: “Cô nói không sai, nhưng đó cũng là một cách để con người ta gửi gắm tình cảm, nếu cô có một người đã lâu không gặp nhưng vẫn luôn nhớ nhung, tự nhiên cô sẽ chú ý đến những ai có nét tương tự với người ấy.”
Kỷ Vân Hành vô thức nhớ đến Sở Tình.
Mỗi lần nàng đến chỗ bà ấy ăn đậu hũ, Sở Tình sẽ ngồi đối diện chăm chú nhìn nàng, ánh mắt đong đầy ý cười yêu thương.
Kỷ Vân Hành hiểu được, thật ra dì Tình đang thông qua nàng để nhìn một người khác, con gái Ngọc Ngọc của bà ấy.
“Vậy nên huynh xem ta như muội muội mình sao?” Kỷ Vân Hành lại hỏi y.
Thiệu Sinh vội vàng nói: “Không phải, chẳng qua là khi nhìn thấy cô nương, ta lại nhớ đến muội ấy mà thôi, tại hạ thất lễ rồi.”
“Không sao.” Kỷ Vân Hành cũng không để tâm, xoay mặt lại nói với Thiệu Sinh: “Thiệu ca ca, huynh có thể xem ta như muội muội huynh.”
“Muội không ngại sao?” Thiệu Sinh hơi ngạc nhiên hỏi.
“Trước đó thì có đôi chút.” Kỷ Vân Hành giơ tay lên, dùng ngón tay làm một ký hiệu nho nhỏ, nói tiếp: “Nhưng sau này ta đã thay đổi suy nghĩ.”
“Sao lại thay đổi?” Thiệu Sinh tiếp lời, thuận miệng hỏi.
“Mẹ ta đã qua đời rất nhiều năm, trước đây ta chưa bao giờ cảm thấy ai giống bà cả, sau đó có một lần ta bị bệnh, trong lúc mê mang, ta lại cảm thấy bà đã trở về, ôm ta vào lòng khi ta bị bệnh như thuở nhỏ.” Kỷ Vân Hành hơi ngừng lại, như đang cố gắng suy nghĩ xem nên giải thích thế nào, sau một lúc lâu nàng mới học theo lời của Thiệu Sinh, nói: “Khi huynh có một người mình rất nhớ nhung nhưng không cách nào gặp lại, có thể gửi gắm nỗi nhớ vào một người giống người ấy, đó cũng là một chuyện may mắn.”
Thiệu Sinh im lặng, nhất thời không biết đáp lại ra sao, thậm chí có hơi hối hận vì đã khơi ra đề tài này, thầm nghĩ nên an ủi tiểu cô nương bên cạnh thế nào.
Sau khi vắt hết óc, y dịu giọng nói: “Đúng thật là chuyện may mắn, nhưng còn bà chủ Tô? Nghe mấy đệ đệ muội muội kia của muội nói, bà ấy đối xử với muội như con gái ruột vậy.”
Kỷ Vân Hành lắc đầu: “Không phải dì, mà là bạn ta, chỉ là hắn đã đi rồi.”
“… Đi đâu?”
“Kinh thành.” Ánh mắt Kỷ Vân Hành đầy mong đợi nhìn y: “Còn sống thì chắc chắn sẽ có ngày gặp lại, đúng không?”
“Đúng, đúng vậy.” Thiệu Sinh vội vàng cắt đứt chủ đề, không hỏi tiếp nữa, chẳng mấy chốc đã đến sảnh trước của Kỷ gia, y bèn mau chóng nói: “Đến sảnh trước rồi, chúng ta vào ngồi thôi.”
Tuy rằng nội dung câu chuyện về sau có chút nặng nề, nhưng Kỷ Vân Hành lại không có vẻ gì là u sầu, ngược lại nàng còn rất vui, gọi người hầu dâng trà ngon nhất cho Thiệu Sinh.
Hai người ngồi trong sảnh trò chuyện về những quyển sách thường đọc, Thiệu Sinh cố ý tránh né các chủ đề liên quan đến Kỷ gia, không muốn nhắc đến những chuyện khiến Kỷ Vân Hành đau lòng, nhưng dù có nói gì thì câu chuyện vẫn liên quan đến quá khứ của nàng.
Giống như khi y biết chữ của Kỷ Vân Hành là do mẹ nàng dạy thì khen ngợi mẹ nàng là một tài nữ, Kỷ Vân Hành bèn nói: “Trước đây mẹ ta còn biết làm thơ, chỉ là sau này thân thể ngày càng suy yếu, không thể ngồi lâu cũng không đủ sức cầm bút, nên cũng rất hiếm khi thấy bà viết chữ nữa.”
Thiệu Sinh lại nói Kỷ Vân Hành chăm chỉ, tuổi nhỏ mất mẹ mà vẫn có thể đọc được nhiều sách như vậy, học được nhiều chữ như vậy.
Kỷ Vân Hành nói: “Lúc mới bắt đầu đọc sách, có rất nhiều chữ ta không biết, sau đó ta ghi những chữ không biết lên giấy, sau khi ra ngoài sẽ hỏi người khác.”
Thiệu Sinh nói nàng thông minh.
Kỷ Vân Hành lại nói: “Nhưng phần lớn mọi người trên phố đều không biết chữ, có vài người biết chữ thấy ta tuổi nhỏ, liền bảo dạy ta mỗi chữ mười đồng tiền.”
“Ác tâm vậy sao? Chắc chắn muội không đưa phải không?” Thiệu Sinh hỏi.
“Ta đưa.” Kỷ Vân Hành nói: “Ta học mười bảy chữ, trả một trăm bảy mươi đồng.”
Một trăm bảy mươi đồng! Thiệu Sinh nghe mà lòng như dao cắt, trời đánh kẻ ức h**p trẻ nhỏ đó đi, y kinh ngạc hỏi: “Tuổi muội còn nhỏ, lấy đâu ra nhiều tiền như vậy?”
“Là dì Tô cho ta.” Kỷ Vân Hành nói.
Thiệu Sinh chỉ ngồi trò chuyện với Kỷ Vân Hành một lát đã liên tục lau mồ hôi mấy lần, không ngừng liếc nhìn ra cửa, hy vọng Tô Y mau chóng đến.
Kỷ Vân Hành lại thấy chẳng có gì, khi nhắc đến những chuyện khiến người khác thương xót trước đây, nàng như đang kể về người khác chứ không phải mình.
Sảnh chính yên tĩnh lại, Thiệu Sinh như ngồi trên bàn chông, luôn cảm thấy cho dù nói gì cũng gợi nhớ đến quá khứ đau buồn của Kỷ Vân Hành, còn không bằng im lặng uống trà.
“Trước đây khi đến nơi này, ta chưa từng được ngồi ở vị trí này.” Không biết Kỷ Vân Hành nghĩ đến điều gì, đột nhiên mở lời.
Thiệu Sinh kinh ngạc nhìn nàng một cái, thầm nghĩ không hay rồi, quả nhiên nghe nàng nói: “Ta chỉ có thể đứng trong góc.”
Nàng đứng dậy, đi đến cạnh cây cột ở giữa sảnh, đó gần như là ở vị trí sát cửa, sau đó nàng đứng yên nói: “Chính là ở đây.”
Thiệu Sinh lập tức đứng dậy: “Đứng ở đó làm gì?”
“Nghe bọn họ nói chuyện.” Kỷ Vân Hành tựa vai vào cột, một động tác rất nhỏ nhưng lại rất thuần thục: “Có đôi khi họ sẽ nói rất lâu, chân ta đứng đến đau nên phải dựa vào thế này, người khác cũng không nhận ra.”
Thiệu Sinh đứng giữa sảnh, ngơ ngẩn nhìn Kỷ Vân Hành, một lúc lâu sau trên mặt y mới dần hiện lên một nụ cười, nhưng không hề mang theo chút vui vẻ nào, chỉ chầm chậm nói: “Vân Hành muội muội thật thông minh.”
Khi Tô Y đến sảnh chính, hai người họ đang yên lặng uống trà.
Thấy bà ấy đến đây, Thiệu Sinh bèn uống cạn ngụm trà cuối cùng, đứng dậy nói: “Đa tạ Vân Hành muội muội và bà chủ Tô đã tiếp đãi nồng hậu, tại hạ còn có việc không thể ở đây lâu, xin tạm biệt trước.”
“Thiệu ca ca đi thong thả.” Kỷ Vân Hành cũng đứng dậy theo.
Tô Y cười tiễn khách ra cửa, bước nhanh về sảnh chính, vừa vào cửa đã kéo tay Kỷ Vân Hành, ngạc nhiên nói: “Hữu Hữu, sao hai người lại xưng hô huynh muội với nhau?!”
Kỷ Vân Hành nhấm nháp hoa quả khô, thuận tiện nói: “Huynh ấy nói thấy con thì nhớ đến muội muội mình.”
Tô Y vừa nghe, lập tức hiểu rằng tính toán của mình đã không còn tác dụng.
Ở Linh Châu không có tập tục kết hôn với họ hàng, cho nên bất cứ ai có quan hệ họ hàng đều phải cắt đứt ý nghĩ kết hôn trong dầu. Thiệu Sinh nhận Kỷ Vân Hành làm muội muội, e rằng đã phát hiện ý đồ muốn tác hợp cho hai người của bà ấy, nên tỏ rõ trước là mình không có ý nghĩ khác.
Tô Y đau đớn vô cùng, thầm nghĩ mình chỉ vừa đến viện của Vương Huệ mắng một trận, vậy mà khi trở về muốn tác hợp hai người nữa đã là điều khó khăn.
“Thôi được thôi được.” Bà ấy thở dài một hơi, lẩm bẩm nói: “Vẫn còn người khác, không thiếu một người này.”
Kỷ Vân Hành không để ý đến lời lẩm bẩm của Tô Y, sau khi uống cạn chén trà thì lập tức nhảy xuống khỏi ghế, nói với Tô Y: “Dì, con muốn đi câu cá.”
“Đi đi.” Tô Y dặn dò: “Bên ngoài lạnh, mặc nhiều một chút.”
Trông thấy trăm hoa đã úa tàn, cành cây cũng bắt đầu trở nên trơ trụi, khí lạnh tháng mười một bất ngờ ập đến.
Sau khi tiểu viện của Kỷ Vân Hành được xây mới, nàng luôn thích mát mẻ, bảo Lục Cúc mang thêm băng vào phòng, còn vì vậy mà bệnh hai lần, sau khi bị Tô Y phát hiện thì không cho nàng thêm băng vào phòng nữa.
Trời vừa trở lạnh, lúc tuyết còn chưa rơi, nhưng than củi đã được cung cấp sẵn cho phòng ngủ của Kỷ Vân Hành, nàng vừa bước vào phòng đã cảm thấy ấm áp dễ chịu, ngay cả áo dày cũng không cần mặc.
Những ngày mùa đông chịu đói chịu lạnh cuối cùng cũng đã qua.
Hôm đó, Kỷ Vân Hành giúp Tiết Cửu ghi sổ sách như thường lệ, nghe những người xếp hàng mua thịt trò chuyện, nói gần đây ở Linh Châu có hai chuyện lớn náo nhiệt.
Trước đó Linh Châu xảy ra một vụ án tham ô lớn, khiến chuyến vi hành tránh nóng của Hoàng Đế phải kết thúc sớm để trở về Kinh thành, sau hai ba tháng điều tra, vụ án này mới có kết quả.
Chu gia bị tru di cửu tộc, nhà cửa bị tịch biên sạch sẽ.
Những quan viên khác có liên quan hay thân thiết với Chu gia một chút đều khó thoát cái chết, tịch biên lưu đày, có kẻ thì bị cách chức giáng xuống làm dân thường, sau này ba đời không được tham gia khoa cử, không được làm quan.
Cuộc xử tội rầm rộ này đã chết rất nhiều người, quan trường Linh Châu được thay mới hoàn toàn, những quan viên mới lần lượt đến Linh Châu nhậm chức.
Đó là chuyện thứ nhất.
Chuyện thứ hai là phú hào Đỗ viên ngoại ở Linh Châu sắp tổ chức thọ yến cho cha mình, mời người toàn thành đến chúc thọ và cầu phúc cho cha ông ta, chỉ cần là người đến dự thọ yến và viết lời chúc đều được nhận một lượng bạc.
Đây cũng coi như là làm việc thiện tích đức, tặng những thư sinh nghèo trong thành một lò than trong mùa đông.
Yến tiệc sẽ được tổ chức tại núi Thọ Phong, nơi đó trồng đầy hoa mai, đúng vào mùa hoa nở rộ, phong cảnh đẹp như tranh, gặp đúng dịp một bữa tiệc lớn như vậy, chắc chắn mọi người sẽ đổ xô tham gia, náo nhiệt vô cùng.
Tô Y đã sớm nhận được thiệp mời của Đỗ gia.
Kỷ gia vốn có giao tình với Đỗ gia, trước đây trong lễ cập kê của Kỷ Doanh Doanh, Đỗ viên ngoại còn tự mình đến tặng quà, tuy rằng Kỷ Dục có liên quan đến vụ án tham ô, đang bị giam trong ngục, nhưng bên trên vẫn chưa giáng tội lên Kỷ gia. Đợi đến khi mọi việc lắng xuống, quay lại ban cho Kỷ Dục công danh vì đã tố giác chuyện tham ô của quan viên cấp trên, cũng không phải là không thể.
Tuy Đỗ viên ngoại đã quyên tiền để giữ lấy chức quan nhàn tản, nhưng bản chất vẫn là thương nhân, hiểu rõ lợi và hại trong đó, mới mặc kệ tình hình hiện giờ của Kỷ gia ra sao, cũng gửi thiệp mời đến Kỷ gia.
Sáng sớm hôm đó, Kỷ Vân Hành đã bị Lục Cúc gọi dậy, thay vào chiếc áo ngắn màu thu hương dệt kim và chiếc váy dài màu đỏ sẫm có hoa văn mây cuộn.
Nàng buồn ngủ đến ngáp không ngừng, ngồi trước gương dụi mắt, mặc cho Lục Cúc vấn tóc cho mình, giày vò qua lại cả canh giờ mới sửa soạn xong xuôi.
Gấm Nguyệt Hoa nàng mặc trên người là thứ không thể mua được ở Linh Châu, đó là Tô Y nhờ người mua về từ Kinh thành.
Hoa văn thêu chìm trên lớp dệt kim được giấu ở phần cổ áo, tay áo và vạt váy, từng đám mây cát tường hợp thành họa tiết tinh xảo, màu sắc cũng không quá rực rỡ, nhưng khi đứng dưới ánh mặt trời thì lấp lánh như có từng điểm sáng nhỏ hiện lên.
Lục Cúc búi nửa tóc cho nàng, chỉ cài một chiếc trâm vàng ngọc trắng, mái tóc đen bóng mượt buông xuống, kẻ mày đen, điểm tô môi đỏ, tinh tế và xinh đẹp.
Nàng đẩy cửa bước ra, đứng trong sân, dù là mùa đông trăm hoa tàn úa, lá vàng khô rơi đầy đất, nàng vẫn giống như chồi non mới nảy ngày xuân, tràn đầy sức sống.
Từ lúc Tô Y nhìn thấy nàng đã bắt đầu mỉm cười, cười không ngớt miệng dẫn nàng lên xe ngựa, thấy trên khuỷu tay nàng còn đeo một giỏ hoa thì hỏi: “Đây là cái gì?”
Kỷ Vân Hành vỗ vỗ nắp giỏ: “Là quà gặp mặt mang cho đích tử của Đỗ viên ngoại.”
Tô Y tràn đầy kinh ngạc, thầm nghĩ Hữu Hữu lại để tâm như vậy, còn chủ động mang theo quà gặp mặt, có tâm ý như vậy, còn sợ hai người không thành sao?
“Tặng thứ gì vậy?”
“Trái cây.” Kỷ Vân Hành đáp.
Bà ấy vô cùng hài lòng gật đầu, miệng khen không ngớt: “Hữu Hữu thật là đứa trẻ thông minh, sinh ra đã xinh đẹp còn hiểu lễ nghĩa như vậy, ai mà không thích chứ?”
Kỷ Vân Hành cười hì hì, giống như rất đồng tình với câu này.
Núi Thọ Phong nằm ở rìa địa phận Linh Châu, sau khi ra khỏi thành phải đi nửa canh giờ mới đến nơi.
Kỷ Vân Hành nằm trong lòng Tô Y ngủ một giấc, nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài mới từ từ tỉnh lại. Nàng vén rèm nhìn ra bên ngoài, chỉ thấy dưới chân núi đầy người đứng, đang xếp hàng, từ xa nhìn lại như một con rồng dài uốn lượn.
“Nhiều người quá.” Nàng cảm thán một tiếng.
“Đó đều là người đến chúc thọ.” Tô Y cũng nhìn ra ngoài, nói: “Đỗ viên ngoại đúng là hào phóng, để mừng thọ cho cha, e là phải tốn đến cả ngàn tám trăm lượng bạc, nhưng việc này cũng coi như làm việc thiện tích đức.”
“Đỗ viên ngoại là người tốt sao?” Kỷ Vân Hành hỏi.
“Có một số người, không thể chỉ dùng tốt hay xấu để đánh giá.” Tô Y nói: “Bây giờ Hữu Hữu không hiểu, sau này sẽ hiểu thôi.”
Xe ngựa chạy lên núi, đến đỉnh núi tự có người tiếp đón, hai người xuống xe ngựa.
Gia đinh xách theo lễ vật theo sau, Kỷ Vân Hành thì đeo cái giỏ nhỏ, sóng vai đi cùng Tô Y, trên đường Tô Y gặp không ít người quen, không ngừng dừng lại chào hỏi, mỗi lần đều giới thiệu thân phận của Kỷ Vân Hành với mọi người.
Mấy tháng trước, danh tiếng Kỷ gia ở Linh Châu quả thật không nhỏ, sau đó vụ án tham ô do Kỷ Dục phanh phui càng khiến danh tiếng Kỷ gia lan truyền rộng rãi, lúc này mọi người đến trước mặt Kỷ Vân Hành, cho dù không quen biết, cũng phải khách khí mà khen ngợi vài câu.
Đến lối vào sơn trang, Đỗ viên ngoại đang đứng ở cửa nói chuyện với người khác.
Đỗ viên ngoại tên đầy đủ là Đỗ Kỳ, đang tuổi tráng niên, để râu, lông mày rất rậm, khi không cười khiến người ta cảm thấy rất có uy nghiêm.
Dường như ông ta đặc biệt ra đón khách quý, Tô Y vừa thấy thì nói thật khéo, rồi dẫn Kỷ Vân Hành tiến lên, chắp tay hành lễ: “Viên ngoại lang, đã lâu không gặp, trông ngài lại trẻ ra mấy phần đó.”
Đỗ Kỳ quay qua nhìn, thấy là Tô Y, cũng tươi cười chào đón: “Bà chủ Tô quá khen rồi.”
“Hôm nay đến chúc mừng đại thọ của lệnh tôn, mang theo chút lễ mọn, mong Đỗ viên ngoại chớ ghét bỏ.” Tô Y phất tay áo, bảo gia đinh phía sau đưa quà mừng lên, để người hầu Đỗ gia ghi vào danh sách.
Đỗ Kỳ cười mời bà ấy vào trong: “Bà chủ Tô nói đùa, bà có thể đến là đã cho Đỗ mỗ mặt mũi rồi, còn mang quà gì nữa.”
Sau mấy câu khách sáo, Tô Y giả vờ nhìn quanh một chút, hỏi: “Sao không thấy lệnh lang đi cùng ngài ra đón khách? Đứa nhỏ nhà ta nghe nói hắn học thức uyên bác, tài hoa xuất chúng, đặc biệt mang theo chút quà đến kết giao đây.”
Đỗ Kỳ nhìn sang Kỷ Vân Hành, trước đó cũng nghe phu nhân nhà mình nhắc đến ý tứ của Tô Y, đương nhiên hiểu ý bà ấy, bèn nói: “Trước đó hắn có bạn đồng môn từ Kinh thành vừa lúc đến Linh Châu, đang chiêu đãi, ta sẽ cho người hầu dẫn tiểu cô nương đến tìm hắn.”
Tô Y vỗ vai Kỷ Vân Hành, cười nói: “Đi đi, ta đến sảnh trước chào hỏi người khác, nếu có chuyện gì cứ đến đó tìm ta.”
Kỷ Vân Hành gật đầu đáp lại, đeo giỏ nhỏ đi theo người hầu Đỗ gia rời đi.
Trong sơn trang khắp nơi đều là người, chiếm diện tích cực kỳ rộng lớn, bên trong do nhiều khu vườn nhỏ tạo thành.
Kỷ Vân Hành dưới sự dẫn dắt của người hầu, đi nửa khắc, đến một khu vườn tên là “Đông Phong”, vào trong nhìn quanh, quả nhiên cả nam lẫn nữ có không ít.
Trong vườn này trồng rất nhiều hoa mai, đang nở rộ xinh đẹp, dưới cây hoa có không ít người trẻ tuổi tụm ba tụm bảy trò chuyện.
Giữa vườn có một cái đình bát giác, trong đình rất nhiều người ngồi, dường như đang ngâm thơ đối câu, náo nhiệt vô cùng.
Dung mạo Kỷ Vân Hành hơn người, từ lúc bước vào khu vườn đã có không ít ánh mắt rơi trên người nàng, nhưng vì nàng chưa từng xuất hiện trong tầm mắt mọi người, không ai rõ lai lịch của nàng nên đều âm thầm quan sát.
Người hầu bảo nàng chờ bên cạnh đình, nói sẽ đi mời thiếu gia.
Kỷ Vân Hành chăm chú nhìn ngôi đình, thấy người hầu bước vào, dừng lại bên cạnh một người rồi cúi người nói gì đó, sau đó người nọ quay đầu lại, nhìn thoáng qua Kỷ Vân Hành.
Quả thật rất gầy.
Đó là suy nghĩ đầu tiên trong đầu Kỷ Vân Hành.
Khi hắn ta đứng dậy, dáng người cũng có vẻ cao, như vậy càng làm nổi bật thêm sự gầy gò của hắn ta, không biết đã mặc bao nhiêu lớp áo, đầu to thân nhỏ.
Gò má hắn ta cao nhô lên, hai má gần như không có thịt, bởi vậy cằm trông có vẻ rất dài.
Kỷ Vân Hành nghĩ, quả thật rất giống con khỉ, Lương Học nói không sai.
Trước đây Đỗ Nham chưa từng nghe qua, cũng chưa từng gặp Kỷ Vân Hành. Hắn ta ở Kinh thành học tập nhiều năm, tuy con đường làm quan không thuận lợi, nhưng với xuất thân và học vấn như vậy, dù ở Kinh thành cũng có không ít cô nương ngưỡng mộ.
Chỉ là trước kia Đỗ Nham một lòng với khoa cử, không nghĩ đến việc lập gia đình, những nữ tử bên gối đều là nhân duyên ngắn ngủi, ở bên người một thời gian lại đưa đi, vì thế khi trở lại Linh Châu thì bên cạnh cũng sạch sẽ, là một nam nhân tốt không thiếp thất hay thông phòng gì.
Từ khi hắn ta trở về, bà mối tới cửa làm mai hai bàn tay cũng không đếm hết, Đỗ Nham đã quen từ lâu.
Hôm nay hắn ta đang ôn chuyện với bạn đồng môn, nếu là người khác đến tìm thì hắn ta đã từ chối rồi, chỉ là vừa quay đầu một cái đã thấy Kỷ Vân Hành có dung mạo xinh đẹp, đứng dưới ánh nắng vô cùng nổi bật, lúc này mới đứng dậy rời khỏi đình.
Đi đến trước mặt Kỷ Vân Hành, hắn ta cúi người hành lễ, cười nói: “Kỷ cô nương, sớm đã nghe danh cô nương thanh tú thông tuệ, chỉ là vẫn chưa có dịp đến nhà thăm hỏi, không ngờ hôm nay Kỷ cô nương lại cho ta cơ hội này, không lẽ nào là chúng ta tâm linh tương thông?”
Dù cho ai nghe cũng biết đó là lời khách sáo, Kỷ Vân Hành lại hỏi: “Ngươi nghe ở đâu vậy?”
Đỗ Nham sửng sốt một chút, đầu óc xoay chuyển, rất nhanh đáp: “Lúc trước trong lễ cập kê của cô, gia phụ đã đến tặng quà, sau khi trở về đã nói với ta.”
“Đó không phải ta.” Kỷ Vân Hành nói: “Người ngươi nói là con gái của vợ kế cha ta.”
Đỗ Nham nhất thời có chút xấu hổ, cười gượng hai tiếng, lại nói: “Thì ra là vậy, nhưng nếu đều xuất thân từ Kỷ gia, có lẽ tỷ muội cũng không kém nhau là mấy.”
Kỷ Vân Hành chớp đôi mắt mê mang, tò mò hỏi: “Nói như vậy, những đệ đệ muội muội của ngươi, cũng gầy giống ngươi sao?”
“Chuyện này…” Đỗ Nham nhất thời cũng không biết trả lời thế nào.
Bộ dạng gầy gò của hắn ta vẫn luôn bị chê bai, lúc đi học ở Kinh thành, khó tránh khỏi xảy ra chút mâu thuẫn với con cháu quan lại địa phương, thường xuyên có người ở sau lưng cười nhạo bộ dạng hắn ta giống khỉ.
Bởi vậy hắn ta rất căm ghét người khác nói mình gầy, hoặc nhắc đến khỉ trước mặt hắn ta.
“Cô nương nói đùa.” Đỗ Nham cứng ngắc nói.
“Ta không nói đùa.” Kỷ Vân Hành lẩm bẩm một câu, sau đó đưa giỏ nhỏ trong tay ra: “Đây là tặng cho ngươi, bạn ta nói khi đến gặp ngươi hãy mang theo cái này, ngươi nhất định sẽ vui.”
Sắc mặt Đỗ Nham lúc này mới dịu lại, cười nhận lấy giỏ nhỏ, vừa mở ra xem thì thấy bên trong là những quả chuối tiêu vàng óng.
Hắn ta trừng mắt: “Cô…”
Kỷ Vân Hành nghiêm túc nhìn biểu cảm của hắn ta, cảm thấy đó không giống dáng vẻ vui mừng, bèn hỏi: “Ngươi không thích ăn chuối sao?”
Đỗ Nham hoàn toàn không còn vẻ mặt hòa nhã nữa, đưa giỏ lại cho nàng, chỉ nói: “Ta còn có khách cần chiêu đãi, cô nương cứ tự nhiên đi.”
Kỷ Vân Hành thấy hắn ta vung tay áo rời đi, đôi chân như thân trúc bước đi rất nhanh, chẳng mấy chốc đã quay về đình, không biết hắn ta nói gì mà trong đình có vài người quay đầu nhìn Kỷ Vân Hành, sau đó cười phá lên, mang theo ý cười chế nhạo rõ ràng.
Kỷ Vân Hành không nghe rõ mấy người kia nói gì, nhưng cũng dần nhận ra trưởng tử Đỗ gia không thích ăn chuối.
“Lương Học gạt ta.” Kỷ Vân Hành ôm giỏ nhỏ, quay người rời đi, lẩm bẩm nói: “Đáng ghét.”
“Hắt xì —!”
Hứa Quân Hách hắt hơi một cái thật to, đôi mắt nổi lên một lớp nước.
“Thiếu gia.” Ân Lang ôm một chiếc áo choàng lông chồn trong tay: “Khoác vào đi, mùa đông ở Linh Châu lạnh lẽo, cẩn thận kẻo bị lạnh cóng.”
Hứa Quân Hách không kiên nhẫn lắc đầu từ chối, giọng điệu lúc mở miệng tràn đầy bực bội: “Vẫn chưa hỏi rõ ràng sao? Tại sao phía trước lại tắc đường?”
Hắn đang ngồi trong một quán trọ thôn quê, sảnh lớn đầy người, đều là âm thanh ồn ào ầm ĩ.
Về Kinh ba tháng, sau khi xử lý sạch sẽ vụ án tham ô ở Linh Châu, hắn mới đến Linh Châu lần nữa, đi đường quan thì thông suốt nhưng vẫn phải đi đường vòng, thêm vài ngày đường, thế nên Hứa Quân Hách mới chọn đi đường nhỏ.
Nhưng không ngờ đi đường núi đến đây lại bị chặn, trên đường toàn là người, cứng ngắc không thể tiến thêm bước nào, đều đang đứng đợi trong gió lạnh.
Gần đến những ngày cuối tháng Chạp, số người về quê ăn Tết nhiều vô kể, nên dòng người cứ như vậy càng ngày càng dài, ngay cả Hứa Quân Hách cũng không qua được, lúc này mới dừng lại phái người đến phía trước xem tình hình.
Đang lúc Hứa Quân Hách bực bội đến muốn lật bàn, Hạ Nghiêu mới bước vào quán trọ, đến trước mặt Hứa Quân Hách cúi đầu nói: “Hồi bẩm thiếu gia, thuộc hạ vừa đi hỏi thăm rõ ràng, nghe nói là Đỗ viên ngoại tổ chức đại thọ cho phụ thân ở trên núi, mời không ít người đến chúc thọ, Đỗ gia đã cho người chặn đường núi phía trước lại.
Hứa Quân Hách tức giận đến đập mạnh xuống bàn, phát ra một tiếng “ầm” lớn, bên trong sảnh lớn yên tĩnh không ít, mọi người đều quay đầu nhìn.
“Đỗ viên ngoại thật có quan uy lớn, mừng thọ cho cha mà ngay cả đường cũng dám phong tỏa? Chẳng lẽ con đường này chính là của họ Đỗ sao?” Hắn giận dữ nói.
“Vị công tử này chắc không phải người Linh Châu.” Có người đang uống rượu nóng, cười cười bắt chuyện.
Hứa Quân Hách nghiêng đầu liếc mắt một cái, đáp: “Đúng vậy, ta hôm nay mới đến đây, chuẩn bị về Linh Châu ăn Tết.”
“Vậy là công tử có điều không biết.” Người kia nói: “Những phú hào ở Linh Châu này, phần lớn đều giương cao ngọn cờ làm việc thiện tích đức, nhưng lại âm thầm làm những việc ức h**p bá tánh, việc chiếm đường núi thế này chẳng qua là chuyện bình thường thôi, thời trẻ Đỗ viên ngoại từng chiếm đoạt dân nữ, ép chết một nhà bảy mạng người, sau đó lại bỏ tiền tổ chức vài buổi tiệc rượu, phát lương phát cháo, thì lập tức lại trở thành đại thiện nhân trong miệng mọi người.”
Hứa Quân Hách nói: “Nếu ông ta tổ chức yến tiệc vài ngày, chẳng lẽ mọi người đều phải đứng trong gió lạnh đợi vài ngày sao? Nếu nhà ai có gặp bệnh cấp tính cần tìm đại phu, hoặc không mang đủ lương khô, chết trên đường thì sao?”
“Không có chỗ nào để cáo trạng đâu.” Người kia thở dài: “Gặp phải thời điểm này mà vào Linh Châu, coi như chúng ta xui xẻo.”
Hứa Quân Hách cười lạnh: “Ta thì cho rằng mình gặp may mới đúng.”
“Sao công tử lại nói vậy?”
“Gặp phải Đỗ viên ngoại bỏ tiền mừng thọ cho cha, ta cũng nên lên núi chúc mừng vài câu mới phải, biết đâu lại được biếu chút bạc.”
Hứa Quân Hách đứng dậy, mở hai cánh tay, Ân Lang lập tức tiến đến khoác áo choàng lên người hắn, chợt nghe hắn nói: “Đi thôi, lên núi xem một chút.”
Chỉ Xuân Mới Biết Chốn Này
