Bước Qua Băng Xuân - Bán Duyên Tu Đạo
Chương 47
Chớp mắt đã bốn năm trôi qua, Tống Đàn vẫn đợi ở Kim Lăng.
Đối với một người tuổi đã cao như Hạ Minh Nghĩa, từng ngày đều quý như vàng; nhưng với Tuyên Tuy và Tống Đàn, bốn năm chẳng tính là bao.
Thân thể Hạ Minh Nghĩa nay rất kém, chẳng còn sức làm việc nặng. Những việc như gánh nước, xới đất đều đổ cả lên vai Tống Đàn. Ông vốn không muốn để hắn làm, cũng không muốn đôi tay trắng trẻo mềm mại được nuôi dưỡng nơi kinh thành của hắn trở nên thô ráp, trong lòng ông vẫn mong Tống Đàn có thể quay về kinh.
Khi ấy đang giữa xuân, tiết trời phương Nam lúc nắng ấm rực rỡ, lúc lại đột ngột trở lạnh, chẳng chừng được.
Hạ Minh Nghĩa thường thức dậy sớm, xách thùng nước tưới cho mấy khóm hoa ven vườn rau. Những khóm hoa ấy đều do Tống Đàn trồng, lúc này hoa nghênh xuân nở rộ rất đẹp, cành vàng rực rỡ tùy ý vươn dài.
Tống Đàn từ trong phòng bước ra, tóc được buộc hết bằng dải vải, trên người mặc áo bông xanh thẫm, tay cầm túi tiền, đi ra ngoài.
Những năm qua, nhờ có lệnh bài Cẩm y vệ của Hạ Lan Tín, Hoàng Thừa Phúc không dám quá mức gây khó dễ. Nhưng Tống Đàn cứ ở mãi nơi đây, sức uy h**p đối với Hoàng Thừa Phúc ngày càng giảm. Một hôm, gã rốt cuộc không nhịn nổi, bẩm báo sự hiện diện của Tống Đàn với Thái giám trông coi Kim Lăng. Thái giám liền phái người về kinh dò hỏi. Không rõ Hạ Lan Tín đã trả lời thế nào, chỉ biết kết quả là hắn trách phạt Hoàng Thừa Phúc, lệnh không được phép làm khó Tống Đàn.
Không được phép làm khó, nhưng cũng chẳng cho hắn quyền lực gì. Sau này lại có kẻ dòm ngó dáng dấp hắn tuấn nhã, liền đoán già đoán non rằng hắn là sủng vật của một vị đại thần kinh thành, nên mới tạm lánh phong ba ở nơi này.
Lời đồn thế là ngày càng lan rộng, ai nấy đều bàn ra tán vào, cho rằng Tống Đàn cùng một vị quyền quý ở kinh có mối liên hệ chẳng đơn giản. Vị quyền quý đó hẳn cũng giao tình với Hạ Lan Tín, bằng không sao có thể được hắn che chở.
Về thân phận Tống Đàn, người ta phỏng đoán không ngừng, bàn tán mãi chẳng dứt.
Hôm ấy hắn đi đến dịch trạm. Lính dịch trạm vốn quen thân với hắn, đã tách riêng đồ của hắn để qua một bên.
Hai bọc đồ và một chiếc hòm, đều là do Vĩnh Gia và Lục Y gửi tới.
Từ khi Tống Đàn an cư, hắn bắt đầu gửi thư cho bạn bè ở xa. Lục Y hồi đáp rất nhanh, hỏi kỹ hắn ăn ở thế nào, sức khỏe ra sao, còn gửi theo một cuốn ngân phiếu. Cô cũng kín đáo dò hỏi vì sao hắn rời cung, và sau này định liệu thế nào.
Tống Đàn chỉ hời hợt đáp lại, nói “Bệ hạ cũng không làm khó.” Lục Y nghe vậy rất vui, cực lực mời hắn tới tìm cô.
Trong thư, Lục Y kể chuyện cô cùng Ngụy Kiều bị biếm đến Thanh Châu. Cô vốn đã chuẩn bị sẵn tâm thế thoái lui, nào ngờ động tác của bệ hạ quá nhanh, chẳng kịp trở tay, khiến hai người phải rời kinh trong cảnh chật vật. Về phần Ngụy Kiều, lúc đầu lòng có uất kết, sau khi thấy cả Thẩm Tịch cũng rời kinh, trong lòng hắn chỉ còn hổ thẹn nhiều hơn.
“Có lẽ ai cũng có chấp niệm riêng. Ta chỉ biết Ngụy Kiều và Thẩm Tịch vốn là bằng hữu, nào ngờ Ngụy Kiều cũng biết ghen tị với Thẩm Tịch, cũng vì Thẩm Tịch mà thấy mình chẳng sánh bằng.”
Đọc xong thư, so với Ngụy Kiều, Tống Đàn lại quan tâm đến Lục Y hơn. Lục Y nay trông có vẻ thoáng đạt, lời lẽ sáng sủa khoáng khoát. Không biết là vì lời Tống Đàn từng nói thật sự đã có tác dụng, hay cô đã tự mình bước ra khỏi khổ ải.
Tống Đàn cũng gửi thư cho Vĩnh Gia, nhưng Vĩnh Gia ít khi hồi đáp. Chỉ thỉnh thoảng sai người gửi đồ: ngân phiếu, da thú, dược liệu… cứ nhớ tới là gửi, hào phóng đến cực điểm.
Trong vài lá thư hồi âm hiếm hoi, Tống Đàn thấy rõ nét u sầu trong đó.
Hôn nhân đối với công chúa chính là xiềng xích, còn phò mã chỉ là kẻ canh giữ.
Về phần Thẩm Tịch, Tống Đàn cũng gửi vài bức thư, báo cho y biết tình hình gần đây. Thẩm Tịch khuyên Tống Đàn tiếp tục đọc sách, đừng bỏ qua những sở thích khác của bản thân. Y lại trở thành phu tử của Tống Đàn, dạy dỗ hắn thi thư và cờ vây.
Suốt bốn năm, bọn họ vẫn liên lạc rời rạc mà không dứt.
Tống Đàn đứng dưới mái hiên, trước hết mở thư ra xem. Có hai bức hồi âm, một của Lục Y, một của Thẩm Tịch. Vĩnh Gia không gửi thư, nhưng lại gửi đến một bọc đồ. Mở ra xem, có hai hộp nhân sâm sáu nhánh và hai hộp yến sào.
Ngoài ra, chẳng có hồi âm nào từ kinh thành.
Tống Đàn cũng không lấy làm thất vọng. Hắn mượn chỗ ở dịch trạm ngồi đọc thư. Lính dịch trạm rất nhiệt tình, mời hắn ngồi xuống, dọn ra một đĩa bánh vân phiến và chén trà nóng rưới mật hoa quế.
Trong thư Thẩm Tịch hồi đáp một số thắc mắc của hắn về việc đọc sách, còn gửi kèm một quyển Thiên công khai vật, khuyến khích hắn tự tay làm vài món đồ nhỏ, cũng bày tỏ rất tán đồng thú vui mới mẻ này.
Thư hồi đáp rất ngắn, chữ nghĩa chẳng bao nhiêu, hẳn là do công vụ bận rộn.
Trong thư hồi âm của Lục Y, cô chỉ kể sơ qua tình hình gần đây.
Kinh thành phái một vị Tuần án ngự sử xuống Thanh Châu, vừa đến liền mạnh tay chỉnh đốn bọn tham quan ô lại, trừng trị hào thương, chấn chỉnh thuế vụ. Vì thế cô và Ngụy Kiều bận tối tăm mặt mũi, chẳng có cả thời gian viết cho Tống Đàn một bức thư tử tế.
Cuối thư, cô nói đã gửi cho Tống Đàn ít hoàn dược: trị ngoại thương, trị sốt cao, trị tiêu chảy đều có, lại không quên bỏ thêm cho hắn một hộp an thân hương.
Chỉ là an thần hương thì hiếm khi cần dùng, Tống Đàn bây giờ vừa đặt lưng xuống đã ngủ, ngày nào cũng cảm thấy chẳng đủ giấc, rất ít khi bị mất ngủ.
Lúc hắn đang đọc thư, tên dịch tốt ngoài sân đứng canh cùng đồ đệ. Đứa nhỏ tò mò hỏi: “Sư phụ, bên trong là ai vậy, sao lúc nào cũng có người gửi đồ cho hắn?”
Dịch tốt không biết, nhưng một mực cho rằng Tống Đàn là bậc quý nhân. Chỉ cần nhìn đống bưu kiện thường xuyên được gửi đến là đủ rõ.
Chẳng bao lâu, Tống Đàn đọc xong thư, từ trong bước ra, hướng về phía dịch tốt chắp tay cảm tạ.
Dịch tốt khoát tay: “Ngài đừng nói những lời khách khí ấy. Năm ngoái vợ ta khó sinh, may có hoàn dược ngài cho mới giữ được mạng.”
“Chỉ là tiện tay mà thôi, ai gặp cũng sẽ cứu cả.” Tống Đàn mỉm cười hỏi: “Phu nhân dạo này sức khỏe ra sao rồi?”
Dịch tốt đáp: “May mắn giữ được tính mạng, giờ chỉ nằm trên giường tĩnh dưỡng.”
Tống Đàn nghĩ một lúc, rồi từ hòm lấy ra một củ nhân sâm cùng hai chén yến sào, đưa cho người này: “Cầm về bồi bổ cho phu nhân đi. Những năm qua nhờ ngươi để tâm, chưa từng làm thất lạc đồ của ta.”
“Không dám, không dám!” Dịch tốt vội vàng từ chối, nhưng Tống Đàn kiên quyết, đành tự mình lấy tờ giấy da bò gói nhân sâm và yến sào lại, nhét vào tay.
Dịch tốt lau tay lên áo mình, nhận lấy, ngập ngừng nói: “Ngài thật là… ta cũng không biết lấy gì báo đáp.”
Mặt gã đỏ bừng, liền vội vã đánh khẽ vào vai đồ đệ, bảo theo Tống Đàn về nhà, giúp hắn mang đồ.
Tống Đàn không về ngay, mà đi đến một tửu quán nơi đầu phố.
Con người ta nhất định phải có một bằng hữu làm đầu bếp. Chưởng quầy của một tửu quán, A Cảnh, chính là bằng hữu tốt của Tống Đàn.
Hắn tìm một bàn ngồi xuống. A Cảnh mang lên hai đĩa tàu hũ ky và đậu phụ khô. Món sở trường nhất nơi đây là vịt: con nào con nấy béo mướt, da giòn thịt mềm, chan một muôi nước sốt đỏ sánh, ăn với cơm hay mì đều tuyệt.
Tống Đàn gọi cả tiểu đồ đệ ngồi xuống ăn. Thằng bé còn ngượng nghịu, mãi mới chịu ngồi.
Chẳng bao lâu, A Cảnh lại bưng ra một bát giá xào, một bát canh giò hun khói, rồi ngồi xuống cùng ăn.
“Ngươi cũng chưa ăn sao?” Tống Đàn hỏi.
“Bận rộn tới giờ, nào có thời gian ăn cơm?” A Cảnh đáp. Hắn nhìn mấy gói đồ tiểu đồ đệ mang theo, nói: “Ngươi lại ra dịch trạm rồi? Lại có người gửi đồ đến cho ngươi à?”
Tống Đàn gật đầu. A Cảnh “chậc” một tiếng: “Sao ta chẳng có bằng hữu nào ngày ngày gửi bạc tới thế.”
Tống Đàn cười: “Ta không làm ra của cải, chẳng có ai chu cấp thì sớm đói chết rồi. Ngươi đây quán xá đông khách, mấy chục năm gây dựng, chẳng hơn ta nhiều sao?”
“Hừ.” A Cảnh lắc đầu: “Buôn bán tuy tốt, nhưng quan phủ ngày ba bữa đều tới vòi tiền.”
Tống Đàn ngạc nhiên: “Lại tăng thuế nữa à?”
A Cảnh nói: “Họ bày ra cái danh mục mới, bảo rằng tất cả tửu quán đều phải có giấy chứng an toàn do quan phủ cấp. Cái đó không mất tiền, nhưng phải kiểm tra tới lui, vài tháng mới phát được. Nếu gấp thì đưa hai lạng bạc, miễn cho chờ đợi.”
“Đổi cách vơ vét à?”
“Chẳng phải sao.” A Cảnh than: “Tửu quán mà phải chứng nhận ăn uống, cửa hàng phải chứng nhận buôn bán. Mấy hàng rong ngoài cổng thì không cho bán ở đó nữa, bắt dời sang Đông Thị, nói là tiện quản lý. Nhưng thuê một chỗ ngồi ở đó mất năm lạng bạc.”
“Đắt vậy ư?” Tống Đàn bĩu môi.
Hai người đang nói, một chàng trai bàn bên ăn xong đứng dậy, đi lại hỏi: “Chưởng quầy, lời ngài vừa nói đều là thật sao?”
A Cảnh ngẩng lên, thấy là một thư sinh trẻ, mình mặc áo trực tụ, đầu đội mũ vải, chỉ có thần sắc hơi lạnh lùng.
Áo trực tụ:

“Ta nhàn rỗi đâu mà bịa đặt? Ngài là…”
“Tại hạ Khúc Dịch Xuân. Vịt của chưởng quầy quả nhiên danh bất hư truyền.”
Tống Đàn ngắm y vài lượt: “Người kinh thành?”
Khúc Dịch Xuân nhìn Tống Đàn: “Nghe khẩu âm, các hạ cũng là người kinh thành?”
“Coi như vậy.” Tống Đàn đáp: “Ta từng ở đó nhiều năm.”
A Cảnh đảo mắt nhìn hai người: “Thế thì các ngươi cũng xem như gặp cố tri nơi đất khách. Khúc công tử, bữa nay ta mời, mong ngươi thường ghé đến.”
Khúc Dịch Xuân lại cố nài trả tiền: “Đâu có đạo lý ăn cơm mà không trả bạc.”
A Cảnh từ chối không được, chỉ đành nhìn theo bóng dáng y rời đi, lắc đầu: “Quả là người kỳ lạ.”
“Y chắc là quan lại.” Tống Đàn múc một bát canh giò: “Từ kinh thành tới, chẳng biết là bị giáng chức hay điều phái.”
A Cảnh ngạc nhiên: “Vậy thì y hỏi chuyện ta là ý gì? Chẳng lẽ ta nói sai, y muốn trị ta?”
“Chắc không đến mức ấy.” Tống Đàn nói: “Có lẽ chỉ thuận miệng hỏi thôi. Người mới tới nhậm chức, cũng phải tìm hiểu phong tục dân tình ở Kim Lăng chứ.”
Ăn xong, Tống Đàn trả tiền, lại gói thêm một phần canh gà hầm giò hun khói thật nhừ, mang về cho Hạ Minh Nghĩa.
Tống Đàn vừa đi dạo vừa thong thả về nhà, đến gần giờ ngọ mới quay lại. Đến gần Hiếu Lăng, hắn nhận đồ từ tay tiểu đồ đệ, rồi tự mình mang về vườn rau.
Hạ Minh Nghĩa đang phơi nắng ngoài sân. Tống Đàn để cơm xuống bên cạnh ông, còn bản thân thì vào phòng sắp xếp đồ Vĩnh Gia và Lục Y gửi tới.
Nắng rực rỡ vô cùng, giữa trưa ấm áp. Tống Đàn duỗi lưng, ra vườn ngồi xổm bên mấy khóm nghênh xuân, cắt tỉa cành. Cành hoa cắt xuống thì c*m v** bình hoặc đem ủ rượu hoa, dạo này hắn đang thử làm, lãng phí không ít cánh hoa.
“ Tống Đàn, Tống Đàn ——”
Ngoài cổng có người gọi. Tống Đàn ngẩng đầu nhìn, thấy Kim Tiểu Kim một tay giữ chặt mũ ô sa, hấp tấp chạy tới.
Kim Tiểu Kim vốn là một tiểu quan, nghèo đến mức túi rỗng trơn như mặt. Bình thường sợ rách áo chẳng có tiền vá, nên chẳng bao giờ mặc quan phục. Lúc này lại khoác cả mũ, áo, giày quan lên, Tống Đàn thoạt nhìn còn không nhận ra.
“Có chuyện rồi, có chuyện rồi!” Kim Tiểu Kim chạy tới bên vườn rau, hổn hển nói: “Có người sắp tới tra xét ngươi đó!”
Bước Qua Băng Xuân - Bán Duyên Tu Đạo
