Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên

Chương 95: Chầu sớm


Sau khi Lệ Vương tiếm quyền sáu tháng, Minh Đế dẫn binh tiến vào Biện Đô, trảm Lệ Vương, phụng di chiếu đăng cơ, đổi niên hiệu thành Trọng Cảnh. Bách tính Biện Đô đổ ra đường đón rước, thiên hạ đại xá.


Sau khi Minh Đế đăng cơ, tuân theo di chiếu, cất nhắc Châu Đàn vào Chính Sự Đường, thăng thành Chấp Chính Tham Tri, phụ tá lãnh đạo quần thần. Tô Triều Từ, Thái Anh và Lạc Kinh Luân thuộc Công bộ cùng nhập Chính Sự Đường, nắm ấn tín Trung thư để phụ chính.*


*Phụ chính mang nghĩa thay mặt vua xử lý chính sự, có quyền thực tếThường gặp trong các trường hợp: hoàng đế còn nhỏhoàng đế mới đăng cơ, quyền lực chưa ổn định, hoàng đế ủy quyền đặc biệt cho trọng thần.


Đạo thượng thư đầu tiên sau khi Chính Sự Đường sơ lập đã phế bỏ Trâm Kim Quán do Đức Đế lập nên, đồng thời lấy cớ bắt được người Tây Thiều lẻn vào Biện Đô tại Đình Sơn để phát động binh đao.


Minh Đế sai Yên Phục chỉnh đốn quân mã xuất kích, đại phá Tây Thiều trong trận Định Tây. Đại quân Tây Thiều bị đánh cho không còn sức chống đỡ, phải cử con tin vào Biện Đô nghị hòa. Bốn mươi năm sau, họ lại phải tiếp tục nộp tuế cống cho Đại Dận.


Khi tin thắng trận truyền về cũng chỉ vừa cuối tiết Phương Xuân (tháng ba âm lịch) năm Trọng Cảnh thứ nhất. Minh Đế khao thưởng ba quân, nhanh chóng lập nên uy danh trong lòng bách tính bốn phương và quân binh.


Bách quan không thể không thu lại lòng khinh mạn mà phải thận trọng nhìn nhận lại vị tiểu hoàng đế mười tám tuổi đang ngự trên long ỷ này.


Tuy Tống Thế Huyên có ý lo toan chiến sự nơi biên cương, song hắn không phải là quân chủ tàn bạo. Gián Viện bị bỏ phế bao năm lại được thế tử khoa cử mới lấp đầy, Điển Hình Tự cũng được mở lại, làm sáng tỏ vài vụ oan án tích đọng nhiều năm.


Triều đình trên dưới, một cảnh chính trị thanh bạch, rõ ràng.


Duy có quần thần chưa trải qua cung biến ngày ấy là không phục vị Chấp chính trẻ tuổi đang đứng trên bách quan.


Tống Thế Huyên ngồi trên long ỷ, đang chăm chú lắng nghe Hộ bộ tấu báo.


“Hè này Giang Nam mưa nhiều, đê điều mục nát không chịu nổi, đã xảy ra lũ lụt nhỏ. Thần tấu xin bệ hạ lo liệu trước, phái người sửa chữa đê điều, tuần du phía nam…”


“Bệ hạ!”


Lời chưa dứt đã bị một người khác cao giọng ngắt lời.



Miện châu trước mắt Tống Thế Huyên khẽ lay động, hắn nghe lời bẩm rồi hỏi: “Người vừa tâu là ai?”


“Thần là Thẩm Lạc, thuộc Gián Viện.” Vị thần tử trẻ tuổi kia tay cầm hốt ngà voi, quỳ gối hành lễ, cung kính dập đầu tấu: “Thần xin hặc tội Chấp chính làm quan bất chính, làm rối loạn kỳ thi xuân, cất nhắc thân thích, đả áp sĩ tử, lại vì những án oan năm xưa mà thanh danh không tốt. Chấp chính sắp bái Tướng, thần khấu xin bệ hạ suy xét lại, suy xét lại!”


Châu Đàn đứng trước bách quan, lạnh nhạt quay đầu nhìn hắn một cái.


Ánh mắt Tống Thế Huyên lướt qua khuôn mặt không chút biểu cảm của chàng, rồi hắn đứng thẳng dậy, hơi nâng cao giọng: “Việc mưa lụt Giang Nam can hệ tới vạn dân thiên hạ. Đài Gián nhị viện các khanh không hề quan tâm đã đành, cớ sao vào lúc then chốt này lại cứ cố tránh né nói chuyện khác, rốt cuộc là có ý đồ gì?”


Thẩm Lạc không hề nhượng bộ: “Việc Giang Nam thần cũng có nghe, song chẳng qua chỉ là hiện tượng tự nhiên thông thường, không biết Hộ bộ có phải cố tình phóng đại để khiến thánh cung bất an hay không? Triều đình có gian nịnh đương quyền, như thế làm sao ban phúc cho vạn dân, chi bằng giải quyết ưu hoạn trước mắt thì hơn.”


Tống Thế Huyên không nói gì.


Việc Hộ bộ tấu trình về mưa lụt Giang Nam, kỳ thực cũng không hẳn là có nguy cơ lũ lụt lớn. Đê đập do Cố Chi Ngôn tu sửa khi trị thủy Giang Nam triều trước có thể bảo tồn trăm năm. Hộ bộ khơi chuyện này lên chẳng qua là để người có cớ chỉnh đốn lại quan trường Giang Nam mà thôi.


Ngày trước hắn du thuyết Công Hầu tại Lâm An, tận mắt thấy thế gia hào tộc lũng đoạn quan trường Giang Nam, chuyên chỉ dùng người thân thích, tuy chưa gây ra đại họa gì, nhưng lâu dài ắt khó duy trì. Bởi vậy, sau khi rảnh rỗi, hắn định phái người đi chỉnh đốn Giang Nam cho thỏa đáng, giết vài quan viên làm điều xằng bậy, cũng là để răn đe các vùng phía nam hơn.


Ý định này không thể nói thẳng trên triều, sợ rằng có kẻ trong Biện Đô ngầm thông đồng, báo tin trước cho phía Giang Nam.


Ngày xảy ra cung biến, Châu Đàn nắm giữ hai phong di chiếu. Một phong là của Tuyên Đế lưu lại cho Cố Chi Ngôn, phong còn lại là do Đức Đế viết. Di chiếu của Đức Đế viết quá vội vàng, không đóng quốc ấn, không đính kèm ấn của Tể phụ, ngoài Thái Anh cùng những người khác có thể chứng minh là do Đức Đế lưu lại, không còn bằng chứng nào khác.


Văn võ bá quan có thể công nhận di chiếu của Tuyên Đế, song về phong di chiếu của Đức Đế, mọi người đều ngậm miệng làm thinh, không dám nói nhiều.


Ngày ấy, khi Khúc Du thấy Thái Anh tay cầm di chiếu của Đức Đế cho mọi người xem tại điện Huyền Đức, hầu như ngay lập tức đã hiểu rõ ác danh của Châu Đàn từ đâu mà có.


Cụm từ “thật giả bất minh” mơ hồ trong sử sách hóa ra là ý này.


Vì Tống Thế Diễm nắm giữ nội cung khi Đức Đế lâm bệnh nguy kịch, nên khi Tống Sưởng lưu lại di chiếu đã không kịp lấy quốc ấn và ấn của Tể phụ. Theo lễ chế, việc này là cực kỳ không đúng quy cách. Nếu triều đình có ý, đồng lòng giữ im lặng, không công nhận phong di chiếu này mà lập Trữ quân khác, trong lịch sử cũng đã từng có tiền lệ.


Huống hồ, phong di chiếu của Đức Đế không hề đề cập đến việc cốt lõi nhất là lập quốc bản. (vị trí trữ quân kế vị)



Chắc hẳn lúc trước khi Đức Đế triệu kiến Châu Đàn mật nghị, hỏi về nhân tuyển Trữ quân ngoài Thái tử, Châu Đàn đã bẩm rằng di chiếu của Tuyên Đế đã có sự cân nhắc về Trữ quân, nên di chiếu của Đức Đế chỉ mơ hồ viết “tuân theo huấn thị của tiên đế”.


Chiếu thư thiếu lễ chế, không chọn lập quốc bản, quả thật quá dễ gây nghi ngờ. Vì vậy, các Sử quan đời sau cũng vô cùng rối rắm, khiến nội dung chiếu thư này cũng bị thất lạc trong quá trình truyền tụng của lịch sử.


Khúc Du đọc hết Dận Sử, từ đầu đến cuối cứ tưởng chỉ có Tuyên Đế để lại di chiếu.


Cũng như nàng, các triều thần công nhận di chiếu của Tuyên Đế, sau khi kiểm nghiệm thân phận thì cung nghênh Cảnh Vương Tôn lên ngôi, đó là lẽ đương nhiên. Nhưng quan chấp chỉ trong di chiếu của Tống Sưởng là ai, không ai có kết luận xác định.


Trong Chính Sự Đường, Thái Anh là trọng thần hai triều, Lạc Kinh Luân có uy vọng cực cao, Tô Triều Từ danh tiếng tốt đẹp, duy chỉ có Châu Đàn, dù đã qua ngày sinh thần cuối năm thì cũng chỉ mới tròn hai mươi lăm tuổi.


Hai mươi lăm tuổi đã giữ chức Chấp chính, lại không xuất thân từ thế gia, quả thực là hiếm thấy xưa nay. Từ khi Đại Dận khai quốc đến nay, chưa từng có thần tử nào trẻ như vậy mà cùng lúc giữ hai chức vị Tể – Chấp liên tiếp.


Huống hồ, trên người chàng còn mang theo án cũ tiền triều, mang theo mật tin của Hình bộ có liên quan mật thiết đến cái chết của lương tướng triều trước. Một khi di chiếu mơ hồ, cớ gì người vừa được điều từ Nhược Châu về Biện Đô lại có thể vào Chính Sự Đường đứng đầu quần thần?


Sau khi nắm rõ tính tình của hoàng đế, tấu đàn hặc tựa như tuyết hoa bay từ Ngự Sử Đài đến điện Huyền Đức.


Khi lo liệu tang nghi cho Đức Đế và chuẩn bị đại điển đăng cơ cho Minh Đế, Ngự Sử Đài thậm chí còn lấy cớ này dâng thượng biểu tấu xin Minh Đế bỏ đi danh xưng Đế sư của Châu Đàn. Tống Thế Huyên buộc phải thay đổi cách gọi từ “lão sư” đổi thành “tiên sinh”.


Hắn tuy có lòng che chở, nhưng Châu Đàn lại không cho phép hắn quá thiên vị.


Đạo làm vua mà Tống Thế Huyên học được từ hai người Châu, Tô là phải lắng nghe thiện ý những lời can gián và không được thiên vị. Lần đầu tiên có người hặc tội Châu Đàn trên triều, hắn không nhịn được đã lên tiếng phản bác. Sau khi bãi triều, Châu Đàn lại quỳ trong thư phòng của hắn suốt một canh giờ.


Chàng nói: “Bệ hạ không nên như thế.”


Bởi vậy, Tống Thế Huyên im lặng đứng trước long ỷ, nửa buổi vẫn chưa biết nên nói gì.


Vẫn là Châu Đàn khẽ ho một tiếng trước, rồi quay người lại thản nhiên nói: “Dám hỏi Gián Nghị đại phu, việc vạn dân và việc triều đình, cái nào quan trọng hơn?”


Thẩm Lạc cũng là sĩ tử qua khoa cử, đương nhiên không sợ đối đáp với chàng: “Triều đình bất an, làm sao chăm lo cho vạn dân?”



Thẩm Lạc chỉnh sắc nói: “Chúng thần ở vị trí của mình thì lo công việc của mình. Ngước lên vâng theo lời dạy của tổ tiên mà lập thân làm quan, cúi xuống xem xét hành động của thiên tử mà thẳng thắn khuyên can, đây là để không hổ thẹn với thiên thu cơ nghiệp của Đại Dận, không hổ thẹn với sự tin tưởng của bệ hạ và triều đình!”


“Ồ?” Châu Đàn không chút xao động tiếp tục hỏi: “Thẩm đại nhân, ngươi làm quan là có trách nhiệm với bề trên hay có trách nhiệm với bề dưới?”


Thẩm Lạc há miệng, nhưng ngây người.


Lời chàng hỏi thật xảo quyệt. Nếu hắn đáp có trách nhiệm với bề trên thì là trong lòng không có bách tính. Nếu đáp có trách nhiệm với bề dưới thì lại là lời nói và hành động không đồng nhất, ít nhất cũng phải nghe xong Hộ bộ tấu trình mới được xen lời.


Châu Đàn thấy Thẩm Lạc quỳ ở đó hồi lâu không nói, bèn mở lời trước gỡ rối cho hắn: “Bệ Hạ, việc Gián Nghị đại phu tấu trình về việc thần làm rối loạn kỳ thi xuân, đả áp sĩ tử, thần ngàn lần chết cũng không dám làm. Hai việc cất nhắc thân thích và thanh danh không tốt, quả thật là lỗi của thần. Sau khi bãi triều, thần xin chịu mười gậy đình trượng để chỉnh đốn bản thân và thể hiện lòng trung thành.”


Chàng quay người lại: “Gián Viện có còn muốn tham tấu nữa chăng?”


Tống Thế Huyên bước xuống một bậc thang, nhưng Châu Đàn lại ngước mắt nhìn hắn, lắc đầu.


Việc “cất nhắc thân thích” mà Gián Viện nói chẳng qua là không lâu sau khi đăng cơ, Tống Thế Huyên chưa thông qua lý do thỏa đáng đã cho Bạch Sa Đinh người trở về từ Lĩnh Nam sau đại xá, phục lại chức quan cũ.


Đây là ý chỉ của hắn, nhưng lại thông qua Chính Sự Đường và Trung Thư Tỉnh. Giờ đây Đài Gián muốn tìm người chịu trách nhiệm, tự nhiên thành lỗi của Châu Đàn.


Thẩm Lạc đứng dậy lùi mấy bước: “Chấp chính lý lẽ rõ ràng, thần không còn lời nào để nói.”


Thế là Hộ bộ tiếp tục tấu trình. Tống Thế Huyên trấn tĩnh lại, phái Tô Triều Từ xuống phía nam tuần thị các tỉnh, đám thần tử không ai có ý kiến gì thêm.


Buổi chầu kéo dài hơn mọi khi, nhưng cũng kết thúc trước khi sương mù buổi sớm tan đi.


Tống Thế Huyên vừa rời khỏi buổi chầu liền vịn tay tiểu thái giám Khánh Ý thì thầm: “Mau chóng tới Thái Y Viện mời Bách y quan đến đây.”


Khi Khúc Du biết được tin, đình trượng của Châu Đàn vẫn chưa đánh xong.


Tống Thế Huyên khắc kỷ phục lễ, sau khi đăng cơ đã khôi phục lại toàn bộ các lễ chế gần như bị bãi bỏ dưới thời Đức Đế. Trên triều không giết văn quan, trước khi chịu hình phạt phải quỳ trước Chương Đức Môn tụng đọc trọn vẹn một lượt Đại Học · Lễ Ký. 



Do lời dặn “giảm bớt một nửa” của Đức Đế nên tang nghi không tổ chức quá long trọng. Huống hồ, Lệ Vương tiếm quyền sáu tháng đã làm lỡ mất hết thời gian, ngay cả phục tang kỳ* cũng chỉ kéo dài nửa năm.


*Đây là giai đoạn chịu tang, và trong suốt thời gian này, người thân thích sẽ phải tuân thủ một số nghi thức như mặc đồ tang, không tham gia các hoạt động vui chơi,… để thể hiện sự tôn kính và tiếc thương đối với người đã khuất.


Vì lẽ đó, không lâu sau khi đăng cơ, Tống Thế Huyên theo lời can gián của quần thần mà cưới một cô nương thuộc bổn gia của Tô Triều Từ làm Hoàng hậu. Tô thị là danh môn vọng tộc, nữ tử được giáo dưỡng đều là mẫu mực của kinh thành.


Phu the đế hậu hòa thuận, Tống Thế Huyên tuổi trẻ việc nhiều, hiện tại hậu cung ngoài Hoàng hậu ra cũng chỉ nạp thêm một vị phi tần.


Hoàng hậu biết Tống Thế Huyên kính trọng phu thê Châu Đàn nên thường xuyên mời Khúc Du vào cung. Khúc Du cũng rất yêu thích tiểu cô nương này. Hôm nay, nàng vừa khéo nhận được thiếp của Hoàng hậu nên vào cung bái kiến.


Nào ngờ xe vừa đến Đông Môn, nàng đã nghe tin.


Giữa làn sương mù buổi sớm chưa tan, Châu Đàn quỳ trước Chương Đức Môn. Thần tử bãi triều thành nhóm đi ra từ phía bên, mọi người thì thầm to nhỏ, đưa ánh mắt nhìn về phía này, không biết đang bàn luận chuyện gì.


Nàng nghe thấy tiếng chàng.


“Khi mình có sự giận dữ thì lòng sẽ không thể giữ được sự ngay thẳng. Khi mình có sự sợ hãi thì lòng sẽ không thể giữ được sự ngay thẳng. Khi mình có sự ưa thích, vui mừng thì lòng sẽ không thể giữ được sự ngay thẳng. Khi mình có sự lo lắng, ưu phiền thì lòng sẽ không thể giữ được sự ngay thẳng. Nếu tâm trí không đặt nơi đó thì nhìn mà không thấy, dẫu để tai nghe mà chẳng thấy, ăn mà không biết mùi vị — đó gọi là…” (Đoạn trích Đại Học · Lễ Ký)


Nàng muốn tiến lên, nhưng thái giám bên cạnh đã ngăn nàng lại, cúi mày nhún nhường cung kính nói: “Phu nhân là nữ tử, không được vượt qua Trung Môn khi thần tử bãi triều chưa dứt, việc này không hợp quy củ.”


Khúc Du vịn vào cột cửa sơn son bên tay, lẩm bẩm lặp lại: “… Quy củ?”


Nàng không biết mình đã đứng trước ngưỡng cửa bao lâu, cho đến khi nghe thấy một tiếng thở dài bên tai: “Cô nói xem, mọi người đều đã thành nhân vật lớn cả rồi, cớ sao vẫn ngày đêm ôm giữ lối suy nghĩ cũ kỹ, ‘thân bất do kỷ’, ‘bất đắc dĩ nhi vi chi’…?”*


*Thân bất do kỷ: không thể làm chủ chính mình. / Bất đắc dĩ nhi vi chi: không thể không làm.


Khúc Du quay đầu nhìn, phát hiện Bách Ảnh đang đứng bên cạnh nàng.


Bách Ảnh khoác nghiêng hộp thuốc, lắc đầu như mọi khi, tự mình cảm thán: “Chậc, người mà không được tự do thì như hạc trong lồng, muốn bay cao thì cụt cánh, muốn chết cũng chẳng xong.”


Hắn cười rồi quay đầu nhìn nàng: “Khi ta quen cô, thật không ngờ có một ngày, cô cũng sẽ trở thành người tuân thủ khuôn phép đứng đợi sau ngưỡng cửa này.”


Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên
Bạn có thể dùng phím mũi tên trái/phải để lùi/sang chương.
Đánh giá:
Truyện Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên Truyện Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên Story Chương 95: Chầu sớm
10.0/10 từ 11 lượt.
loading...